Sinh viên : Trương Thị Thu Khuyên
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
KHOA DU LỊCH
Họ và tên : Trương Thị Thu Khuyên – K20QT
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆ
NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH (DU LỊCH)
MÃ NGÀNH: 52340101
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ DU LỊCH, KHÁCH SẠN
K20QT : 2015 - 2016
HÀ NỘI, 5 – 2016
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
KHOA DU LỊCH
Họ và tên : Trương Thị Thu Khuyên – K20QT
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Đề tài:
NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG SẢN PHẨM DU LỊCH
thấy đƣợc. Vì vậy, tôi rất mong nhận đƣợc những ý kiến đóng góp của thầy cô và các
bạn để đề tài đƣợc hoàn thiện hơn.
Kính chúc quý thầy cô và các bạn sức khỏe, thành công và hạnh phúc!
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên tốt nghiệp
Trƣơng Thị Thu Khuyên
Sinh viên: Trương Thị Thu Khuyên – Lớp A1K20
Viện Đại học Mở Hà Nội – Khoa Du Lịch
VIỆN ĐH MỞ HÀ NỘI
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
KHOA DU LỊCH
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
------***------
----------------------------------
NHIỆM VỤ THIẾT KẾ KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
Họ và tên : Trƣơng Thị Thu Khuyên
Lớp - Khoá : A1K20
ĐT : 0976 584 501
Tiểu kết chƣơng 1
Chƣơng 2. Thực trạng phát triển du lịch và sản phẩm du lịch
đặc thù tại làng cổ Đƣờng Lâm
Khái quát về làng cổ Đƣờng Lâm
Thực trạng hoạt động du lịch tại làng cổ Đƣờng Lâm
Sinh viên: Trương Thị Thu Khuyên – Lớp A1K20
Viện Đại học Mở Hà Nội – Khoa Du Lịch
Đánh giá những yếu tố ảnh hƣởng đến việc phát triển các sản phẩm du lịch
tại làng cổ Đƣờng Lâm
Đánh giá thực trạng phát triển sản phẩm du lịch tại làng cổ Đƣờng Lâm
Nhận xét, đánh giá chung về phát triển sản phẩm du lịch hiện tại của làng
cổ Đƣờng Lâm
Tiểu kết chƣơng 2
Chƣơng 3. Đề xuất giải pháp nhằm xây dựng sản phẩm du lịch
đặc thù tại làng cổ Đƣờng Lâm
Định hƣớng phát triển du lịch tại làng cổ Đƣờng Lâm
Đề xuất thiết kế sản phẩm du lịch cụ thể
Giải pháp phát triển sản phẩm du lịch đặc thù tại làng cổ Đƣờng Lâm
Tiểu kết chƣơng 3
Kết luận và khuyến nghị
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
4. Giáo viên hƣớng dẫn (toàn phần)
: TS. Đào Duy Tuấn
5. Ngày giao nhiệm vụ Khoá luận tốt nghiệp
3.
Đối tƣợng nghiên cứu ............................................................................................3
4.
Phạm vi nghiên cứu: thời gian, không gian...........................................................3
5.
Phƣơng pháp nghiên cứu .......................................................................................3
6.
Kết cấu của khóa luận ...........................................................................................3
PHẦN NỘI DUNG KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ........................................................4
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SẢN PHẨM DU LỊCH ĐẶC THÙ VÀ TỔNG
QUAN VỀ LÀNG CỔ ĐƢỜNG LÂM ...........................................................................4
1.1. Những khái niệm cơ bản về du lịch.......................................................................4
1.1.1.
Khái niệm về du lịch ...................................................................................4
1.1.2.
Khái niệm về khách du lịch .........................................................................5
1.2. Sản phẩm du lịch ...................................................................................................7
1.2.1.
Viện Đại học Mở Hà Nội – Khoa Du Lịch
2.1. Khái quát về làng cổ Đƣờng Lâm .......................................................................19
2.1.1.
Khái quát chung ........................................................................................19
2.1.2.
Tài nguyên du lịch tự nhiên ......................................................................19
2.1.3.
Tài nguyên văn hóa vật thể .......................................................................21
2.1.4.
Tài nguyên văn hóa phi vật thể .................................................................27
2.1.5.
Giá trị của di sản văn hóa làng Việt cổ Đƣờng Lâm .................................29
2.2. Thực trạng hoạt động du lịch tại làng cổ Đƣờng Lâm ........................................32
2.2.1.
Lƣợng khách..............................................................................................32
2.2.2.
Doanh thu ..................................................................................................33
Thị trƣờng khách du lịch ...........................................................................42
2.5. Nhận xét, đánh giá chung về phát triển sản phẩm du lịch hiện tại của làng cổ
Đƣờng Lâm ..................................................................................................................44
2.5.1.
Ƣu điểm .....................................................................................................44
2.5.2.
Hạn chế và nguyên nhân ...........................................................................45
TIỂU KẾT CHƢƠNG 2 ..............................................................................................47
CHƢƠNG 3. ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NHẰM XÂY DỰNG SẢN PHẨM ĐẶC THÙ
TẠI LÀNG CỔ ĐƢỜNG LÂM. ...................................................................................48
3.1. Định hƣớng phát triển du lịch tại làng cổ Đƣờng Lâm .......................................48
Sinh viên: Trương Thị Thu Khuyên – Lớp A1K20
Viện Đại học Mở Hà Nội – Khoa Du Lịch
3.2. Đề xuất thiết kế sản phẩm du lịch cụ thể.............................................................49
3.2.1.
Thực hiện cung cấp sản phẩm ...................................................................49
3.2.2.
Những điểm thu hút du lịch cụ thể ............................................................51
3.2.3.
Viện Đại học Mở Hà Nội – Khoa Du Lịch
PHẦN MỞ ĐẦU
1.
Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, khi đời sống vật chất của con ngƣời ngày càng đƣợc nâng cao thì
nhu cầu thoả mãn đời sống tinh thần của con ngƣời cũng trở nên quan trọng. Vì vậy,
du lịch trở thành một hiện tƣợng kinh tế xã hội phổ biến, một trong những lĩnh vực
kinh tế chủ chốt, “ngành kinh tế quan trọng” trong nền kinh tế của nhiều quốc gia trên
thế giới, trong đó có Việt Nam.
Việt Nam là một đất nƣớc không chỉ có nguồn tài nguyên du lịch hết sức phong
phú mà bên cạnh đó còn là những giá trị lịch sử - văn hoá truyền thống đặc sắc của dân
tộc. Trong những năm gần đây, ngành du lịch Việt Nam đang có những bƣớc tiến rõ rệt
với các loại hình du lịch đa dạng, phong phú nhƣ: du lịch tham quan, du lịch biển, du
lịch văn hóa, du lịch hội nghị - hội thảo, du lịch sinh thái, du lịch tín ngƣỡng - tâm linh...
Trong đó, loại hình du lịch văn hóa truyền thống đang ngày càng đƣợc quan tâm nhiều
hơn bởi rất nhiều du khách trong và ngoài nƣớc. Đến với loại hình du lịch văn hóa, du
khách sẽ đƣợc thỏa mãn nhu cầu đƣợc khám phá, tìm hiểu và trải nghiệm những giá trị
truyền thống của dân tộc mình cũng nhƣ của các dân tộc trên thế giới, đặc biệt là các
làng quê đặc trƣng cho nền văn hóa của một quốc gia hay một vùng nào đó.
Những năm gần đây, làng cổ Đƣờng Lâm cũng theo xu hƣớng đó mà trở thành
một điểm đến du lịch đặc biệt hấp dẫn. Nằm cạnh quốc lộ 32, cách trung tâm thủ đô
Hà Nội khoảng 50km về phía Tây, làng cổ Đƣờng Lâm thuộc thị xã Sơn Tây, thành
phố Hà Nội, mang những giá trị đặc trƣng của một làng Việt cổ ở vùng châu thổ sông
Hồng. Đƣờng Lâm thu hút du khách bởi những nếp nhà cổ kính và không gian văn hóa
của một làng Việt xƣa có sức sống trƣờng tồn theo năm tháng. Không gian văn hóa
góp vào việc giúp cho làng cổ Đƣờng Lâm có đƣợc những sản phẩm du lịch độc đáo,
thu hút đƣợc nhiều khách du lịch, đóng góp vào sự phát triển du lịch của vùng và của
đất nƣớc.
2.
Mục đích nghiên cứu của đề tài
Đề tài “Nghiên cứu xây dựng sản phẩm du lịch đặc thù tại làng cổ Đƣờng Lâm”
đƣợc thực hiện nhằm mục đích:
- Tổng quan những vấn đề lý luận cơ bản về sản phẩm du lịch đặc thù
- Nghiên cứu, tìm hiểu những giá trị du lịch, đánh giá tình hình hoạt động du
lịch tại làng cổ Đƣờng Lâm.
- Đề xuất xây dựng sản phẩm du lịch đặc thù và các giải pháp phát triển sản
phẩm du lịch, góp phần vào sự phát triển du lịch của thị xã Sơn Tây.
Sinh viên: Trương Thị Thu Khuyên – Lớp A1K20
2
Viện Đại học Mở Hà Nội – Khoa Du Lịch
3.
Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu chính của đề tài là những vấn đề lí luận thực tiễn để xây
dựng sản phẩm du lịch đặc thù cho điểm đến du lịch - Làng Việt cổ ở xã Đƣờng Lâm.
Đề tài tập trung đánh giá các vấn đề về tình hình hoạt động và thực trạng phát triển du
lịch tại đây, bên cạnh đó là đánh giá hệ thống các di tích lịch sử, các cơ sở lƣu trú, cơ
sở ăn uống, cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật, dịch vụ bổ sung phục vụ cho hoạt
động du lịch quanh khu vực làng cổ.
du lịch đặc thù tại làng Việt cổ Đường Lâm.
Sinh viên: Trương Thị Thu Khuyên – Lớp A1K20
3
Viện Đại học Mở Hà Nội – Khoa Du Lịch
PHẦN NỘI DUNG KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SẢN PHẨM DU LỊCH ĐẶC THÙ VÀ
TỔNG QUAN VỀ LÀNG CỔ ĐƢỜNG LÂM
1.1.
Những khái niệm cơ bản về du lịch
1.1.1. Khái niệm về du lịch
Từ xa xƣa trong lịch sử nhân loại, du lịch đã đƣợc ghi nhận nhƣ một sở thích,
một hoạt động nghỉ ngơi tích cực của con ngƣời. Trƣớc thế kỷ 19, du lịch chỉ là một
hiện tƣợng lẻ tẻ của một ít ngƣời thuộc tầng lớp thƣợng lƣu. Đến thế kỷ 20, khách du
lịch vẫn tự lo cho việc đi lại và ăn ở của mình vì lúc đó du lịch chƣa đƣợc coi là đối
tƣợng kinh doanh của nền kinh tế. Ngƣời ta coi du lịch là một hiện tƣợng nhân văn
nhằm đáp ứng nhu cầu nhận thức và giải trí của con ngƣời.
Ngày nay du lịch đã trở thành một hiện tƣợng kinh tế xã hội phổ biến, ngành du
lịch đƣợc coi là “con gà đẻ trứng vàng” trong các ngành kinh tế dịch vụ không chỉ ở
các nƣớc kinh tế phát triển mà còn cả các nƣớc đang phát triển, trong đó có Việt Nam.
Trong xu hƣớng phát triển, du lịch ngày càng đƣợc coi trọng trong cán cân kinh tế của
các quốc gia trên thế giới. Du lịch không còn là một hiện tƣợng riêng lẻ, đặc quyền của
một cá nhân hay một nhóm ngƣời, mà du lịch đã trở thành một nhu cầu phổ biến đáp
ứng mục tiêu không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho con ngƣời. Tuy
nhiên, du lịch là một sản phẩm đƣợc tạo ra bởi sự tƣơng tác của rất nhiều ngành và các
bên liên quan nên khái niệm du lịch dƣới các góc độ nghiên cứu khác nhau cũng sẽ có
1.1.2. Khái niệm về khách du lịch
Khách du lịch là một thuật ngữ linh hoạt, một khái niệm mở phụ thuộc vào
quan điểm chủ quan. Nhìn chung, khách du lịch đƣợc dùng để chỉ những ngƣời đi du
lịch. Theo Weaver và Lawton, để trở thành khách du lịch, một ngƣời phải đáp ứng
đƣợc các tiêu chuẩn xét về ba khía cạnh: không gian hay phạm vi địa lý du lịch, thời
gian du lịch, mục đích hay động cơ du lịch.
Theo Weaver và Lawton, con ngƣời phải đi ra khỏi nhà mình thì mới đƣợc coi
là khách du lịch. Tuy nhiên, những đối tƣợng này không phải lúc nào cũng luôn đƣợc
xem là du khách. Tổ chức Du lịch Thế giới và những tổ chức du lịch lớn khác cho rằng
một du khách phải đi ra ngoài “môi trƣờng quen thuộc” của mình. Điều này có nghĩa
là phải đi đến một nơi không phải nơi ở, nơi làm việc, nơi thƣờng đi lại để thực hiện
các hoạt động thƣờng nhật. Một số tổ chức đặt ra những khoảng cách cụ thể để xác
định đối tƣợng nào là du khách bởi điều này quan trọng đối với mục tiêu nghiên cứu
và thống kê của họ.
Sinh viên: Trương Thị Thu Khuyên – Lớp A1K20
5
Viện Đại học Mở Hà Nội – Khoa Du Lịch
Khách du lịch đƣợc phân loại theo khu vực địa lý gồm khách du lịch nội địa và
khách du lịch quốc tế.
- Khái niệm khách du lịch quốc tế, từ năm 1937, Ủy ban Thống kê của Liên
hiệp quốc đƣợc định nghĩa nhƣ sau: “Du khách quốc tế là những ngƣời thăm viếng
một quốc gia ngoài quốc gia đang cƣ trú thƣờng xuyên của mình trong thời gian ít nhất
24 giờ”. Theo Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO): “Khách du lịch quốc tế là một
ngƣời lƣu trú ít nhất một đêm nhƣng không quá một năm tại một quốc gia khác với
quốc gia cƣ trú thƣờng xuyên với nhiều mục đích khác nhau ngoài việc hành nghề để
nhận thu nhập ở nơi đến”.
- Đối với khách du lịch nội địa, Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO) đƣa ra
động cơ này thuộc về nhóm động cơ nghỉ ngơi và giải trí, nhƣng thực tế cho thấy
khách du lịch có những chuyến đi đa mục đích và vì vậy có thể bao gồm hơn một
nhóm các động cơ kể trên.
Ở Việt Nam, khái niệm khách du lịch đƣợc quy định tại Luật Du lịch Việt Nam
nhƣ sau: “khách du lịch là ngƣời đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trƣờng hợp đi
học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến”. Khách du lịch bao gồm
khách du lịch quốc tế và khách du lịch nội địa:
- Khách du lịch quốc tế là ngƣời nƣớc ngoài, ngƣời Việt Nam định cƣ ở nƣớc
ngoài vào Việt Nam du lịch và công dân Việt Nam, ngƣời nƣớc ngoài cƣ trú tại Việt
Nam ra nƣớc ngoài du lịch. Khách du lịch quốc tế bao gồm khách du lịch vào Việt
Nam (khách inbound) và khách du lịch ra nƣớc ngoài (khách outbound).
- Khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam và ngƣời nƣớc ngoài cƣ trú tại
Việt Nam đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam.
1.2.
Sản phẩm du lịch
1.2.1. Khái niệm về sản phẩm, sản phẩm du lịch
Sản phẩm là một thuật ngữ rất rộng bao hàm tất cả những gì dành cho khách
hàng, là bất cứ thứ gì có thể đƣa ra thị trƣờng làm thỏa mãn nhu cầu hay ƣớc muốn của
khách hàng vì sự hấp dẫn, có ích, có khả năng sử dụng hay tiêu thụ. Sản phẩm bao
gồm những thứ ở thể vật chất và cả những ý tƣởng.
Trong lĩnh vực du lịch, sản phẩm du lịch là dạng sản phẩm nhằm thoả mãn nhu
cầu du lịch của con ngƣời. Trong đó, nhu cầu du lịch là sự mong muốn của con ngƣời
đi đến một nơi khác với nơi ở của mình để có đƣợc những xúc cảm mới, trải nghiệm
mới, hiểu biết mới, để phát triển các mối quan hệ xã hội, phục hồi sức khoẻ, tạo sự
thoải mái dễ chịu về tinh thần.
Theo nghĩa rộng: Từ góc độ thỏa mãn chung của sản phẩm du lịch, sản phẩm
du lịch là sự kết hợp các dịch vụ hàng hóa cung cấp cho du khách, đƣợc tạo nên bởi sự
kết hợp của việc khai thác các yếu tố tự nhiên, xã hội với việc sử dụng các nguồn lực:
Từ khái niệm trên, chúng ta có thể thấy hai thành tố chính để tạo nên sản phẩm
du lịch đó là yếu tố vô hình (các dịch vụ) và yếu tố hữu hình (hàng hóa). Hàng hóa ở
đây là tài nguyên du lịch bao gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch
nhân văn. Các dịch vụ gồm vận chuyển, lƣu trú, ăn uống, vui chơi giải trí và tất cả
những gì có thể thu hút đƣợc du khách. Nhƣ vậy, điểm đến bán những trải nghiệm có
đƣợc nhờ việc sử dụng kết hợp các yếu tố kể trên chứ không phải bán một sản phẩm
Sinh viên: Trương Thị Thu Khuyên – Lớp A1K20
8
Viện Đại học Mở Hà Nội – Khoa Du Lịch
hữu hình. Để có thể thu hút khách đến với điểm đến thì doanh nghiệp phải tạo ra sản
phẩm du lịch độc đáo, khác biệt. Và các doanh nghiệp kinh doanh du lịch muốn có
đƣợc sản phẩm du lịch độc đáo, khác biệt thì phải dựa trên cơ sở đầu tiên, quan trọng
nhất đó là điểm đến có tài nguyên du lịch hay không. Dựa trên tài nguyên du lịch đặc
trƣng của từng nơi, các doanh nghiệp sẽ triển khai các dịch vụ và hàng hóa cụ thể, phù
hợp để có thể thỏa mãn tốt nhất nhu cầu của khách du lịch.
1.2.3. Đặc điểm của sản phẩm du lịch
Nhƣ đã nói ở trên, sản phẩm du lịch bao gồm những sản phẩm hữu hình
(hàng hóa) và những sản phẩm vô hình (dịch vụ), trong đó bộ phận dịch vụ chiếm tỉ
trọng cao. Vì thế sản phẩm du lịch mang những đặc điểm của dịch vụ.
Tính vô hình: Du lịch là ngành dịch vụ và sản phẩm du lịch tồn tại ở dạng vô
hình. Thực ra nó là một kinh nghiệm du lịch hơn là một món hàng cụ thể, mặc dù
trong cấu thành sản phẩm du lịch có hàng hóa. Sản phẩm du lịch là không cụ thể, do
đó không thể đặt ra vấn đề nhãn hiệu nhƣ hàng hóa và cũng vì vậy mà sản phẩm du
lịch rất dễ bị bắt chƣớc, cụ thể là ngƣời ta có thể dễ dàng sao chép những chƣơng trình
du lịch, bắt chƣớc cách bài trí phòng đón tiếp hay qui trình phục vụ đã đƣợc nghiên
cứu công phu. Mặt khác, do tính chất không cụ thể nên ngƣời tiêu dùng không thể nhìn
thấy sản phẩm du lịch cũng nhƣ không thể sử dụng các chỉ số để mô tả, kiểm tra hay
mùa cao điểm, làm sao để giải quyết mọi vấn đề về lao động, doanh thu, sử dụng hiệu
quả cơ sở vật chất vào mùa thấp điểm.
Ngoài ra, sản phẩm du lịch còn mang những đặc điểm nhƣ tính không chuyển
đổi quyền sở hữu và tính không thể di chuyển. Đối với sản phẩm du lịch, du khách
không có quyền sở hữu sản phẩm mình mua, chỉ có quyền sử dụng sản phẩm trong
những điều kiện cụ thể. Bên cạnh đó, không giống các sản phẩm tồn tại ở dạng vật
chất, sản phẩm du lịch không có khả năng di chuyển đến nơi tiêu thụ. Ngƣời tiêu dùng
phải di chuyển để tiêu dùng sản phẩm du lịch.
1.3. Sản phẩm du lịch đặc thù
1.3.1. Khái niệm sản phẩm du lịch đặc thù
Năng lực cạnh tranh của một điểm đến du lịch phụ thuộc vào nhiều yếu tố, tuy
nhiên với tƣ cách là một ngành kinh tế, yếu tố quan trọng nhất quyết định tính cạnh
tranh của điểm đến là sản phẩm du lịch. Tính hấp dẫn của một sản phẩm du lịch cùng
loại có thể đƣợc xem xét từ nhiều góc độ, tuy nhiên trong mọi trƣờng hợp tính khác biệt
của sản phẩm là yếu tố có vai trò quan trọng hàng đầu đối với quyết định lựa chọn sản
phẩm của khách du lịch cho dù giá sản phẩm có giá cao hơn. Tính khác biệt của sản
phẩm du lịch có thể đƣợc tạo ra bởi sự khác biệt về chất lƣợng (đối với những sản phẩm
du lịch cùng loại), song thƣờng đƣợc thể hiện trong những sản phẩm du lịch đặc thù.
Sinh viên: Trương Thị Thu Khuyên – Lớp A1K20
10
Viện Đại học Mở Hà Nội – Khoa Du Lịch
Sản phẩm du lịch đặc thù là sản phẩm đƣợc xây dựng dựa trên những đặc tính
độc đáo, duy nhất, nguyên bản và đại diện về tài nguyên du lịch (tự nhiên và nhân văn)
cho một lãnh thổ, điểm đến du lịch với những dịch vụ không chỉ làm thỏa mãn nhu
cầu, mong đợi của du khách mà còn tạo đƣợc ấn tƣợng bởi tính độc đáo và sáng tạo.
Sản phẩm du lịch đặc thù phải là sản phẩm du lịch mang tính khác biệt, độc đáo
Viện Đại học Mở Hà Nội – Khoa Du Lịch
trƣờng trong tƣơng lai. Bên cạnh đó là các yêu cầu về việc xác định đƣợc giá trị tài
nguyên đặc sắc và sự phân bố của chúng trong không gian; xác định sản phẩm đặc thù
và các thành phần tạo nên sản phẩm du lịch đặc thù.
Việc xây dựng phát triển sản phẩm du lịch đặc thù cũng đƣợc thực hiện nhƣ với
mỗi sản phẩm du lịch khác. Tuy nhiên, với vai trò và những đặc điểm cơ bản của sản
phẩm du lịch đặc thù thì một số bƣớc cần đƣợc thực hiện tuân thủ theo các nguyên tắc
để đảm bảo phát huy tối đa các giá trị đặc thù. Nhƣ vậy có nghĩa là để xây dựng đặc
sản phẩm đặc thù cần có các nguyên tắc cụ thể. Các sản phẩm du lịch đặc thù phải tập
trung phát triển tại những khu vực phân bố tài nguyên đặc sắc. Các giá trị tài nguyên
đặc sắc phải đƣợc xác định rõ ràng cho từng cấp độ. Do đó, cần phải phân biệt rõ về
các cấp của sản phẩm du lịch đặc thù.
o
Sản phẩm du lịch đặc thù có tính quốc gia: sử dụng tài nguyên du lịch có
tính độc đáo, đặc trƣng cao nhất so sánh toàn quốc. Các sản phẩm này có
thể thu hút đông đảo thị trƣờng khách du lịch và có thể xây dựng thƣơng
hiệu du lịch có tính cạnh tranh cao.
o
Sản phẩm du lịch đặc thù có tính nội vùng: sử dụng tài nguyên du lịch có
tính độc đáo, đặc sắc của một địa phƣơng trong mối quan hệ so sánh với các
địa phƣơng còn lại trong vùng. Các sản phẩm này có thể rất hấp dẫn khách
du lịch trong vùng và các vùng lân cận nhƣng có thể không có tính hấp dẫn
toàn quốc, không phải là sản phẩm đại diện có khả năng xây dựng thƣơng
hiệu du lịch của vùng.
Các điều kiện để phát triển sản phẩm du lịch đặc thù bao gồm việc: Có điều
hội, lịch sử, truyền thống, tôn giáo, các di tích văn hóa.
Thiên nhiên: phong cảnh, động thực vật, đƣờng/ lối đi, công viên, các
khu thiên nhiên bảo tồn, canh tác nông nghiệp.
Các đặc trƣng của cộng đồng dân cƣ tại điểm đến
Vị trí, đƣờng đến: khoảng cách giữa điểm đến với các trung tâm du lịch
lớn, giao thông liên lạc (có thể tiếp cận với bên ngoài), loại phƣơng tiện
giao thông phù hợp.
Các cơ sở vật chất phục vụ du lịch hiện có hoặc tiềm năng: dịch vụ lƣu
trú, ăn uống, các trang thiết bị, các dịch vụ du khách.
Nguồn lực tại điểm đến: tình hình kinh tế và nguồn lực; kỹ năng, kinh
nghiệm, thái độ của nhân lực, khả năng tiếp cận các nguồn tài chính.
Các vấn đề xung đột trong nội bộ cộng đồng và với bên ngoài.
b. Phân tích khả năng thị trường
Công cụ để phân tích đánh giá thị trƣờng bao gồm việc nghiên cứu các nguồn
dữ liệu thứ cấp, phỏng vẫn các doanh nghiệp du lịch lữ hành hay bản hỏi điều tra
khách du lịch. Trong đó cần phải phân tích các yếu tố chính về thị trƣờng du lịch hiện
tại, tiềm năng và nhu cầu:
Sinh viên: Trương Thị Thu Khuyên – Lớp A1K20
13
Viện Đại học Mở Hà Nội – Khoa Du Lịch
Điểm đến chính: cần thống kê các số liệu về du lịch, số lƣợt khách quốc tế và
trong nƣớc, tình hình du lịch tại địa phƣơng, quốc gia, khu vực, các chính sách
và hệ thống tổ chức du lịch, mùa du lịch.
Khách du lịch: cần xác định đƣợc loại khách đến với điểm đến du lịch, sở thích,
nhu cầu và động cơ du lịch của họ.
Ngành du lịch: các yếu tố về cơ sở hạ tầng, các hãng lữ hành du lịch và sự cạnh
Viện Đại học Mở Hà Nội – Khoa Du Lịch
Bƣớc 3: Xây dựng kế hoạch phát triển sản phẩm du lịch đặc thù
3.1. Xác định tầm nhìn và mục tiêu của sản phẩm du lịch đặc thù
Giai đoạn hình thành tầm nhìn mục tiêu của sản phẩm du lịch bắt đầu khi đã
xác định đƣợc tính khả thi của việc xây dựng sản phẩm du lịch. Giai đoạn này nhằm
xây dựng mục tiêu cụ thể về du lịch và tầm nhìn của sản phẩm du lịch.
3.2. Thiết kế sản phẩm du lịch
a. Phát triển sản phẩm du lịch đặc thù
Dựa vào thế mạnh để phát triển sản phẩm du lịch đặc thù gồm các yếu tố: loại
sản phẩm, địa điểm tổ chức, hoạt động của khách du lịch và các dịch vụ bổ sung. Từ
đó, thực hiện các nội dung:
Thiết kế các sản phẩm du lịch có thể cung cấp cho khách
Loại bỏ những sản phẩm không ƣu tiên, lựa chọn những sản phẩm mang tính
độc đáo, nguyên bản, đặc sắc.
Phân tích tính khả thi của sản phẩm du lịch đặc thù.
Lập kế hoạch hành động phát triển sản phẩm du lịch đặc thù
b. Đầu tư và đào tạo
Hoạt động đầu tƣ các cơ sở vật chất và đào tạo nguồn nhân lực bao gồm: lƣu
trú, ăn uống, hƣớng dẫn viên, quản lý, cơ sở vật chất kỹ thuật, cơ sở hạ tầng, các dịch
vụ khách hàng, các kỹ năng, ngôn ngữ... Công tác đào tạo huấn luyện cần đƣợc thực
hiện xuyên suốt trong thời gian phát triển sản phẩm du lịch đặc thù nhằm đảm bảo trau
dồi và phát triển các kỹ năng.
Bƣớc 4: Thực hiện cung cấp sản phẩm du lịch
4.1. Kế hoạch quảng bá
Đây là một phần không thể thiếu trong quá trình phát triển sản phẩm du lịch. Kế
hoạch quảng bá làm rõ các nguồn lực cơ bản của sản phẩm du lịch: các điểm hấp dẫn,
khả năng tiếp cận, các vấn đề an toàn, các chỉ dẫn cho du khách và ngƣời dân địa
phƣơng.
tƣởng đến với những cái tên rất thuần Việt nhƣ: “Làng Việt cổ”, “Làng cổ đá ong
Đƣờng Lâm” hay địa danh “Kẻ Mía”, “Một ấp hai vua”. Địa danh này xuất hiện khá
sớm trong các thƣ tịch cổ nhƣ: Việt điện u linh, Thiên Nam ngữ lục, Lịch triều hiến
chƣơng loại chí...
Theo nhiều tƣ liệu thì địa danh Đƣờng Lâm đã xuất hiện cách đây trên dƣới
1000 năm. Nhiều chặng đƣờng lịch sử của dân tộc còn ghi dấu ăn tại đây. Thời Hùng
Vƣơng, Đƣờng Lâm cùng mấy làng lân cận còn rất nhiều địa danh đƣợc nhắc đến
trong truyền thuyết Sơn Tinh - Thủy Tinh. Cái tên Đƣờng Lâm cũng lần đầu tiên đƣợc
Sinh viên: Trương Thị Thu Khuyên – Lớp A1K20
16
Viện Đại học Mở Hà Nội – Khoa Du Lịch
ghi vào chính sử với cuộc khởi nghĩa Phùng Hƣng những năm cuối thế kỷ VIII. Nơi
đây cũng chính là nơi đã sinh ra hai vị vua ghi dấu ấn quan trọng trong lịch sử dân tộc
là Phùng Hƣng và Ngô Quyền, cũng là quê hƣơng của rất nhiều danh nhân nhƣ bà
chúa Mía, Thám Hoa Giang Văn Minh, Kiều Oánh Mậu, Quan khâm sai đại thần của
triều Nguyễn tại xứ Bắc kỳ Phan Kế Toại...
Năm 2003, Việt Nam và Nhật Bản đã ký biên bản hợp tác về bảo quản tu bổ và
quản lý làng cổ truyền thống. Năm 2004, Viện nghiên cứu tài sản văn hóa quốc gia
Nara Nhật Bản đã tiến hành điều tra, chụp ảnh và vẽ ghi sơ bộ 500 ngôi nhà cổ truyền
thống của hai làng Mông Phụ và Cam Thịnh - xã Đƣờng Lâm, tiến hành những
chƣơng trình nghiên cứu ngắn hạn và dài hạn tại Đƣờng Lâm để tìm hiểu các vấn đề
về lịch sử, kinh tế, xã hội của Đƣờng Lâm.
Ngày 28 tháng 11 năm 2005, Đƣờng Lâm đã vinh dự đƣợc Nhà nƣớc trao tặng
chứng nhận Di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia và trở thành làng cổ đầu tiên của
Việt Nam đƣợc xếp hạng. Có rất nhiều làng quê của thủ đô nói riêng và cả nƣớc nói
chung, đang hội nhập và hòa mình vào dòng chảy công nghiệp hóa - hiện đại hóa,
thế nhƣng cái “Làng Việt cổ” ấy mặc dù ở một vị trí rất gần với đô thị trung tâm của