TRẦN THỊ MINH HÒA
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬT KINH TẾ
LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
PHÁP LUẬT THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN
TỪ THỰC TIỄN TỈNH SƠN LA
TRẦN THỊ MINH HÒA
HÀ NỘI - 2016
2014 - 2016
1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
PHÁP LUẬT THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN
TỪ THỰC TIỄN TỈNH SƠN LA
TRẦN THỊ MINH HÒA
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ NGÀNH: 60380107
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. VŨ VĂN CƯƠNG
Tôi xin gửi lời tri ân sâu sắc đến gia đình và những người bạn đã động viên,
hỗ trợ tôi trong suốt quá trình học tập, làm việc và hoàn thiện luận văn.
Xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả luận văn
Trần Thị Minh Hòa
4
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài…………………………………………………..........................1
2. Tình hình nghiên cứu đề tài……………………………………………….........................2
3. Mục đích nghiên cứu……………………………………………………............................4
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu………………………………………..........................4
5. Phương pháp nghiên cứu…………………………………………...................................5
6. Cơ cấu của luận văn………………………………………………………........................5
Chương 1:
KHÁI QUÁT VỀ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN VÀ PHÁP LUẬT THUẾ THU NHẬP CÁ
NHÂN........................................................................................................................6
1.1. Khái quát thuế thu nhập cá nhân.............................................................................6
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm của thuế thu nhập cá nhân................................................6
1.1.2. Vai trò của thuế thu nhập cá nhân......................................................................10
1.2. Khái quát pháp luật thuế thu nhập cá nhân..........................................................14
1.2.1. Khái niệm pháp luật thuế thu nhập cá nhân......................................................14
1.2.2. Cấu trúc pháp luật thuế thu nhập cá nhân........................................................15
1.2.3. Các yếu tố chi phối pháp luật thuế thu nhập cá nhân......................................19
1.2.4. Pháp luật thuế thu nhập cá nhân ở một số nước………………………..............25
nhân ở Việt Nam nói chung và ở Sơn La nói riêng................................... 68
3.3.1. Nâng cao hiệu quả của cơ chế hành thu và kiểm soát thu nhập của người nộp
thuế……………………………………………………………………………………..........69
3.3.2. Xây dựng cơ sở dữ liệu và ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý thuế.......70
3.3.3. Cải cách hệ thống thủ tục hành chính thuế TNCN ………………………........71
3.3.4. Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật thuế TNCN; thanh tra, kiểm
tra và xử lý vi phạm pháp luật thuế TNCN…………………………………….....72
3.3.5. Đối với Tỉnh Sơn La …………………………………………………………..........72
KẾT LUẬN..................................................................................................................74
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC……………………………………………………………………………............75
6
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
TNCN
DN
Thu nhập cá nhân
Doanh nghiệp
NSNN
Ngân sách nhà nước
ĐTNT
Đối tượng nộp thuế
gia tăng số lượng lao động của mỗi quốc gia. Thuế TNCN đã và sẽ là một trong
những nguồn thu chính của mỗi quốc gia.
Luật thuế TNCN ở nước ta hiện nay ngày càng hoàn thiện cho phù hợp với
tiến trình đổi mới quản lý kinh tế của Nhà nước, phù hợp với trình độ phát triển
kinh tế-xã hội hướng dần đến phù hợp hơn với hệ thống thuế các nước, hướng tới
một hệ thống thuế công bằng và hiện đại hơn.
Để thực hiện đúng quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước trong chiến
lược phát triển kinh tế - xã hội, Ngày 22/11/2012 Quốc Hội đã sửa đổi, bổ sungmột
số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân năm 2007 theo hướng đẩy mạnh đơn giản
hóa thủ tục hành chính thuế, tạo thuận lợi và thúc đẩy sản xuất kinh doanh, đáp ứng
mục tiêu, yêu cầu của Kế hoạch cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011-2015 và
chiến lược cải cách hệ thống thuế đến năm 2020 cho phù hợp với nền kinh tế của
đất nước.
Tuy nhiên, khiLuật thuế TNCN đi vào thực tế cuộc sống đã gặp phải
nhữngkhó khăn, vướng mắc; người nộp thuế lợi dụng kẽ hở của pháp luật về thuế
TNCN để tìm cách khai gian lận thuế, trốn thuế, chấp hành pháp luật thuế chưa
nghiêm còn để nợ thuế dây dưa kéo dài.Chính vì vậy, vấn đề đặt ra là phải tìm những
giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả pháp luật thuếTNCN.
Với mong muốn tìm hiểu về Luật thuế TNCN và trên cơ sở đó đưa ra những
ý kiến cá nhân nhằm hoàn thiện luật thuế, Tôi đã lựa chọn đề tài: “Những giải pháp
8
nâng cao hiệu quả pháp luật thuế thu nhập cá nhân ở Sơn La hiện nay” làm đề
tài nghiên cứu của Luận văn cao học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Qua nghiên cứu và tìm hiểu, hiện nay về thuế thu nhập cá nhân và pháp luật
thuế thu nhập cá nhân đã được nghiên cứu ở nhiều cấp độ khác nhau, cụ thể:
- Trước 01/01/2009: Các quy định về thuế TNCN trong Pháp lệnh Thuế thu
như thu nhập chịu thuế TNCN, phạm vi áp dụng của thuế TNCN, quy định về
giảm trừ gia cảnh,…
Ở cấp độ luận văn thạc sỹ, tiến sĩ Luật học, tiêu biểu có:
-“Thực tiễn thi hành pháp luật thuế TNCN ở Việt Nam và định hướng hoàn
thiện”; Luận văn thạc sỹ Luật học của Hoàng Quốc Đạt (2012); Luận văn nàyđã
phân tích thực trạng pháp luật Việt Nam hiện hành về thuế TNCN trên phương diện
thực tiễn áp dụng, có sự so sánh với pháp luật một số quốc gia trên thế giới để ra
các giải pháp áp dụng có hiệu quả ở Việt Nam;
-“Pháp luật quản lý thuế TNCN ở Việt Nam - Thực trạng và giải pháp”;
Luận văn thạc sĩ luật học của Tạ Minh Hảo (2013); Luận văn này đã làm rõ nội
dung pháp luật về quản lý thuế TNCN ở Việt Nam;
- “Pháp luật quản lý thuế trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam- Những
vấn đề lý luận và thực tiễn”; Luận án tiến sĩ của Vũ Văn Cương – Trường Đại
học Luật Hà Nội - năm 2012.
Các nghiên cứu trên là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho tác giả trong
quá trình nghiên cứu và hoàn thiện đề tài.Tuy nhiên, có thể nhận thấy số lượng các
công trình nghiên cứu một cách toàn diện về những giải pháp nâng cao hiệu quả
pháp luật thuế thu nhập cá nhân nói chung và ở một địa phương cụ thể nói riêng,
nhất là ở cấp độ Luận văn thạc sỹ không nhiều, thậm chí là chưa có … Đó là thuận
lợi nhưng đồng thời cũng đặt ra những thách thức cho tác giả khi lựa chọn đề tài
nghiên cứu này.
10
Các công trình khoa học nêu trên đã đề cập đến nhiều khía cạnh của thuế
TNCN và pháp luật thuế TNCN. Tuy nhiên, đa số các đề tài nghiên cứu chỉ phân
tích, lý giải các vấn đề liên quan đến chính sách hoặc quản lý thuế TNCN dưới góc
độ kinh tế hoặc pháp lý. Thực tế vẫn chưa có một công trình nghiên cứu nào đề cập
một cách có hệ thống các giải pháp nâng cao hiệu quả pháp luật thuế TNCN ở nước
cơ bản sau đây:
(i) Phương pháp luận nghiên cứu khoa học duy vật biện chứng và duy vật
lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lê nin;
(ii) Một số phương pháp nghiên cứu cụ thể:
Phương pháp phân tích, bình luận, diễn giải, tổng hợp; phương pháp so sánh
luật học, phương pháp lịch sử; phương pháp đánh giá thống kê được sử dụng kết
hợp trong chương của luận văn để làm rõ các yêu cầu mà đề tài đặt ra.
6. Cơ cấu của luận văn
Ngoài Phần mở đầu và Phần kết luận, luận văn được cơ cấu thành 03 chương
với các nội dung cụ thể như sau:
Chương 1: Khái quát về thuế thu nhập cá nhân và pháp luật thuế thu
nhập cá nhân.
Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật thuế thu
nhập cá nhân ở Sơn La hiện nay.
Chương 3: Phương hướng và các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả pháp
luật thuế thu nhập cá nhân ở Sơn La.
12
Chương 1
KHÁI QUÁT VỀ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN
VÀ PHÁP LUẬT THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN
1.1. Khái quát về thuế thu nhập cá nhân
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm của thuế thu nhập cá nhân
a) Khái niệm thuế thu nhập cá nhân
Trong hệ thống thuế ở các quốc gia, thuế thu nhập là loại thuế quan trọng
được áp dụng phổ biến ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển. Ở Việt Nam,
cũng như nhiều quốc gia trên thế giới, thuế thu nhập gồm hai loại là thuế Thu nhập
người không có quốc tịch có thu nhập chịu thuế phát sinh trong lãnh thổ quốc gia
thu thuế. Đặc điểm này đã phát sinh tình trạng đánh thuế hai lần thường gặp khi
thực hiện nghĩa vụ thuế thu nhập nói chung và thuế TNCN nói riêng. Đánh thuế
trùng ở thuế TNCN xảy ra khi một cá nhân với một khoản thu nhập chịu thuế có
thể vừa phải nộp thuế TNCN cho quốc gia mà cá nhân đó cư trú, vừa phải nộp
thuế TNCN cho quốc gia mà thu nhập đó phát sinh. Để hạn chế tình trạng này,
các quốc gia trên thế giới thường lựa chọn giải pháp ký kết các Hiệp định tránh
đánh thuế hai lần hoặc quy định khấu trừ nghĩa vụ thuế đã thực hiện ở quốc gia
khác trong Luật Thuế TNCN.
b) Đặc điểm thuế thu nhập cá nhân
- Thứ nhất, thuế TNCN là thuế trực thu
Thuế TNCN là thuế trực thu bởi cá nhân có thu nhập chịu thuế là người nộp
thuế, việc nộp thuế được tiến hành từ việc khấu trừ trực tiếp từ thu nhập của cá nhân
đó mà không thông qua hành vi tiêu dùng hoặc chủ thể trung gian khác.
Do thuế trực thu trực tiếp điều tiết vào thu nhập, tài sản của tổ chức và cá
nhân, có xem xét đến hoàn cảnh, điều kiện và khả năng đóng góp của người nộp thuế
nên nó rất có tác dụng trong việc điều hoà thu nhập, góp phần giảm bớt sự chênh lệch
về thu nhập và tài sản giữa các tầng lớp dân cư. Tuy nhiên, thuế trực thu lại có hạn
chế lớn là dễ gây phản ứng từ phía người nộp thuế hoặc dễ xảy ra tình trạng trốn, lậu
thuế nếu quy định mức thuế suất cao. Hơn nữa, việc theo dõi, tính toán và thu thuế
phức tạp, đặc biệt là thuế TNCN với diện thu thuế rộng và phân tán. Vì vậy, nếu
14
không có biện pháp quản lý thu thuế hiệu quả thì dễ dẫn đến hạn chế tác dụng của
loại thuế này trong việc tập trung số thu đầy đủ, kịp thời về cho NSNN.
- Thứ hai, thuế TNCN có đối tượng chịu thuế là thu nhập của cá nhân
Khái niệm “thu nhập” hiện nay chưa được hiểu thống nhất nên vẫn còn nhiều
quan điểm khác nhau. Chính vì vậy, các nhà làm luật thường chỉ liệt kê các khoản được
Thuế suất luỹ tiến được hiểu là việc áp dụng các thuế suất tăng dần đối với
các nhóm đối tượng chịu thuế hoặc toàn bộ đối tượng chịu thuế. Theo đó, hiện nay
thuế TNCN chủ yếu áp dụng thuế suất lũy tiến đối với thu nhập từ tiền công, tiền
lương. Đặc điểm này xuất phát từ vai trò chủ yếu của thuế thu nhập cá nhân là điều
tiết mạnh đối với người có thu nhập cao, góp phần thực hiện công bằng xã hội. Do
vậy, việc sử dụng thuế suất lũy tiến từng phần sẽ đáp ứng được nhu cầu đó vì phần
thu nhập tăng thêm càng cao thì sẽ phải tính thuế suất càng cao.
- Thứ tư, thuế TNCN là loại thuế có tính ổn định không cao và quá trình
quản lý phức tạp.
Đặc điểm này của thuế TNCN thể hiện ở chỗ các quy định về thu nhập chịu
thuế, thu nhập không chịu thuế thường xuyên thay đổi theo từng biến động của nền
kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ. Ngoài ra, các quy định như giảm trừ gia cảnh, về
mức thuế suất cũng có sự thay đổi linh hoạt do thuế điều tiết trực tiếp vào thu nhập
của cá nhân nên có tác động rất lớn đến mức sống của dân cư và chịu ảnh hưởng bởi
giá cả trên thị trường.
Việc quản lý thuế TNCN tương đối khó khăn, chi phí quản lý thuế thường
lớn hơn so với các loại thuế khác bởi ngoài việc xác định các khoản thu nhập chịu
thuế còn phải xác định nguồn gốc thu nhập, thời hạn cư trú của chủ sở hữu, tính ổn
định của thu nhập. Trong phần xác định thu nhập chịu thuế, phải xác định được các
khoản khấu trừ hợp lý để tiến hành khấu trừ khi tính thuế nhằm đảm bảo mục tiêu
công bằng và khuyến khích đối với đối tượng nộp thuế.
- Thứ năm,Thuế TNCN luôn gắn với chính sách xã hội của mỗi quốc gia.
Hầu hết các quốc gia đều gắn chính sách thuế TNCN với một số chính sách xã hội
khác. Thể hiện nó luôn quy định loại trừ một số khoản thu nhập trước khi tính thuế
16
TNCN như phúc lợi, thu nhập mang tính trợ cấp xã hội, khoản chi cần thiết cho
cuộc sống cá nhân, gia đình người nộp thuế, khoản chi mang tính nhân đạo xã hội
Theo quan điểm của các nước Châu Âu, Thuế TNCN được mệnh danh là
“Nữ hoàng” của các loại thuế, còn ở các nước Châu Á như Nhật Bản, gọi thuế
TNCN là “Vua” của các loại thuế2. Rõ ràng, phải có nhiều lý do khác nhau để
chứng minh cho vị trí quan trọng này của thuế TNCN, trong đó, có thể kể tới một số
lý do sau:
Một là, thuế TNCN thường chiếm tỷ trọng lớn trong nguồn thu của NSNN như:
Thuế TNCN của Mỹ chiếm 56% tổng thu NSNN, ở Đức và Thụy Điển chiếm 45%,
Anh chiếm 36%, Nhật chiếm 29%, Pháp chiếm 28%. Tỷ trọng thuế TNCN trong tổng
thu ngân sách của một số nước châu Á đang phát triển có thấp hơn như: Phi-lip-pin
17%, Malaysia 15%, Thái Lan 13%3 . Tuy nhiên, nếu so sánh trên tổng số thu NSNN
với nhiều khoản thu khác nhau, những con số thống kê nêu trên vẫn cho thấy sự đóng
góp đáng kể của thuế TNCN trong việc tạo nguồn thu cho NSNN.
Thuế TNCN được hình thành từ việc điều tiết một phần thu nhập chịu thuế
của các cá nhân trước khi hành vi tiêu dùng xảy ra. Mức thu thuế sẽ tỷ lệ thuận với
sự phát triển của nền kinh tế và mức sống của người dân trong xã hội, có nghĩa, thu
nhập của dân cư càng cao thì mức thu từ thuế TNCN càng tăng. Do đó, thuế TNCN
đang dần đóng vai trò quan trọng trong cơ cấu nguồn thu từ thuế cho NSNN.
Ngoài ra, thuế TNCN còn góp phần hạn chế sự thất thu thuế TNDN khi có sự
thông đồng giữa các doanh nghiệp hay giữa doanh nghiệp với cá nhân. Bởi trong
doanh nghiệp thường tồn tại cả thuế TNDN và thuế TNCN, trong trường hợp doanh
nghiệp kê khai cao hơn thực tế những chi phí phải trả cho các cá nhân để làm giảm
thu nhập tính thuế của doanh nghiệp nhằm trốn thuế TNDN thì các cá nhân nhận
được những khoản trả nói trên sẽ phải nộp thêm thuế TNCN đối với phần thu nhập
nhận được kê khai tăng thêm đó. Thu nhập của doanh nghiệp tăng thường kéo theo
sự tăng lên của thuế TNCN và thuế TNDN.
2
Công ty Luật Nam Long & Cộng sự, Thuế thu nhập cá nhân – Nữ hoàng các loại thuế, truy cập ngày
10/7/2015 tại địa chỉ http://luatnamlong.vn/chi-tiet/2627/thue-thu-nhap-ca-nhan-nu-hoang-cua-cac-loaithue/page:10
thực hiện nghĩa vụ thuế khác nhau nếu số lượng người phụ thuộc của họ không
4
Ths. Trần Vũ Hải, Tìm hiểu thuật ngữ pháp luật tài chính công, Nxb Tư pháp, 2009 trang 222
19
giống nhau. Đây là một đặc điểm mà các loại thuế gián thu không thể tính đến được
bởi nghĩa vụ thuế chỉ có thể phát sinh khi hành vi tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ xảy ra.
Thứ ba, thuế TNCN là công cụ gắn liền với việc thực hiện chính sách kinh tế,
chính sách xã hội của Nhà nước.
Thuế TNCN không chỉ là công cụ huy động nguồn thu NSNN, thực hiện
công bằng xã hội mà còn là một trong những công cụ quan trọng của Nhà nước
trong việc điều tiết vĩ mô nền kinh tế.
Thuế thu nhập cá nhân cũng có tác dụng điều tiết vĩ mô đối với nền kinh tế.
Loại thuế này điều tiết trực tiếp thu nhập cá nhân nên một mặt tác động trực tiếp
đến tiết kiệm, mặt khác làm cho khả năng thanh toán của các cá nhân bị giảm.Từ đó
cầu hàng hoá, dịch vụ giảm sẽ tác động đến sản xuất.
Ngoài ra để tiến hành thu thuế TNCN, Nhà nước cũng phải xây dựng một hệ
thống hành thu thuế, từ đó sẽ đánh giá được tình hình thu nhập của dân cư cũng như
thực trạng của nền kinh tế. Từ những đánh giá đó mà Nhà nước có thể đưa ra các
chính sách kinh tế khác phù hợp hơn như chính sách về việc làm, chính sách bảo
hiểm, chính sách trợ cấp xã hội,…
Thứ tư, thuế TNCN góp phần giúp Nhà nước kiểm soát thu nhập, phát hiện
thu nhập bất hợp pháp
Thực tế đã chứng minh nhiều khoản thu nhập của một số cá nhân nhận
được từ việc thực hiện các hành vi bất hợp pháp hoặc bằng cách lợi dụng những
kẽ hở của pháp luật mà nhà nước không kiểm soát được như tham ô, nhận hối,
Nói cách khác, pháp luật thuế TNCN bao gồm các quy định của pháp luật về
xác định đối tượng nộp thuế là cá nhân cứ trứ và không cư trú, thu nhập chịu thuế,
căn cứ tính thuế, chế độ kê khai thu nộp thuế, vấn đề đánh thuế trùng và thanh tra,
khiếu nại về thuế…
Viêc ban hành pháp luật thuế TNCN nhằm góp phần vào việc đảm bảo
được nguồn vật chất chi tiêu cho nhà nước; đảm bảo bao quát hết các nguồn thu
21
trong xã hội; là công cụ phân phối đảm bảo công bằng cho các đối tượng nộp
thuế; đảm bảo yêu cầu của các quan hệ kinh tế đối ngoại, quan hệ kinh tế quốc tế
trong từng thời kì.
- Pháp luật thuế TNCN khá phức tạp, do đặc điểm là điều tiết thu nhập của
dân cư, phạm vi điều chỉnh rất rộng, ngoài việc xác định thu nhập chịu thuế còn
phải xác định thời điểm phát sinh thu nhập, nguồn gốc, địa điểm, thời hạn cư trú của
đối tượng nộp thuế và các khoản chi phí được trừ trước khi tính thuế…
- Nguồn luật điều chỉnh quan hệ thuế TNCN bao gồm luật quốc gia và luật
quốc tế. Thu nhập có thể phát sinh trên lãnh thổ quốc gia hay ngoài lãnh thổ, đối
tượng nộp thuế có thể là công dân của quốc gia sở tại hay người nước ngoài. Thuế
TNCN có thể được điều chỉnh bởi hiệp định đánh thuế hai lần.
1.2.2. Cấu trúc pháp luật thuế thu nhập cá nhân
Thực tế cho thấy rằng luôn luôn có sự khác nhau giữa các quốc gia trong
việc thiết kế mô hình hệ thống pháp luật thuế.
Có những nước quy định tất cả các sắc thuế trong một Bộ luật chung về thuế,
gọi là Bộ luật thuế vụ. Trong bộ luật này, các nhà làm luật vừa quy định về nội dung
cụ thể của các loại thuế trong hệ thống thuế, vừa quy định về trình tự, tủ tục và các
cơ chế quản lý thuế cũng như xử lý vi phạm và giải quyết các tranh chấp về thuế.
Ngược lại, có những nước lựa chọn giải pháp thiết kế mỗi loại thuế được ban
hành bằng một đạo luật riêng, độc lập với nhau nhưng vẫn đảm bảo tính tính tương
thổ Việt Nam và cá nhân không cư trú có thu nhập chịu thuế phát sinh trong lãnh
thổ Việt Nam.
- Những quy định về căn cứ tính thuế có nhiệm vụ xác định rõ các chủ thể
nộp thuế (cá nhân) phải nộp số tiền là bao nhiêu cho Nhà nước. Những quy định
này chỉ rõ các yếu tố cần và đủ để xác định mức thế cụ thể cho một chủ thể nộp
thuế, khi xảy ra sự kiện làm phát sinh nghĩa vụ thuế. Thu nhập chịu thuế bao gồm:
Thu nhập từ kinh doanh; thu nhập từ tiền lương, tiền công; thu nhập từ đầu tư vốn;
thu nhập từ chuyển nhượng vốn; thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản; thu nhập
23
từ trúng thưởng; thu nhập từ bản quyền; thu nhập từ nhượng quyền thương mại; thu
nhập từ nhận thừa kế; thu nhập từ nhận quà tặng.
Thu nhập tính thuế của cá nhân phát sinh trong kỳ tính thuế là thu nhập mà
cá nhân nhận được trong kỳ sau khi đã trừ thu nhập được miễn thuế như thu nhập từ
chuyển nhượng bất động sản giữa vợ với chồng; cha, mẹ đẻ với con đẻ; cha, mẹ
nuôi với con nuôi; cha, mẹ chồng với con dâu; cha, mẹ vợ với con rể; ông, bà nội
với cháu nội; ông, bà ngoại với cháu ngoại; anh, chị, em ruột với nhau; thu nhập từ
kiều hối; thu nhập từ tiền lương hưu do Bảo hiểm xã hội chi trả; thu nhập từ học
bổng, trừ các khoản đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm trách nhiệm
nghề nghiệp… và giảm trừ các khoản chi phí liên quan để tạo ra thu nhập, các
khoản giảm trừ mang tính chất xã hội và các khoản giảm trừ khác.
Thuế suất: Luật thuế TNCN có hai biểu thuế suất:
- Biểu thuế lũy tiến từng phần: áp dụng thu nhập tính thuế đối với thu
nhập từ kinh doanh, tiền lương, tiền công. Có 7 mức thuế suất, thấp nhất là
5% và cao nhất là 35%.
- Biểu thuế suất toàn phần: áp dụng thu nhập tính thuế đối với thu nhập từ
đẩu tư vốn, chuyển nhượng bất động sản, nhượng quyền thương mại, trúng thưởng,
nhận thừa kế, quà tặng.
những hoạt động quan trọng trong quá trình thực hiện chức năng quản lý thuế của
các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Trước đây, các hoạt động này thường được
thực hiện bằng các quyết định hoặc hành vi hành chính đơn phương của Nhà nước
và bất chấp thái độ của người nộp thuế. Hiện nay, quy trình này về cơ bản đã được
thay đổi theo hướng dành quyền chủ động tối đa cho người nộp thuế trong việc tự
đăng ký thuế, tự kê khai, tính thuế và tự nộp thuế cho cơ quan Nhà nước. Đây là
bước đột phá quan trọng trong tiến trình cải cách hành chính thuế ở Việt Nam. Xét
từ phương diện pháp luật, các quy định này nhằm hướng tới mục tiêu mở rộng
quyền năng cho người nộp thuế, đồng thời qua đó cũng đề cao ý thức trách nhiệm
của họ trong quá trình thực hiện nghĩa vụ tài chính với Nhà nước.
25