Pháp luật về bảo hiểm y tế việt nam từ thực tiễn thực hiện tại tỉnh sơn la - Pdf 48

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM Y TẾ VIỆT NAM
TỪ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI TỈNH SƠN LA

LƯƠNG THỊ NHƯ HOA

HÀ NỘI – 2016
i


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ
PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM Y TẾ VIỆT NAM
TỪ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI TỈNH SƠN LA
LƯƠNG THỊ NHƯ HOA

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 60380107

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. NGUYỄN HỮU CHÍ

HÀ NỘI – 2016
ii

Tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn tới toàn thể Thầy giáo, Cô giáo
trong và ngoài khoa đào tạo sau đại học, Viện Đại học Mở Hà Nội, Bảo
hiểm xã hội tỉnh và các ban ngành tỉnh Sơn La cùng những tập thể và cá
nhân đã giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này.
Tôi xin trân trọng cảm ơn !

Hà Nội, năm 2016
TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Lương Thị Như Hoa

iv


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BHYT

: Bảo hiểm y tế

NSNN

: Ngân sách nhà nước

KCB

: Khám, chữa bệnh

HSSV

: Học sinh,sinh viên


: Hoạt động quản lý bảo hiểm y tế

UBND

: Ủy ban nhân dân

BYT

: Bộ y tế

BTC

: Bộ tài chính

TTLT

: Thông tư liên tịch

HĐBT

: Hội đồng bộ trưởng

NĐ-CP

: Nghị định – Chính phủ

KH - UBND

: Kế hoạch- Ủy ban nhân dân

1.5.5. Về phương thức chi trả ..................................................................................... 22
1.6- Kinh nghiệm một số nước về phòng ngừa lạm dụng quỹ BHYT ........................ 22
1.7. Kinh nghiệm một số nước về vai trò của Chính phủ đối với hoạt động BHYT ... 24
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 ........................................................................................ 26
CHƯƠNG 2 . 27 THỰC TRẠNG THI HÀNH PHÁP LUẬT BẢO HIỂM Y TẾ TRÊN
ĐỊA BÀN TỈNH SƠN LA ......................................................................................... 27
2.1- Đặc điểm chung về vị trí địa lý, tự nhiên của tỉnh Sơn La ................................... 27
2.2- Đặc điểm kinh tế- xã hội và dân số ở tỉnh Sơn La ............................................... 28
vi


2.3- Vài nét về Bảo hiểm xã hội tỉnh Sơn La.............................................................. 29
2.3.1. Sự ra đời và phát triển của Bảo hiểm xã hội Sơn La........................................ 29
2.3.2- Quá trình hình thành và phát triển của BHXH tỉnh Sơn La .............................. 30
2.3.3- Cơ cấu tổ chức bộ máy của Bảo hiểm xã hội tỉnh Sơn La ................................ 31
2.4. Pháp luật Việt Nam về Bảo hiểm y tế.................................................................. 32
2.4.1. Đối tượng tham gia BHYT ................................................................................ 32
2.4.2. Thẻ bảo hiểm y tế ............................................................................................. 35
2.4.3. Cấp thẻ bảo hiểm y tế ....................................................................................... 36
2.4.4. Cấp lại thẻ bảo hiểm y tế .................................................................................. 37
2.4.5. Đổi thẻ bảo hiểm y tế........................................................................................ 37
2.4.6. Quyền lợi khi tham gia bảo hiểm y tế ............................................................... 38
2.4.7. Thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế ................................. 42
2.4.8. Quyền và trách nhiệm của các bên liên quan đến bảo hiểm y tế ....................... 43
2.4.9. Quyền và trách nhiệm của tổ chức, cá nhân đóng bảo hiểm y tế ...................... 44
2.4.10. Quyền và trách nhiệm của tổ chức bảo hiểm y tế............................................ 45
2.4.11. Quyền và trách nhiệm của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế. ......... 46
2.4.12. Xử lý vi phạm bảo hiểm y tế............................................................................ 47
2.5- Thực trạng thi hành pháp luật bảo hiểm y tế trên địa bàn tỉnh Sơn La. ................ 48
2.5.1. Thực trạng bao phủ bảo hiểm y tế .................................................................... 48

KẾT LUẬN CHUNG ................................................................................................ 75
TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................................... 76

viii


DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1: Tình hình tham gia BHYT theo hình thức bắt buộc năm 2013 ................... 48
Bảng 2.2: Một số nhóm đối tượng có số người chưa tham gia BHYT cao (năm 2014)
................................................................................................................................... 49
Bảng 2.3: Kết quả phỏng vấn đại diện hộ gia đình ..................................................... 53
Bảng 2.4. Kết quả phỏng vấn sinh viên ...................................................................... 53
Bảng 2.5. Kết quả phỏng vấn người bệnh .................................................................. 54

ix


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Con người muốn tồn tại và phát triển trước hết phải ăn, mặc, ở, v.v… Để
thỏa mãn nhu cầu tối thiểu này, con người phải lao động làm ra những sản phẩm
cần thiết. Của cải xã hội càng nhiều, mức độ thỏa mãn nhu cầu càng cao. Nhưng để
có nhiều của cải, con người phải lao động, phải làm việc nhiều hơn; có nghĩa là việc
thỏa mãn nhu cầu phụ thuộc vào khả năng lao động của con người. Trong thực tế
cuộc sống, không phải người lao động nào cũng có đủ điều kiện về sức khỏe để
hoàn thiện nhiệm vụ lao động, công tác hoặc tạo nên cho mình và gia đình một cuộc
sống ấm no hạnh phúc. Hơn nữa, cuộc sống của loài người trên trái đất phụ thuộc
rất nhiều vào điều kiện tự nhiên và môi trường sống, mà ngày nay, vấn đề ô nhiễm
môi trường đã và đang là vấn đề gây bức xúc, ảnh hưởng trầm trọng đến sức khỏe

Việt Nam. BHYT ở nước ta được xác định là một chính sách an sinh xã hội hướng
tới mục tiêu thực hiện công bằng, hiệu quả và phát triển của ngành y tế. Trên thực
tiễn sau nhiều năm thực hiện chính sách BHYT, Việt Nam đã thu được những kết
quả quan trọng. Nghị quyết Đại hội X của Đảng Cộng sản Việt Nam năm 2011 có
ghi rõ: “Xây dựng hệ thống an sinh xã hội đa dạng; phát triển mạnh hệ thống Bảo
hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế (BHXH, BHYT), tiến tới BHYT toàn dân”.[35,tr.102].
Tỉnh Sơn La là trung tâm văn hóa – xã hội, kinh tế và chính trị của vùng Tây
Bắc, là nơi có nhiều điều kiện thuận lợi cho hoạt động BHYT nói chung và BHYT
bắt buộc nói riêng. Trong bối cảnh Việt Nam đang tích cực tiến hành các hoạt động
tiến tới BHYT toàn dân, em xin chọn đề tài “Pháp luật về bảo hiểm y tế Việt Nam
từ thực tiễn thực hiện tại tỉnh Sơn La” làm đề tài nghiên cứu luận văn của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Hiện nay nước ta tiến hành hình thức đóng BHYT là BHYT bắt buộc tuy
nhiên để thực hiện BHYT toàn dân thì cần ngày càng mở rộng hơn nữa hình thức
BHYT, hay nói cách khác, BHYT chính là một công cụ vĩ mô để tiến tới BHYT
toàn dân mà Đảng và Nhà nước ta đã đề ra. Để thực hiện có kết quả lộ trình BHYT
toàn dân cần có sự đóng góp hiệu quả của nhiều yếu tố, trong đó có vai trò tạo lập
khuôn khổ cho hoạt động này không thể không kể đến pháp luật về BHYT.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2


3.1. Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu và làm rõ nội dung việc thực thi pháp luật Việt Nam về
BHYT trên địa bàn tỉnh Sơn La, từ đó đưa ra những kiến nghị cho việc hoàn thiện
hơn nữa pháp luật về BHYT nói chung trên địa bàn tỉnh Sơn La hướng tới việc thúc
đẩy quá trình BHYT toàn dân ở nước ta.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt mục đích đề ra, đề tài nghiên cứu cần đạt được những yêu cầu sau:
- Làm rõ được một số vấn đề lý luận về pháp luật BHYT, giới thiệu mô hình

hình gần gũi và có điều kiện như Nhật Bản, Hàn quốc, Thái Lan, v.v… để tham
khảo.
Bên cạnh đó, từ việc phân tích, đánh giá và chỉ ra nguyên nhân của việc thực
thi pháp luật Việt Nam về BHYT trên địa bàn tỉnh Sơn La, đề tài đã đề xuất một số
kiến nghị nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật về BHYT tại Việt Nam, qua đó nâng
cao hiệu quả thực thi pháp luật BHYT trên địa bàn tỉnh Sơn La nói riêng và trên cả
nước nói chung.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mục lục, mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ
lục, đề tài có kết cấu gồm 3 chương:
Chương1: Khái quát chung về bảo hiểm y tế
Chương 2: Thực trạng thi hành pháp luật bảo hiểm y tế trên địa bàn tỉnh Sơn La.
Chương 3: Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm y tế từ thực
tiễn địa bàn tỉnh Sơn La.

4


CHƯƠNG 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BẢO HIỂM Y TẾ

1- Một số vấn đề chung về bảo hiểm y tế
1.1. Khái niệm Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế
Hiện nay có nhiều cách khác nhau về hoạt động bảo hiểm. Trong đó theo
định nghĩa trong Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn Ngữ học (2005) do Nhà xuất
bản Đà Nẵng và Trung tâm Từ điển học ấn hành trang 39 có định nghĩa về bảo
hiểm như sau: 1. Giữ gìn để phòng ngừa tai nạn. Đeo dây bảo hiểm, mặc quần áo
bảo hiểm,v.v… 2. Bảo đảm bằng hợp đồng trả khoản tiền thỏa thuận khi có tai nạn,
rủi ro nhất định xảy ra đến cho người được bảo hiểm (người được bảo hiểm phải
đóng món tiền nhất định). Bảo hiểm tính mạng (trả khoản tiền thỏa thuận cho gia

rủi ro về sức khỏe của người tham gia. Như vậy, về bản chất, BHYT là một hình
thức chia sẻ rủi ro giữa người giàu và người nghèo, giữa người ốm đau bệnh tật và
người khỏe mạnh [30].
BHYT bao gồm: BHYT tư nhân và BHYT xã hội được hiểu như sau:
BHYT tư nhân là hình thức bảo hiểm được áp dụng trong lĩnh vực chăm sóc
sức khỏe một cách tự nguyện, nằm ngoài hệ thống quản lý an ninh xã hội với phí
bảo hiểm được quy định bởi cộng đồng hoặc mức độ rủi ro bệnh tật, được điều
hành bởi tổ chức, cá nhân, quỹ, công ty, hoạt động chủ yếu vì lợi nhuận [24]. Ở các
nước phát triển BHYT xã hội thường là một tổ chức nhà nước giúp đỡ người dân
chi trả các y tế nguồn kinh phí được trích từ thuế hoặc mức đóng góp từ người lao
động [29].
BHYT xã hội là hình thức bảo hiểm được áp dụng trong lĩnh vực chăm sóc
sức khỏe, do chủ lao động và người lao động đóng góp, được Nhà nước bao cấp
một phần, mức đóng góp không liên quan đến mức ốm đau, nhằm trợ giúp các
thành viên tham gia khi họ không may gặp rủi ro, đau ốm cần phải khám và điều
trị. BHYT xã hội đề cao tính cộng đồng xã hội, không mang tính kinh doanh, vì lợi
nhuận [29]. BHYT xã hội do Nhà nước tổ chức thực hiện phân biệt với BHYT tư
nhân vì mục đích lợi nhuận do các doanh nghiệp BHYT thương mại tiến hành.
Trên cơ sở các khái niệm về BHYT tư nhân và BHYT xã hội tác giả đưa ra bảng
phân tích so sánh như sau:
6


Sự khác nhau giữa BHYT xã hội và BHYT tư nhân [28]
Tiêu chí

BHYT xã hội

BHYT tư nhân


tiêu Vì chính sách xã hội, không Hầu hết là kinh doanh, hoạt động

hoạt động

kinh doanh vì lợi nhuận

vì mục tiêu lợi nhuận

Ở nước ta, Luật BHYT sửa đổi bổ sung năm 2014 quy định: Bảo hiểm y tế
là hình thức bảo hiểm bắt buộc được áp dụng đối với các đối tượng theo quy định
của Luật này để chăm sóc sức khỏe, không vì mục đích lợi nhuận do Nhà nước tổ
chức thực hiện [17]. Do vậy BHYT ở Việt Nam là BHYT xã hội.
Trên cơ sở Luật Bảo hiểm Y tế cũng như các định nghĩa của các nhà khoa
học, các tổ chức trong và ngoài nước theo tác giả luận văn BHYT được hiểu là: Các
thành viên đóng góp vào một quỹ chung và quỹ này dùng để thanh toán toàn bộ
hoặc một phần theo gói dịch vụ đã được xác định trước. Mức phí theo khả năng
đóng góp tự nguyện hoặc theo quy định bắt buộc trong Luật Bảo hiểm Y tế hay các
văn bản luật khác. Mức phí này không được định trên yếu tố rủi ro về sức khỏe của
người tham gia tạo thành một quỹ đặt dưới sự quản lý của chủ thể là Nhà nước.
Được chi trả theo nguyên tắc chia sẻ rủi ro của tất cả những người tham gia.

1.2. Sự cần thiết khách quan và vai trò của BHYT

7


Trong cuộc sống cũng như trong quá trình lao động, con người luôn phải
chịu ảnh hưởng và chịu sự tác động của môi trường xung quanh. Trong thời đại
công nghiệp hóa, hiện địa hóa ngày nay, loài người lại chịu ảnh hưởng của những
thứ do chính mình gây ra, đó là sự ô nhiễm môi trường sinh thái do chất thải từ khu

cộng đồng xã hội. Khi xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu này ngày càng tăng
lên. Bất kỳ ai cũng có quyền sống một cuộc sống khỏe mạnh, ai cũng có quyền
hưởng những thành tựu mà y học đạt được trong lĩnh vực chăm sóc và bảo vệ sức
khỏe con người nhưng không phải ai cũng đủ khả năng về kinh tế để chi trả cho các
dịch vụ kỹ thuật y học đó. Khi một người ốm, gắnh nặng đặt lên vai họ bao gồm
đau đớn, chi phí trả cho các dịch vụ khám chữa bệnh, chi phí cho đi lại, ăn uống khi
nằm viện, v.v... Bên cạnh đó, chi phí khám chữa bệnh tăng lên rất nhiều. Đặc biệt,
ngày nay y học đã phát triển mạnh mẽ, nhiều loại thuốc đặc trị ra đời, nên việc
chăm sóc sức khỏe và chữa bện ngày càng đắt đỏ. Tình trạng này làm cho một bộ
phận lớn dân cư không có khả năng chi trả khi ốm đau, bệnh tật, buộc phải có sự hỗ
trợ của BHYT.
Mặt khác khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, dịch vụ khám chữa bệnh
thường đắt đỏ, có thể nói là cao nhất trong tất cả các dịch vụ xã hội. Khi không may
bị ốm đau bệnh tật bất ngờ, đại đa số người dân không đủ khả năng tài chính để bảo
vệ sức khỏe của mình cũng như gia đình. Điều này dẫn đến sự cần thiết phải có một
giải pháp để giải quyết vấn đề trên và BHYT ra đời trên cơ sở đó.
Ở nước ta đã có một thời gian dài, Nhà nước dùng tiền từ ngân sách để lo
việc chữa bệnh cho nhân dân. Đến nay khả năng đó rất hạn chế vì nhu cầu chữa
bệnh ngày càng tăng, chi phí y tế ngày cằng đắt, trong khi đó cơ sở vật chất ngành y
tế ngày càng giảm sút, cần phải sửa chữa cũng như cần có thêm các phương tiện để
điều trị hữu hiệu.
Từ những vấn đề trên, BHYT ra đời là tối cần thiết vì nó đáp ứng được
nguyện vọng của đại đa số người dân trong xã hội nói chung và của người dân Sơn
La nói riêng.
Bảo hiểm y tế (BHYT) là một chính sách xã hội do nhà nước tổ chức thực
hiện, nhằm huy động sự đóng góp của người sử dụng lao động, người lao động, các
tổ chức và cá nhân có nhu cầu được bảo hiểm, từ đó hình thành nên một quỹ và quỹ
này sẽ được dùng để chi trả phí khám chữa bệnh, khi một con người (cá nhân) nào
đó không may mắc phải bệnh tật mà họ có tham gia BHYT. BHYT là một hình thức
9

hợp họ gặp vấn đề về sức khỏe, khiến họ yên tâm lao động sản xuất tạo ra của cải

10


vật chất cho chính bản thân họ và sau đó là cho xã hội, góp phần đẩy mạnh sự phát
triển của xã hội.
Thứ tư, BHYT còn góp phần giáo dục cho mọi người dân trong xã hội về
tính nhân đạo theo phương châm:”lá lành đùm lá rách”, đặc biệt là giúp giáo dục
cho trẻ em ngay từ khi còn nhỏ tuổi về tính cộng đồng thông qua loại hình BHYT
dành cho học sinh- sinh viên. Bên cạnh đó, với đối tượng người có công với cách
mạng, cưu chiến binh, người tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước, BHYT
cũng là biểu hiện sự ghi nhận công ơn của xã hội đối với các vị này, BHYT của
những đối tượng này là nhằm bảo vệ quyền được KCB của họ và trách nhiệm đó
thuộc về NSNN
Thứ năm, BHYT còn có tác dụng góp phần giảm nhẹ gánh nặng cho ngân
sách Nhà nước. Hiện nay tại Việt Nam kinh phí cho y tế được cấu thành chủ yếu từ
4 nguồn:
-

Từ ngân sách Nhà nước.

-

Từ quỹ BHYT.

-

Thu một phần viện phí và dịch vụ y tế.


khám chữa bệnh sẽ được sắp xếp lại, sẽ không còn phân tuyến theo địa giới hành
chính một cách máy móc, mà phân theo tuyến kỹ thuật, đảm bảo thuận lợi cho
người bệnh, tạo điều kiện cho họ lựa chọn cơ sở điều trị có chất lượng phù hợp.
- BHYT ra đời đòi hỏi người được sử dụng dịch vụ y tế và người cung cấp
dịch vụ này phải biết rõ chi phí của một lần khám chữa bệnh đã hợp lý chưa, chi phí
cho quá trình vận hành bộ máy của khu vực khám chữa đã đảm bảo chưa, những chi
phí đó phải được hạch toán và quỹ bảo hiểm phải được trang trải, thông qua tình
hình đó đòi hỏi cơ chế quản lý của ngành y tế phải đổi mới, để tạo ra chất lượng
mới trong dịch vụ y tế.
Như vậy, BHYT không những giúp cho người tham gia BHYT khắc phục
khó khăn về kinh tế khi rủi ro ốm đau xảy ra, mà còn giảm bớt gánh nặng cho ngân
sách Nhà nước, góp phần đổi mới cơ chế quản lý, nâng cao chất lượng và công bằng
trong khám chữa bệnh.
1.3. Chính sách bảo hiểm y tế toàn dân ở nước ta hiện nay
1.3.1. Khái quát chung về bảo hiểm y tế toàn dân
Cho đến nay, Luật Bảo hiểm y tế và các văn bản pháp luật khác về BHYT
chưa đề cập đến khái niệm BHYT toàn dân cho nên chưa có cách hiểu thống nhất
về BHYT toàn dân, trong đó có một số cách hiểu như sau:
BHYT toàn dân là chế độ bảo hiểm y tế mà toàn dân phải tham gia đóng BHYT như
một nghĩa vụ công dân.
12


BHYT toàn dân là chế độ BHYT mà Nhà nước có cơ chế khuyến khích toàn
dân tham gia tự nguyện đóng BHYT hoặc hỗ trợ toàn dân tham gia BHYT.
Luận văn này sử dụng cách tiếp cận của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) về BHYT
toàn dân theo đó, khái niệm “bao phủ chăm sóc sức khỏe toàn dân” hay “bao phủ
bảo hiểm y tế toàn dân” được tiếp cận đầy đủ trên ba phương diện về bao phủ chăm
sóc sức khỏe toàn dân bao gồm: Bao phủ về dân số, tức là tỷ lệ dân số tham gia
BHYT; Bao phủ gói quyền lợi về BHYT, tức là phạm vi dịch vụ y tế được bảo đảm;

đã tham gia BHYT đạt tỷ lệ 100%; mở rộng các nhóm đối tượng để đến 2015 đạt tỷ
lệ ít nhất 75% dân số tham gia BHYT, đến năm 2020 có trên 80% dân số tham gia
BHYT.
+ Nâng cao chất lượng khám chữa bệnh BHYT, bảo đảm quyền lợi của
người tham gia BHYT theo quy định của pháp luật, đáp ứng nhu cầu khám chữa
bệnh của người tham gia BHYT.
+ Từng bước đổi mới cơ chế tài chính theo hướng đầu tư trực tiếp cho người
thụ hưởng dịch vụ y tế thông qua hình thức hỗ trợ tham gia BHYT, bảo đảm cân đối
thu chi quỹ BHYT, phấn đấu giảm tỷ lệ chi tiêu y tế trực tiếp từ tiền túi của hộ gia
đình xuống dưới 40% vào năm 2020.
1.4. Kinh nghiệm một số nước trong việc thực hiện bảo hiểm y tế
Hệ thống bảo hiểm y tế ở các nước có nhiều điểm khác nhau, nhưng nói
chung, nó đều nhằm mục đích là đảm bảo cho người dân trong mọi hoàn cảnh đều
có thể có những phương tiện cần thiết trong lĩnh vực chăm sóc y tế để tồn tại trong
những điều kiện chấp nhận được. Nhà nước đặt ra một mức sống tối thiểu nhất định,
nếu khả năng của công dân không đạt được mức đó, Nhà nước sẽ hỗ trợ để công
dân có quyền được sống với đúng phẩm giá con người và không phải lo sợ về một
tương lai bấp bênh, mờ mịt. Xét về mục đích của BHYT, đa số các nước cho rằng:
-Huy động nguồn lực một cách ổn định và công bằng, đủ để cung ứng các
dịch vụ cơ bản cho người dân và bảo vệ người dân khỏi các rủi ro về tài chính khi
ốm đau. Mục đích này đòi hỏi chính phủ phải xác định mọi hình thức thích hợp đối
với lượng quỹ dôi dư và quỹ dự phòng. Đây là điều cần thiết bởi nếu để tự thân, các
quỹ luôn chỉ muốn tăng ngân quỹ kết dư. Thái Lan là một ví dụ, khi ngân quỹ kết
dư tăng cao và những người quản lý mang ngân quỹ đi đầu tư chỗ khác để kiếm lợi
khiến mang tiếng xấu, mất uy tín.
- Quản lý nguồn lực để chia sẻ rủi ro một cách công bằng với hiệu suất cao.
Để thực hiện điều này cần có cơ chế tái phân bố điều hòa chi phí phát sinh để tránh
tình trạng vùng nghèo bao cấp ngược lại cho vùng giàu do cơ chế, ngân quỹ đổ về

14

tại các nước Pháp, Áo, Bỉ, Hà Lan, Thụy Sỹ, Nhật Bản và các nước Đông Âu. Đa số

15


các nước phát triển đều chọn BHYT là một giải pháp quan trọng về tài chính y tế để
thực hiện chăm sóc sức khỏe công bằng và hiệu quả.
1.3.2. BHYT ở một số nước trên thế giới
- Nhật Bản:
Ở nhiều nước đã thực hiện chế độ bảo hiểm y tế. Nhật Bản là quốc gia có hệ
thống pháp luật về bảo hiểm y tế từ rất sớm và có bề dày phát triển. Luật bảo hiểm
y tế của Nhật Bản ban hành năm 1922, là quốc gia châu Á đầu tiên ban hành luật
bảo hiểm y tế. Tiếp theo đó năm 1938 ban hành Luật bảo hiểm y tế quốc gia, năm
1939 ban hành luật BHYT cho người lao động, luật BHYT cho ngư dân và đến năm
1961, Nhật Bản thực hiện BHYT cho toàn dân.
Đối tượng tham gia bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật Nhật Bản rất
rộng, bao gồm những người làm công ăn lương, lao động tự do, nông dân và người
không có nghề nghiệp. Tuy nhiên, pháp luật bảo hiểm y tế có những quy định phù
hợp dành riêng cho từng đối tượng. BHYT cho người lao động được thực hiện theo
nơi làm việc. BHYT quốc gia được hiện hiện theo vị trí địa lý.
- Hàn Quốc
Ở Hàn Quốc, Luật BHYT toàn dân được ban hành năm 1977. Mức đóng BHYT
tính theo thu nhập hoặc tài sản cố định. Thông thường người lao động đóng từ 2-8% thu
nhập; công chức đóng 4,2% thu nhập, Chính phủ cùng nộp 4,2%. Còn đối với lao động tự
do, mức đóng được tính theo mức xếp loại thu nhập hoặc tài sản cố định. Ngân sách Nhà
nước hỗ trợ 30% mức phí nhằm mục đích đảm bảo chi phí quản lý.
Vào những năm 1950, ngay sau khi hết chiến tranh, mặc dù ở thời điểm cực
kỳ khó khăn song Chính phủ Hàn Quốc xác định càng khó khăn càng sớm phải thực
hiện BHYT toàn dân để mọi người có hể chia sẻ cho nhau lúc khó khăn nhất là lúc
ốm đau, bệnh tật. Hàn Quốc có 48 triệu dân, chi phí cho y tế là 6%/GDP. Hàn Quốc


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status