Pháp luật về cho vay có đảm bảo bằng tài sản thế chấp của ngân hàng và thực tiễn áp dụng tại ngân hàng NNPTNT huyện mộc châu, tỉnh sơn la - Pdf 48

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

PHÁP LUẬT VỀ CHO VAY CÓ ĐẢM BẢO BẰNG
TÀI SẢN THẾ CHẤP CỦA NGÂN HÀNG VÀ THỰC TIỄN
ÁP DỤNG TẠI NGÂN HÀNG NN&PTNT
HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA

HOÀNG ANH DŨNG

Hà Nội - 2016


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

PHÁP LUẬT VỀ CHO VAY CÓ ĐẢM BẢO BẰNG
TÀI SẢN THẾ CHẤP CỦA NGÂN HÀNG VÀ THỰC TIỄN
ÁP DỤNG TẠI NGÂN HÀNG NN&PTNT
HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA
HOÀNG ANH DŨNG
Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số

: 60380107

thực tiễn đối với lĩnh vực dịch vụ tài chính còn nhiều hạn chế nên trong Luận văn sẽ
có những thiếu sót. Rất mong các thầy, các cô chỉ dẫn, đóng góp để Luận văn của
em được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Hoàng Anh Dũng


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU................................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1:NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO
VAY CÓ BẢO ĐẢM BẰNG TÀI SẢN THẾ CHẤP CỦA NGÂN HÀNG..........6
1.1. Khái niệm, đặc điểm hoạt động của ngân hàng...............................................6
1.2. Khái niệm, đặc điểm của nghĩa vụ dân sự và các biện pháp bảo đảm thực
hiện nghĩa vụ dân sự.............................................................................................11
1.3. Khái niệm, đặc điểm của hoạt động cho vay có bảo đảm bằng tài sản thế
chấp của ngân hàng...................................................................................................15
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1........................................................................................25
CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY CÓ BẢO ĐẢM BẰNG TÀI
SẢN THẾ CHẤP CỦA NGÂN HÀNG VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT
TẠI NGÂN HÀNG NN&PTNT HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA ...................26
2.1. Pháp luật hiện hành về bảo đảm tiền vay......................................................26
2.2. Nội dung cơ bản của pháp luật về thế chấp tài sản để bảo đảm tiền vay.......27
2.3. Thực tiễn thi hành pháp luật về hoạt động cho vay có bảo đảm bằng tài sản
thế chấp tại Ngân hàng NN&PTNT huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La.........................40
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2........................................................................................56
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN
PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY CÓ BẢO ĐẢM BẰNG TÀI SẢN


4.

LNH

Luật Ngân hàng

5.



Nghị định

6.

NQH

Nợ quá hạn

7.

NHNN

Ngân hàng nông nghiệp

8.

NHTM

Ngân hàng thương mại


14.

TT

Thông tư

15.

TTLT

Thông tư liên tịch


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu Đề tài
Đối với mọi quốc gia, hệ thống ngân hàng (NH) có vai trò đặc biệt quan
trọng, được ví như hệ thống mạch máu của nền kinh tế. Hoạt động tín dụng của
các ngân hàng như một kênh điều phối nguồn vốn của xã hội từ nơi thừa đến nơi
thiếu, từ nơi có đến nơi cần.Nếu nguồn vốn được điều phối và sử dụng hợp lý,
hiệu quả sẽ góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển, nâng cao đời sống của người
dân và đảm bảo an sinh xã hội. Ngược lại, nếu hoạt động tín dụng ngân hàng bị
“tắc ngẽn” thì nền kinh tế sẽ trì trệ, kém hiệu quả, thậm chí rơi vào khủng hoảng,
suy thoái.
Ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển, lợi nhuận của các ngân
hàng chủ yếu đến từ các dịch vụ giá trị gia tăng mà ngân hàng cung cấp cho
khách hàng chứ không phải từ chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất huy
động tiền gửi. Đây là đặc điểm của hoạt động ngân hàng hiện đại. Trong khi đó ở
nước ta, hệ thống ngân hàng thương mại mới được hình thành và đang trong quá
trình phát triển. Doanh thu của các ngân hàng chủ yếu đến từ hoạt động cho vay,

tỉnh Sơn La” làm Đề tài Luận văn Thạc sĩ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu Đề tài
Xét về mặt lý thuyết, cho đến nay ở Việt Nam cũngcó rất nhiều công trình, tác
phẩm nghiên cứu vềcho vay có bảo đảm bằng tài sản thế chấp nhưng ở những phạm
vi, giác độ nghiên cứu khác nhau. Cụ thể có những Đề tàiđã nghiên cứu sau:
- Bình luận khoa học về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong luật dân sự Việt
Nam - Nguyễn Ngọc Điện (2001).
- Một số vấn đề pháp lý cần xem xét trong các quy định về giao dịch bảo đảm
- Trương Thanh Đức (2000).
- Các biện pháp bảo đảm tiền vay bằng tài sản của các tổ chức tín dụng - Khoa
Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội (2006).
- Thế chấp quyền sử dụng đất vay vốn ngân hàng, những vướng mắc cần khắc
phục - Lê Thị Thu Thủy (2004).
- Tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất và những vấn đề có liên quan trong

2


quan hệ với các tổ chức tín dụng, Dân chủ và pháp luật - Nguyễn Quang Tuyến
(2004).
……
Như vậy, Đề tài tác giả chọn nghiên cứu tại Ngân hàng NN&PTNT huyện
Mộc Châu, tỉnh Sơn La không trùng lặp với Đề tài nào đã có từ trước cho đến nay.
3. Mục đích nghiên cứu
3.1. Mục đích tổng quát
Mục đích nghiên cứu tổng quát của Luận văn là hệ thống hóa, phân tích
làm rõ các quy định của pháp luật hiện hành về hoạt động cho vay có bảo đảm
bằng tài sản thế chấp trong hoạt động ngân hàng, đồng thời nghiên cứu, tìm hiểu
thực tiễn áp dụng tại Ngân hàng NN&PTNT huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La, chỉ
ra những điểm phù hợp cũng như những mặt còn tồn tại, hạn chế của chế định

- Những quy định về các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự nói
chung, biện pháp thế chấp tài sản nói riêng;
- Những quy định về hoạt động cho vay có bảo đảm bằng tài sản thế chấp
của ngân hàng;
- Thực tiễn áp dụng pháp luật về hoạt động cho vay có bảo đảm bằng tài sản
thế chấp tại Ngân hàng NN&PTNT huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ một Luận vănThạc sỹ luật học, học viên không có tham
vọng nghiên cứu và giải quyết tất cả mọi vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan
đến hoạt động tín dụng ngân hàng và các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ
trong hoạt động tín dụng ngân hàng nói chung. Ngược lại, Luận văn chỉ tập trung
nghiên cứu chuyên sâu những vấn đề lý luận và thực tiễn về hoạt động cho vay
có bảo đảm bằng tài sản thế chấp trong hệ thống Ngân hàng thương mại. Trọng
tâm của Luận văn tập trung vào thực tiễn thi hành pháp luật về hoạt động cho
vay có bảo đảm bằng tài sản thế chấp tại Ngân hàng NN&PTNT huyện Mộc
Châu, tỉnh Sơn La từ đó chỉ ra các tồn tại, bất cập và từ đó đề xuất các giải pháp

4


nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật quy định về hoạt động cho vay có
bảo đảm bằng tài sản của các ngân hàng thương mại nói chung.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện Luận văn, học viên sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa
học sau đây:
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Phân loại, hệ thống hóa, phân tích,
tổng hợp.
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Quan sát, thu thập, so sánh, phân tích,
tổng hợp.
Những phương pháp này giúp học viên tiếp cận các đối tượng nghiên cứu

Theo Luật Ngân hàng của Pháp năm 1941: “Những xí nghiệp hay cơ sở
hành nghề thường xuyên nhận của công chúng dưới hình thức ký thác hay hình
thức khác các số tiền mà họ dùng vào các nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hay tài
chính thì được coi là Ngân hàng”.
Luật Ngân hàng của Ấn Độ ban hành năm 1950, bổ sung năm 1959 đã quy
định: “Ngân hàng là cơ sở nhận các khoản tiền ký thác để cho vay hay tài trợ,
đầu tư”.
Khái niệm Ngân hàng thương mại của Luật Ngân hàng Đan Mạch năm
1930 căn cứ vào sự kết hợp với đối tượng hoạt động quy định: “Những Ngân
hàng thiết yếu gồm các nghiệp vụ nhận tiền ký thác, buôn bán vàng bạc, hành
nghề thương mại và các giá trị địa ốc, các phương tiện tín dụng và hối phiếu,

6


thực hiện các nghiệp vụ chuyển ngân, bảo hiểm,…” 1.
Ở Việt Nam, theo Điều 4 Luật Tổ chức tín dụng năm 2010, khái niệm
ngân hàng gắn liền với khái niệm tổ chức tín dụng. Theo đó, Ngân hàng là một
loại tổ chức tín dụng, mang bản chất là doanh nghiệp thực hiện một, một số hoặc
tất cả các hoạt động ngân hàng.
Khoản 2 Điều 4 quy định “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có
thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật
này”. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm
ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã.
Trong khái niệm này, pháp luật Việt Nam ấn định hoạt động ngân hàng do
cá tổ chức này thực hiện bao gồm kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc
một số các nghiệp vụ cơ bản như: Nhận tiền gửi; cấp tín dụng và cung ứng dịch
vụ thanh toán qua tài khoản.
- Nhận tiền gửi là hoạt động nhận tiền của tổ chức, cá nhân dưới hình thức
tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ

được phép thực hiện thanh toán quốc tế;
e) Các hình thức cấp tín dụng khác sau khi được Ngân hàng Nhà nước chấp
thuận.
4. Mở tài khoản thanh toán cho khách hàng.
5. Cung ứng các phương tiện thanh toán.
6. Cung ứng các dịch vụ thanh toán sau đây:
a) Thực hiện dịch vụ thanh toán trong nước bao gồm séc, lệnh chi, ủy nhiệm chi,
nhờ thu, ủy nhiệm thu, thư tín dụng, thẻ ngân hàng, dịch vụ thu hộ và chi hộ;
b) Thực hiện dịch vụ thanh toán quốc tế và các dịch vụ thanh toán khác sau khi
được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận.
Dựa trên ba hoạt động cơ bản này, các ngân hàng cung ứng các dịch vụ
tương ứng nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của thị trường và khách hàng.
Đặc điểm của Ngân hàng/tổ chức tín dụng
Thứ nhất, ngân hàng là một doanh nghiệp có quy mô lớn, hệ số nợ rất cao
và cấu trúc tài sản đặc biệt.

8


Ngân hàng là doanh nghiệp có quy mô lớn trên cả về vốn chủ sở hữu và
tổng tài sản. Vốn chủ sở hữu của một ngân hàng có thể lên tới nhiều tỷ đô la Mỹ.
Mạng lưới các chi nhánh Ngân hàng thường rất lớn và phân tán rộng về địa lý.
Quy mô về vốn chủ sở hữu rất lớn nhưng nguồn vốn của Ngân hàng lại chủ yếu
là nợ được huy động từ bên ngoài. Cấu trúc tài sản của Ngân hàng cũng đặc biệt
hơn so với các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh khác là ở tỷ trọng tài sản tài
chính. Phần lớn tài sản của Ngân hàng là tài sản tài chính, mang đặc trưng trừu
tượng, hình thái vật chất giản đơn chỉ là giấy tờ hoặc thậm chí chỉ là dữ liệu điện
tử được lưu giữ trong một thiết bị nhất định.
Thứ hai, hoạt động của Ngân hàng luôn chứa đựng nhiều rủi ro và chịu
sự kiểm soát, giám sát chặt chẽ của hệ thống luật pháp.

Khái niệm hoạt động cho vay của ngân hàng
Cho vay là hoạt động kinh doanh chủ yếu của ngân hàng thương mại để
tạo ra lợi nhuận. Doanh thu từ hoạt động cho vay mới bù đắp nổi chi phí tiền gửi,
chi phí dự trử, chi phí kinh doanh và quản lý, chi phí vốn trôi nổi, chi phí thuế
các loại và các chi phí rủi ro đầu tư.
Kinh tế càng phát triển, doanh số cho vay của các ngân hàng thương mại
càng tăng nhanh và loại hình cho vay càng trở nên vô cùng đa dạng ở hầu hết các
nước phát triển hàng đầu thế giới, cho vay của các ngân hàng thương mại đã
chuyển dần từ cho vay ngắn hạn sang cho vay dài hạn. Khu vực cho vay ngắn
hạn nhường chỗ cho thị trường tài chính- tiền tệ cung ứng. Ngược lại, ở hầu hết
các nước đang phát triển, cho vay ngắn hạn vẫn chiếm bộ phận lớn hơn cho vay
dài hạn, xuất phát từ chỗ thiếu an toàn cho các khoản đầu tư dài hạn (trong đó có
những tác nhân chủ yếu như tình hình tăng trưởng, lạm phát…)
Nhà kinh tế pháp Louis Baundin, đã định nghĩa cho vay (tín dụng) như là
“Một sự trao đổi tài hoá hiện tại lấy một tài hoá tương lai”2.
Khoản 16 Điều 4 Luật TCTD năm 2010 định nghĩa:“Cho vay là hình
thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách
hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian
nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”.
Đặc điểm của hoạt động cho vay của ngân hàng
2

Lê Văn Chi, Hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại, https://voer.edu.vn/pdf/04b1555c/1

10


Thứ nhất, hoạt động cho vay là một nghiệp vụ ngân hàng mang tính pháp
lý.
Cho vay của ngân hàng là một khái niệm kinh tế hơn là pháp lý. Các hành

luật dân sự, bao gồm các bên chủ thể, trong đó một bên chủ thể mang quyền có
quyền yêu cầu bên có nghĩa vụ dân sự phải chuyển giao một tài sản, phải thực
hiện một công việc hoặc không được thực hiện một công việc, phải bồi thường
một thiệt hại về tài sản.
Bên có nghĩa vụ dân sự trong quan hệ nghĩa vụ phải thực hiện các quyền
yêu cầu của bên có quyền dân sự hợp pháp. Là một dạng quan hệ pháp luật dân
sự, do vậy nó cũng có những căn cứ phát sinh, căn cứ làm thay đổi và chấm dứt
quan hệ hệ nghĩa vụ theo thoả thuận hợp pháp hay theo quy định của pháp luật.
Việc xác lập quan hệ nghĩa vụ do ý chí của quan của các chủ thể, việc hình thành
quan hệ nghĩa vụ nghĩa vụ còn do pháp luật quy định căn cứ vào sự kiện pháp lý
làm phát sinh nghĩa vụ.
Về mặt xã hội, nghĩa vụ còn được hiểu là việc một người thực hiện một
việc vì lợi ích của người khác, những hành vi đó pháp luật không quy định buộc
phải thực hiện (việc thực hiện này năm ngoài nghĩa vụ thực hiện công việc không
có sự uỷ quyền).
Về mặt pháp lý, Điều 280 BLDS 2005 quy định: “Nghĩa vụ dân sự là việc
mà theo đó, một hoặc nhiều chủ thể (bên có nghĩa vụ) phải chuyển giao một vật,
chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá, thực hiện công việc khác hoặc
không được thực hiện công việc nhất định vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể
khác (bên có quyền)”3. Theo đó, có thể hiểu nghĩa vụ dân sự là quan hệ pháp luật
về tài sản và nhân thân của các chủ thể, chủ thể mang quyền có quyền yêu cầu
chủ thể mang nghĩa vụ phải chuyển giao một tài sản, thực hiện một việc hoặc
không được thực hiện một việc vì lợi ích của mình hay lợi ích của người thứ ba,
phải bồi thường một thiệt hại về tài sản hoặc nhân thân do có hành vi gây thiệt
hại, vi phạm lợi ích hợp pháp của các bên có quyền. Chủ thể mang nghĩa vụ dân
sự có nghĩa vụ thực hiện quyền yêu cầu của chủ thể mang quyền. Các quyền dân
sự và nghĩa vụ dân sự của các bên chủ thể trong quan hệ nghĩa vụ theo quy định
của pháp luật hoặc theo thoả thuận của các bên xác lập quan hệ nghĩa vụ dân sự.
3


khác quyền chính trị, trách nhiệm hành chính, trách nhiệm hình sự và nghĩa vụ
về các loại thuế của cá nhân, pháp nhân… theo quy định của pháp luật.

13


1.2.2. Khái niệm, đặc điểm của các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ
dân sự
Khái niệm biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự
Hiện nay, trong các văn bản pháp luật không đưa ra một khái niệm hoàn
chỉnh về biện pháp bảo đảm. Tuy nhiên, dựa trên bản chất của các hoạt động
này, có thể khái quát hóa như sau: “Biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ là
những biện pháp pháp lý do các bên thoả thuận hoặc do pháp luật quy định
nhằm đảm bảo cho việc thực hiện hoặc để bảo đảm cho việc giao kết và thực
hiện nghĩa vụ”.
Khoản 1 Điều 318 BLDS năm 2005 liệt kê: “Các biện pháp bảo đảm thực
hiện nghĩa vụ dân sự bao gồm:
a) Cầm cố tài sản;
b) Thế chấp tài sản;
c) Đặt cọc;
d) Ký cược;
đ) Ký quỹ;
e) Bảo lãnh;
g) Tín chấp”.
Đặc điểm của biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự
Thứ nhất, đó phải là biện pháp do các bên thoả thuận hoặc do pháp luật
quy định.
Là một nội dung quan trọng trong quan hệ dân sự, biện pháp bảo đảm là
một cơ chế do luật định nhằm đảm bảo việc thực thi nghĩa vụ của chủ thể liên
quan trong một quan hệ nghĩa vụ. Với bản chất dân sự, biện pháp bảo đảm phải

sự phát triển của nền kinh tế nói riêng góp phần không nhỏ vào sự ổn định của
các quan hệ dân sự, kinh tế, tránh các tranh chấp phát sinh từ việc không thực
hiện hoặc có thực hiện nhưng không đúng nghĩa vụ dân sự của bên có nghĩa vụ.
Việc xác lập các giao dịch bảo đảm luôn hướng tới mục tiêu bảo vệ quyền lợi
của các bên tham gia giao dịch, đặc biệt là quyền lợi của bên có quyền trong giao
dịch này.
Thế chấp tài sản là một loại hình giao dịch bảo đảm được sử dụng rộng
rãi trong hoạt động bảo đảm tiền vay tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam.

15


Tài sản thế chấp có thể là tài sản hữu hình và quyền tài sản. Thế chấp tài sản
theo quy định hiện hành mang nhiều nét của một loại vật quyền bảo đảm cho
dù khái niệm này còn chưa được pháp luật Việt Nam công nhận một cách
chính thức. Biện pháp giao dịch bảo đảm này thiết lập ba mối quan hệ khác
nhau. Đầu tiên là quan hệ giữa bên nhận thế chấp (Ngân hàng) và bên thế
chấp (bên đi vay hoặc người thứ ba thế chấp tài sản của mình để bảo đảm
thực hiện nghĩa vụ của bên đi vay). Tiếp đến, thế chấp thiết lập một quyền ưu
tiên thanh toán có tính chất đối kháng với các chủ nợ khác. Cuối cùng, chế
định này trao cho người nhận thế chấp quyền truy đòi tài sản thế chấp từ bên
thứ ba mua hay nhận trao đổi tài sản thế chấp.
Đối với biện pháp bảo đảm là thế chấp, Điều 342 Bộ luật Dân sự năm
2005 có định nghĩa như sau: “Thế chấp tài sản là việc một bên (sau đây gọi là
bên thế chấp) dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa
vụ dân sự đối với bên kia (sau đây gọi là bên nhận thế chấp) và không chuyển
giao tài sản đó cho bên nhận thế chấp”.
Như đã đề cập ở trên, cho vay là một nghiệp vụ trong hoạt động ngân
hàng, theo đó, cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc
cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định

hàng hoá có dự án đầu tư, phương án sản xuất kinh doanh khả thi.
Tuy nhiên, không phải mọi khoản cho vay nào cũng phải có biện pháp bảo
đảm tiền vay bằng tài sản. Trên tinh thần trao quyền chủ động cho các tổ chức
tín dụng, nâng cao cạnh tranh, pháp luật của các nước đều cho phép các tổ chức
tín dụng chủ động tìm kiếm các dự án sản xuất kinh doanh có hiệu quả để cho
vay vốn không cần có tài sản bảo đảm.
Tham khảo quy định này trong Bộ luật dân sự Nhật Bản năm 1889, ta thấy
pháp luật Nhật Bản không dựa vào khái niệm động sản và bất động sản xây dựng
căn cứ giao kết hợp đồng thế chấp mà quy định căn cứ xác định là có hay không
sự chuyển giao thực tế tài sản. Tuy nhiên, đối với thế chấp thì biện pháp bảo đảm
công khai là hành vi đăng ký tài sản thế chấp vì tài sản thế chấp không được
chuyển giao cho người nhận thế chấp. Luật cho phép thế chấp bất động sản
(Khoản 1 Điều 369).
4

Quyết định số 67/1999/QĐ-TTg ngày 30 tháng 3 năm 1999 của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách
tín dụng ngân hàng phục vụ phát triển nông nghiệp và nông thôn

17


Điều 702, Bộ luật dân sự Thái Lan năm 1925 quy định hợp đồng thế chấp
là hợp đồng mà người thế chấp không giao tài sản thế chấp cho người nhận thế
chấp. Một số loại động sản có thể là đối tượng của tài sản thế chấp miễn là
những động sản đóđãđược đăng kýđúng luật. Với hợp đồng cầm cố thì lại quy
định rõ đối tượng là động sản và phải thực hiện việc chuyển giao tài sản cầm cố.
Đặc điểm thế chấp tài sản và cho vay thế chấp tài sản
Kinh doanh ngân hàng là một loại hình kinh doanh đặc biệt vì đối tượng
kinh doanh là tiền và thu nhập chủ yếu của ngân hàng được tạo ra từ hoạt động
tín dụng. Trong khi đó bất kì một khoản cho vay nào cũng đều chứa đựng những

thể.
Đối với bên nhận thế chấp, bên nhận thế chấp không phải giữ gìn và bảo
quản tài sản bảo đảm trong thời gian thế chấp như không phải lo về kho, bến bãi,
người trông coi hay các biện pháp bảo quản thích hợp cũng như không phải chịu
trách nhiệm bồi thường thiệt hại nếu làm hư hỏng, mất tài sản. Đối với bên thế
chấp, bên thế chấp vẫn được tiếp tục sử dụng, khai thác công dụng của tài sản
thế chấp và khả năng thu được lợi nhuận để thực hiện đúng, đầy đủ đối với bên
nhận thế chấp có tính khả thi cao hơn. Tuy nhiên, biện pháp thế chấp vẫn ẩn
chứa những rủi ro cho bên nhận thế chấp cao hơn so với bên nhận cầm cố.
Thứ nhất, đó là việc xác định tính xác thực của các giấy tờ thế chấp. Thực
tế đã chứng minh có rất nhiều bất cập xoay quanh vấn đề giấy tờ thế chấp như
trường hợp: Một tài sản thế chấp nhưng lại lập nhiều hồ sơ khác nhau để xin vay
tiền của các ngân hàng khác nhau. Việc làm giả giấy đăng ký ô tô, xe máy, giấy
chứng nhận quyền sử dụng một cách phổ biến và tinh vi đến nỗi nếu không thẩm
tra cụ thể tài sản trên thực tế thì bên nhận thế chấp rất khó phát hiện ra.
Thứ hai, việc giữ gìn tài sản thế chấp lại thuộc về bên có nghĩa vụ và họ
có quyền khai thác, sử dụng tài sản thế chấp nếu không có thỏa thuận khác. Như
vậy, rất dễ xảy ra hiện tượng: Bên thế chấp tìm cách bán tài sản thế chấp cho
người khác trong thời gian thế chấp mà bên nhận thế chấp không được biết hay
bên thế chấp lạm dụng quyền khai thác tài sản thế chấp dẫn đến tài sản đó bị hư
hỏng, giảm sút giá trị. Tất cả đều dẫn đến khả năng không bảo đảm được quyền
của bên nhận thế chấp.
Thực tiễn đối với hoạt động cấp tín dụng có thế chấp tài sản, việc xác

19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status