ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LÊ MINH DŨNG
NGHIÊN CỨU SẢN PHẨM DU LỊCH ĐẶC THÙ
CỦA TỈNH HẬU GIANG luËn v¨n th¹c sÜ du lÞch
luận văn thạc sĩ du lịch
NGI HNG DN KHOA HC: TS. CM TH
H Ni, 2014 1
MỤC LỤC
Trang
Mục lục 01
Danh mục các chữ viết tắt 04
Danh mục các bảng biểu 05
Mở đầu 06
Chƣơng 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ SẢN PHẨM DU LỊCH ĐẶC THÙ
1.1. Một số khái niệm cơ bản 13
1.1.1. Khái niệm về sản phẩm du lịch 13
1.1.2. Khái niệm về sản phẩm du lịch đặc thù 15
1.2. Vai trò của việc xây dựng sản phẩm du lịch đặc thù trong hoạt động du
lịch 18
1.2.1. Đặc điểm của sản phẩm du lịch 18
1.2.2. Đặc điểm nhu cầu du lịch 21
1.2.3. Vai trò của sản phẩm du lịch đặc thù 23
1.3. Nguyên tắc và phƣơng pháp xây dựng sản phẩm du lịch đặc thù 24
3.2. Xác định các yếu tố đặc thù của du lịch Hậu Giang phù hợp để xây dựng
và phát triển sản phẩm du lịch 76
3.2.1. Các yếu tố tự nhiên 76
3.2.2. Các yếu tố văn hoá – xã hội 77
3.2.3. Các yếu tố lợi thế của sản phẩm du lịch Hậu Giang so với các địa phƣơng
trong khu vực ĐBSCL 78
3.3. Định hƣớng phát triển du lịch đặc thù của tỉnh Hậu Giang 79
3.3.1. Định hƣớng phát triển sản phẩm du lịch đặc thù 79
3.3.2. Định hƣớng phát triển các sản phẩm du lịch bổ trợ khác 95
3.4. Định hƣớng thu hút thị trƣờng 97
3.4.1. Định hƣớng thu hút thị trƣờng khách du lịch quốc tế 97
3.4.2. Định hƣớng thu hút thị trƣờng khách du lịch nội địa 99
3.5. Các giải pháp phát triển sản phẩm du lịch đặc thù của tỉnh Hậu Giang
101 3
3.5.1. Giải pháp về cơ chế chính sách và tổ chức quản lý 101
3.5.2. Giải pháp về đầu tƣ phát triển 102
3.5.3. Giải pháp về phát triển thƣơng hiệu du lịch và xúc tiến quảng bá 103
3.5.4. Giải pháp phát triển thị trƣờng 106
3.5.5. Giải pháp về phát triển nguồn nhân lực 107
3.5.6. Giải pháp về hợp tác, liên kết phát triển 108
KẾT LUẬN 111
KIẾN NGHỊ 112
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 115
PHỤ LỤC 118
6. KTXH : Kinh tế xã hội
7. MDEC : Diễn đàn hợp tác kinh tế Đồng bằng sông Cửu Long
8. PGS : Phó giáo sƣ
9. QLNN : Quản lý nhà nƣớc
10. QL : Quốc lộ
11. TNHH : Trách nhiệm hữu hạn
12. TPHCM : Thành phố Hồ Chí Minh
13. TS : Tiến sĩ
14. UBND : Uỷ ban nhân dân
15. VH,TT&DL : Văn hoá, Thể thao và Du lịch
5
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
* Danh sách hình:
Sơ đồ 1.1.: Các bƣớc tiến hành của giai đoạn nghiên cứu, điều tra
Sơ đồ 1.2: Các bƣớc tiến hành của giai đoạn triển khai thực hiện
Sơ đồ 2.1: Tình hình phát triển cơ sở lƣu trú trên địa bàn tỉnh Hậu Giang
Sơ đồ 2.2: Tỷ trọng khách du lịch đến Hậu Giang giai đoạn 2008 – 2012
Sơ đồ 3.1: So sánh sản phẩm du lịch Hậu Giang với các tỉnh ĐBSCL
đang đóng góp trực tiếp 5% vào GDP thế giới; cứ 12 việc làm đƣợc tạo ra thì có
một việc làm trong ngành du lịch; là ngành xuất khẩu chính đối với nhiều quốc gia,
cả những quốc gia đang phát triển và phát triển, 30% xuất khẩu dịch vụ và tới 45%
xuất khẩu của các nƣớc kém phát triển nhất trên thế giới.
Bất chấp cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính toàn cầu, du lịch vẫn là một
trong rất ít ngành hiếm hoi tiếp tục đà phục hồi và có tăng trƣởng, cả về số lƣợng
lẫn doanh thu. Năm 2012, lƣợng khách du lịch quốc tế tăng 5% so vơi năm 2011 lần
đầu tiên vƣợt qua ngƣỡng 1 tỷ lƣợt, một dấu mốc lịch sử của ngành du lịch thế giới.
Riêng tại Việt Nam trải qua một năm nhiều gian khó, ngành du lịch Việt Nam đã
đạt đƣợc kết quả bất ngờ với việc đón hơn 6,8 triệu lƣợt khách quốc tế và 32,5 triệu
lƣợt khách nội địa tăng 13,8% so với năm 2011, tổng doanh thu đạt 160.000 tỷ
đồng, tăng hơn 23% so với năm trƣớc.
Trong những năm qua đƣợc sự quan tâm của Đảng, Nhà nƣớc và sự nỗ lực
của các cấp lãnh đạo địa phƣơng, du lịch Hậu Giang đã có những bƣớc phát triển
đáng khích lệ, đóng góp không nhỏ đối với sự phát triển KTXH, chuyển dịch cơ cấu
kinh tế của tỉnh. Tuy nhiên, du lịch Hậu Giang vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập nên
chƣa phát triển tƣơng xứng với tiềm năng vốn có, du lịch chƣa thu hút mạnh các
nguồn lực do chƣa thực sự xây dựng đƣợc các sản phẩm du lịch đặc thù, hấp dẫn, có
khả năng cạnh tranh cao giữa các tỉnh trong khu vực và cả nƣớc.
Hậu Giang đƣợc tách ra từ tỉnh Cần Thơ để trở thành một tỉnh mới trực thuộc
Trung ƣơng theo Nghị quyết số 22/2003/QH11 ngày 26/11/2003 của Quốc hội nƣớc
Cộng hòa XHCN Việt Nam và Nghị định số 05/2004/NĐ-CP ngày 02/01/2004 của
Thủ tƣớng Chính phủ. 7
Hậu Giang có vị trí vệ tinh trong khu vực và chịu ảnh hƣởng lớn của du lịch
thành phố Cần Thơ, là một địa bàn trọng điểm phát triển du lịch miền Tây Nam bộ,
đóng vai trò quan trọng đối với du lịch cả nƣớc.
Từ năm 2004 đến nay, kinh tế xã hội của tỉnh đã có sự phát triển tƣơng đối
này nghiên cứu chủ yếu về công tác quản lý nhà nƣớc về du lịch nói chung và quản
lý nhà nƣớc về du lịch tại tỉnh Hậu Giang nói riêng, là tài liệu tham khảo phong phú
khi tác giả nghiên cứu các giải pháp để phát triển du lịch tỉnh Hậu Giang trong đó
có giải pháp quản lý nhà nƣớc về du lịch.
- Đề tài “Đẩy mạnh ngành du lịch Hậu Giang phát triển bền vững đến năm
2020 ” của tác giả Lê Thị Phƣơng Quyên, Luận văn thạc sĩ ngành Quản trị kinh
doanh, năm 2012. Đề tày này tác giả tập trung phân tích, đánh giá hiện trạng phát
triển du lịch của tỉnh Hậu Giang trong thời gian qua, từ đó đƣa ra những quan điểm
và giải pháp để đẩy mạnh du lịch Hậu Giang phát triển bền vững đến năm 2020.
Đây là tài liệu tham khảo giúp tác giả có cái nhìn tổng thể từ đó có giải pháp để xây
dựng sản phẩm cũng nhƣ trong chiến lƣợc quảng bá, xúc tiến cho du lịch Hậu
Giang.
- Đề án “Quy hoạch tổng thể phát triển ngành du lịch tỉnh Hậu Giang đến
năm 2020” của UBND tỉnh Hậu Giang, năm 2007. Trong đề án này, các cấp quản lý
đã định hƣớng phát triển du lịch ngang tầm với tiềm năng, thế mạnh theo hƣớng du
lịch nghĩ dƣỡng, du lịch văn hóa – lịch sử, du lịch sinh thái, giữ gìn và phát huy bản
sắc văn hóa dân tộc, phát triển du lịch quốc tế và du lịch nội địa; góp phần quan
trọng vào phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo, giữ vững an ninh quốc
phòng, trật tự an toàn xã hội, phấn đấu đƣa du lịch Hậu Giang trở thành ngành kinh
tế mũi nhọn và là địa bàn động lực để đẩy mạnh du lịch cả nƣớc.
- Đề tài “Nghiên cứu xây dựng sản phẩm du lịch Việt Nam có tính cạnh tranh
trong khu vực và quốc tế”, đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ năm 2009 của Tiến sĩ
Đỗ Cẩm Thơ, Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là
đề xuất định hƣớng phát triển sản phẩm du lịch có tính cạnh tranh cho du lịch Việt
Nam trong giai đoạn hội nhập, tác giả tham khảo đề tài này để có cơ sở khoa học
cho việc tổng thuật các vấn đề lý luận cho việc xây dựng sản phẩm du lịch có tính
cạnh tranh cao. 9
10
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để giải quyết đƣợc các mục tiêu đã đề ra, luận văn tập trung nghiên cứu
những nội dung chính nhƣ sau:
- Hệ thống hóa những kiến thức lý luận cơ bản về sản phẩm du lịch, sản
phẩm du lịch đặc thù, vai trò của việc xây dựng sản phẩm du lịch đặc thù trong hoạt
động du lịch, nguyên tắc và phƣơng pháp xây dựng sản phẩm du lịch đặc thù.
- Kinh nghiệm của một số địa phƣơng trong công tác xây dựng sản phẩm du
lịch đặc thù.
- Thu thập, nghiên cứu, phân tích thực trạng xây dựng và phát triển sản phẩm
du lịch tại tỉnh Hậu Giang.
- So sánh tiềm năng phát triển sản phẩm du lịch Hậu Giang với các địa
phƣơng khác.
- Định hƣớng và đề ra một số giải pháp nhằm góp phần phát triển sản phẩm
du lịch đặc thù của tỉnh Hậu Giang.
5. Phạm vi và đối tƣợng nghiên cứu
5.1. Phạm vi nghiên cứu:
- Về không gian: địa bàn tỉnh Hậu Giang.
- Về thời gian: Các số liệu thứ cấp đƣa vào phân tích đƣợc thu thập trong
gian đoạn từ 2004 đến 2012. Các số liệu sơ cấp đƣợc điều tra trong thời gian 03
tháng từ tháng 03/2013 đến tháng 06/2013. Các định hƣớng, giải pháp đƣa ra nhắm
tới giai đoạn từ 2013 đến 2025.
- Về nội dung: Luận văn tập trung vào việc nghiên cứu và tập hợp các thông
tin về sản phẩm du lịch; phân tích thực trạng hoạt động du lịch của Hậu Giang từ
năm 2004 đến nay và qua đó đề xuất một số giải pháp và kiến nghị cơ bản nhằm
góp phần xây dựng sản phẩm du lịch đặc thù và đẩy mạnh hoạt động xúc tiến Du
lịch cũng nhƣ nâng cao hiệu quả của hoạt động này.
chất lƣợng về sản phẩm du lịch, nâng cao hiệu quả hoạt động du lịch trên địa bàn
tỉnh, tạo điều kiện cho du lịch phát triển nhanh, bền vững, ngày càng có nhiều thành
phần kinh tế tham gia đầu tƣ kinh doanh vào lĩnh vực du lịch. 12
- Để luận văn có thể đƣợc áp dụng vào thực tiễn tại địa phƣơng, tác giả luận
văn kiến nghị các cấp lãnh đạo của tỉnh quan tâm và triển khai thực hiện các giải
pháp trên, đồng thời chỉ đạo các ngành có liên quan cùng phối hợp thực hiện.
8. Kết cấu đề tài
Ngoài phần mục lục, mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ
lục, nội dung chính của luận văn đƣợc chia thành 3 chƣơng:
- Chương 1: Những vấn đề cơ bản về sản phẩm du lịch đặc thù.
- Chương 2: Thực trạng phát triển sản phẩm du lịch tỉnh Hậu Giang.
- Chương 3: Định hƣớng và giải pháp phát triển sản phẩm du lịch đặc thù của
Hậu Giang.
sản phẩm du lịch hoàn chỉnh phục vụ nhu cầu và mong muốn của du khách.
Nhƣ vậy, sản phẩm du lịch bao gồm những yếu tố nào? Chúng có những đặc
tính giống những sản phẩm thông thƣờng khác không? Để trả lời cho các câu hỏi
này các nhà nghiên cứu đƣa ra khái niệm về sản phẩm du lịch nhƣ sau:
Theo Michael M.Coltman: “Sản phẩm du lịch là một tổng thể bao gồm các
thành phần không đồng nhất hữu hình và vô hình” tính hữu hình của nó đƣợc thể 14
hiện cụ thể nhƣ thức ăn đồ uống, các sản phẩm lƣu niệm còn tính vô hình của nó
đƣợc thể hiện đó là các loại hình dịch vụ du lịch và các dịch vụ bổ trợ khác.
Còn Robert Christie Mill lại cho rằng sản phẩm du lịch có 4 chiều định vị:
Điểm hấp dẫn du lịch, các cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch, vận chuyển du lịch và
lòng hiếu khách.
Các nhà nghiên cứu du lịch của Việt Nam lại cho rằng: “Sản phẩm du lịch là
các dịch vụ, hàng hoá cung cấp cho du khách, được tạo nên bởi sự kết hợp của việc
khai thác các yếu tố tự nhiên, xã hội với việc sử dụng các nguồn lực cơ sở vật chất
kỹ thuật và lao động tại cơ sở hoặc tại một vùng, miền, quốc gia hoặc lãnh thổ”.
Cũng có ngƣời định nghĩa: “Sản phẩm du lịch là sự kết hợp những dịch vụ
và phương tiện vật chất trên cơ sở khai thác các tiềm năng du lịch nhằm cung cấp
cho du khách một khoảng thời gian thú vị, một kinh nghiệm du lịch trọn vẹn và sự
hài lòng”.
Trong Luật Du lịch đƣợc Quốc hội nƣớc Cộng CHXHCN Việt Nam thông
qua năm 2005: “Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ cần thiết để thỏa mãn nhu
cầu của khách du lịch trong chuyến đi du lịch”. Các dịch vụ đó bao gồm: các dịch
vụ lữ hành, dịch vụ vận chuyển khách, dịch vụ lƣu trú, dịch vụ ăn uống, dịch vụ vui
chơi giải trí, dịch vụ thông tin hƣớng dẫn và các dịch vụ nhằm đáp ứng nhu cầu của
du khách. Nhƣ vậy theo quan điểm trong Luật Du lịch Việt Nam thì sản phẩm du
lịch chỉ đơn thuần là các hoạt động dịch vụ du lịch nhƣng trên thực tế thì nội dung
về sản phẩm du lịch còn đa dạng và phong phú.
mãn đƣợc nhu cầu của du khách. Đồng thời chúng cũng là một trong những bộ phận
cấu thành của sản phẩm du lịch.
1.1.2. Khái niệm về sản phẩm du lịch đặc thù.
Theo PGS.TS. Phạm Trung Lƣơng, trong bài viết Phát triển du lịch đặc thù
nâng cao sức cạnh tranh của du lịch Việt Nam đăng trên tạp chí Du lịch Việt Nam
số tháng 8/2007, thì sản phẩm du lịch đặc thù đƣợc ông quan niệm nhƣ sau: “Sản
phẩm du lịch đặc thù là những sản phẩm có được yếu tố hấp dẫn, độc đáo, duy
nhất, nguyên bản và đại diện về tài nguyên du lịch (tự nhiên và nhân văn) cho một
lãnh thổ hoặc một điểm đến du lịch; với những dịch vụ không chỉ làm thỏa mãn nhu 16
cầu, mong đợi của du khách mà còn tạo được ấn tượng bởi tính độc đáo và sáng
tạo”
1
Còn theo TS. Đỗ Cẩm Thơ
2
lại cho rằng: Sản phẩm đặc thù là sản phẩm đảm
bảo phát huy đƣợc các giá trị tài nguyên có tính đặc trƣng cao nhất, sử dụng những
tài nguyên du lịch đặc biệt, có tính độc đáo của địa phƣơng mà nơi khác không có
đƣợc. Sản phẩm du lịch đặc thù là những sản phẩm có khả năng tạo ra sự phân biệt
giữa địa phƣơng này với địa phƣơng khác, điểm đến này với điểm đến khác.
Sản phẩm du lịch đặc thù có thể có tính độc đáo, đặc sắc nhƣng có thể hấp
dẫn hoặc không hấp dẫn, phụ thuộc vào việc sản phẩm này có phù hợp với nhu cầu
của thị trƣờng hay không.
Hai quan niệm của hai tác giả trên đều có cùng điểm chung, đã là sản phẩm
đặc thù thì phải thể hiện yếu tố cốt lõi, độc đáo hấp dẫn và làm hài lòng du khách.
Việc xây dựng sản phẩm du lịch có tính đặc thù là một trong những yếu tố
hàng đầu quan trọng góp phần tạo nên sự cạnh tranh của sản phẩm. Xây dựng sản
lịch của điểm đến phải độc đáo không nơi nào có đƣợc, đồng thời các dịch vụ ở
điểm đến đó phải đặc trƣng hấp dẫn du khách, tạo cho du khách cảm giác là lần đầu
tiên sử dụng và trải nghiệm các sản phẩm, dịch vụ ở nơi này mà chƣa từng đƣợc sử
dụng ở bất cứ nơi nào. Phong cách phục vụ và phƣơng pháp tổ chức khai thác các
sản phẩm và dịch vụ của điểm đến phải ấn tƣợng, khác biệt không giống với bất cứ
nơi đâu, có đƣợc nhƣ thế thì sản phẩm du lịch mới trở nên hấp dẫn ấn tƣợng với du
khách, tạo cho họ có cảm giác muốn quay trở lại ngay khi rời chân khỏi nơi này.
Trên quan điểm kinh tế thị trƣờng, bên cạnh sự độc đáo hay đặc biệt, sản
phẩm du lịch đặc thù cũng phải tính đến yếu tố thị trƣờng. Đối với nhu cầu, thị hiếu
và tâm lý của mỗi thị trƣờng các giá trị lại đƣợc đánh giá khác nhau. Do đó mà yếu
tố độc đáo với thị trƣờng này lại chƣa độc đáo với thị trƣờng khác, hoặc sản phẩm
này đặc thù nhƣng có sức hấp dẫn với thị trƣờng này nhƣng chỉ đặc thù chứ không
hấp dẫn thị trƣờng khác. Do đó, luôn phải xác định thị trƣờng trọng điểm trƣớc, từ
đó mới xác định các sản phẩm đặc thù cụ thể.
Hiện nay, các địa phƣơng thƣờng xây dựng sản phẩm du lịch một cách tự
phát dựa trên điều kiện vốn có của mình, thiếu nghiên cứu và xác định thị trƣờng
dẫn đến các địa phƣơng thƣờng xây dựng sản phẩm trùng lấp nhau, gây nhàm chán,
thiếu tính đặc trƣng độc đáo, gây lãng phí tài nguyên và không hấp dẫn du khách.
Vì vậy, cũng có những sản phẩm rất đặc trƣng, đặc thù chỉ riêng có của mỗi địa 18
phƣơng nhƣng lại không hấp dẫn đối với du khách hoặc có thu hút thì chỉ hấp vẫn
đối với một số đối tƣợng khách hoặc một vài thị trƣờng nhất định.
1.2. Vai trò của việc xây dựng sản phẩm du lịch đặc thù trong hoạt động du
lịch.
1.2.1. Đặc điểm của sản phẩm du lịch.
Sản phẩm du lịch là một dạng sản phẩm đặc biệt vì nhiều lý do và nhiều yếu
tố cấu thành nên. Có nhiều ý kiến của các nhà nghiên cứu cho rằng có rất nhiều tiêu
kinh nghiệm du lịch hơn là một món hàng cụ thể, mặc dù trong cấu thành của sản
phẩm du lịch có cả những hàng hóa. Chính vì không cụ thể mà sản phẩm du lịch
không thể đặt ra vấn đề nhãn hiệu nhƣ các hàng hóa thông thƣờng và dễ bị sao chép,
chúng ta vẫn thƣờng thấy các công ty lữ hành có các chƣơng trình tour tƣơng tự
nhau, các địa phƣơng có các mô hình du lịch gần nhƣ giống nhau (đặc biệt là du lịch
sinh thái nhà vƣờn ở các tỉnh Miền tây), hay cách bày trí phòng đón tiếp hay một
quy trình đón tiếp Mặt khác, do đặc tính không cụ thể nên khách hàng không thể
kiểm tra, không thể biết trƣớc đƣợc chất lƣợng sản phẩm du lịch mà họ đã mua, nên
một số ngƣời tỏ ra phân vân khi chọn mua sản phẩm du lịch. Cũng do đặc điểm này
của sản phẩm du lịch mà việc tuyên truyền, quảng bá sản phẩm du lịch đóng vai trò
vô cùng quan trọng. Do tính không cụ thể của sản phẩm du lịch nên sản phẩm nào
có tính đa dạng khác biệt nhiều hơn sẽ là thế mạnh của sản phẩm đó, gây đƣợc sự
chú ý của du khách và tạo nên tính hấp dẫn riêng.
* Sản phẩm du lịch không thể dự trữ
Là một loại sản phẩm dịch vụ, sản phẩm du lịch có tính chất “không thể dự
trữ” nhƣ sản phẩm vật chất nói chung, có nghĩa là không thể tồn kho.
Sau khi du khách mua sản phẩm du lịch, cơ sở kinh doanh du lịch liền trao
quyền sử dụng liên quan trong thời gian quy định. Nếu sản phẩm du lịch chƣa thể
bán kịp thời thì không thể thực hiện giá trị của nó, thiệt hại gây nên sẽ không bù đắp
đƣợc. Khi một buồng trong khách sạn không đƣợc thuê vào đêm nay thì khách sạn
sẽ mất doanh thu chứ không thể để dành, cộng thêm vào số buồng cho thuê trong
đêm mai đƣợc. Ngoài ra, với đặc điểm này nên khách du lịch không thể thấy sản
phẩm du lịch trƣớc khi mua đƣợc. 20
* Sản phẩm du lịch không thể chuyển dịch
Việc tiêu dùng sản phẩm du lịch xảy ra song song cùng một thời gian và
không gian sản xuất ra chúng, vì vậy du khách chỉ có thể tiêu thụ ở nơi sản xuất ra
sản phẩm du lịch chứ không thể nhƣ sản phẩm vật chất nói chung có thể chuyển ra
cung sản phẩm du lịch khá ổn định trong một khoảng thời gian nhất định, trong khi
đó nhu cầu thƣờng xuyên thay đổi do quan hệ cung - cầu cũng thay đổi, có thể cung
vƣợt cầu, và cũng có thể cầu vƣợt cung, gây khó khăn lớn trong việc sản xuất và
tiêu thụ sản phẩm du lịch.
1.2.2. Đặc điểm nhu cầu du lịch
Cầu du lịch là một bộ phận của cầu trên thị trƣờng chung nên có đầy đủ
những đặc điểm cơ bản của cầu, đồng thời còn có thêm những đặc trƣng riêng, thể
hiện nổi bật là: Cầu du lịch đƣợc cấu thành chủ yếu bởi cầu về dịch vụ; rất đa dạng
và phong phú nhƣ nhu cầu của con ngƣời; có độ linh hoạt rất cao, dễ dao động;
phân tán và xa cách cung và mang tính chu kỳ.
* Cầu du lịch chủ yếu là cầu về dịch vụ
Để phục vụ cho nhu cầu của chuyến đi, du khách cần một gói các dịch vụ và
hàng hoá. Cầu về hàng hoá có thể đáp ứng không thông qua du lịch, trong khi đó
cầu về các dịch vụ do các cơ sở kinh doanh du lịch đảm nhiệm bao gồm các dịch vụ
cơ bản nhƣ ăn, nghỉ, vận chuyển, vui chơi giải trí, dịch vụ hƣớng dẫn, chăm sóc sức
khoẻ, mua sắm, dịch vụ bảo hiểm…Số lƣợng các dịch vụ phụ thuộc vào thời gian,
loại hình mà du khách lựa chọn và khả năng thanh toán của du khách. Theo các nhà
kinh tế thì chi phí cho chuyến đi đa phần là thanh toán cho các loại dịch vụ chiếm từ
50 % đến 80% trong đó chi phí cho các dịch vụ chính chiếm tỷ trọng lớn nhất. Ngày
nay tỷ trọng các dịch vụ chính trong cơ cấu cầu du lịch ngày càng giảm, trong khi tỷ
trọng các dịch vụ bổ sung ngày càng tăng.
* Cầu du lịch đa dạng và phong phú:
Nhu cầu du lịch rất đa dạng và phong phú, phụ thuộc rất nhiều vào nhận
thức, ý thích của từng cá nhân, mỗi gia đình, nhóm ngƣời và phong tục tập quán của
một cộng đồng dân cƣ, thời gian, tâm trạng, sức khoẻ, khả năng kinh tế, thời gian
nhàn rỗi… Trên cơ sở nhu cầu du lịch đa dạng, sở thích du lịch đƣợc hình thành và
khi có khả năng thanh toán, khi có thời gian rỗi thì sẽ phát sinh nhu cầu đi du lịch. 22
23
thiệu về du lịch, băng đĩa, hình ảnh, internet thì con ngƣời không thể biết các cơ sở
kinh doanh du lịch cũng nhƣ các dịch vụ mà họ cung cấp. Tuyên truyền, quảng cáo
và xúc tiến du lịch là chiếc cầu nối giữa cung và cầu trong hoạt động du lịch.
* Cầu du lịch mang tính chu kỳ
Cầu trong du lịch thƣờng xuất hiện một hoặc vài lần trong một năm vào
những thời điểm nhất định. Đặc điểm này của cầu du lịch đƣợc quyết định bởi mối
quan hệ mật thiết giữa nhu cầu trong du lịch với thời gian rỗi của con ngƣời, trƣớc
hết là những kỳ nghỉ phép hàng năm của họ, với khả năng tài chính, thói quen và
tâm lý đi du lịch của họ.
Dịch vụ du lịch là vô hình, không cụ thể, vì vậy du khách phải có thời gian
tìm hiểu, chuẩn bị trƣớc khi quyết định mua một sản phẩm du lịch, một điểm đến du
lịch. Ngày nay mức độ hiểu biết, đòi hỏi của thị trƣờng khách ngày một cao hơn vì
vậy đòi hỏi các nhà cung cấp cũng phải thay đổi, nắm bắt thị hiếu của thị trƣờng để
đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của du khách.
Hàng hóa và dịch vụ do các cơ sở kinh doanh du lịch cung cấp cho du khách
đa dạng về chủng loại, chất lƣợng, giá cả và tiêu thức đánh giá, có liên quan chặt
chẽ với nhau trong một quy trình phục vụ du lịch. Mặt khác, mỗi dân tộc mỗi địa
phƣơng đều có những nét đặc trƣng riêng về truyền thống và phong cách tiêu dùng.
Vì vậy, tuyên truyền, quảng bá và xúc tiến du lịch là công cụ để thể hiện những đặc
điểm trên của các quốc gia, các địa phƣơng và doanh nghiệp du lịch, đồng thời
thông qua tuyên truyền, quảng bá và xúc tiến du lịch làm cho du khách biết nhiều
hơn đến sản phẩm du lịch, điểm đến du lịch và làm nảy sinh nhu cầu đi du lịch của
du khách, vì vậy một số quốc gia đã không ngại bỏ ra những khoản tiền khổng lồ để
quảng bá, xúc tiến tại những sự kiện và phƣơng tiện truyền thông lớn của thế giới.
1.2.3. Vai trò của sản phẩm du lịch đặc thù
Sản phẩm du lịch đặc thù có vai trò vô cùng quan trọng trong việc thúc đẩy
du lịch của địa phƣơng phát triển, nó tạo nên sự cá biệt trong hệ thống sản phẩm du
lịch của địa phƣơng, nó tạo ra tính hấp dẫn cao nhằm thu hút một vài thị trƣờng đặc