BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
PHÁP
LUẬT VỀ QUẢN LÝ THUẾ NHẬP KHẨU
TỪ THỰC TIỄN TẠI CHI CỤC HẢI QUAN
CỬA KHẨU SÂN BAY QUỐC TẾ NỘI BÀI
VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN
NGUYỄN VÂN HOÀNG
HÀ NỘI - 2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ THUẾ NHẬP KHẨU
TỪ THỰC TIỄN TẠI CHI CỤC HẢI QUAN CỬA KHẨU SÂN
BAY QUỐC TẾ NỘI BÀI VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN
NGUYỄN VÂN HOÀNG
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
quá trình hoàn thiện nghiên cứu này.
Em xin gửi lời cảm ơn trân trọng đến Ban lãnh đạo Chi cục Hải quan cửa
khẩu sân bay quốc tế Nội Bài - Cục Hải quan Thành phố Hà Nội và các bạn đồng
nghiệp đã nhiệt tình hỗ trợ thông tin, góp ý và đưa ra các phân tích, đánh giá sâu sắc
những nội dung liên quan đến đề tài nghiên cứu.
Mặc dù đã rất cố gắng, song do giới hạn kiến thức của tác giả và thời gian
nghiên cứu có hạn nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận
được sự đóng góp ý kiến của các Thầy giáo, Cô giáo để luận văn được hoàn thiện
hơn.
Xin trân trọng cảm ơn!
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỞ ĐẦU
Chương 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ KHÁI QUÁT CHUNG VỀ
QUẢN LÝ THUẾ NHẬP KHẨU ĐỐI VỚI HÀNG HÓA NHẬP KHẨU TẠI
CHI CỤC HẢI QUAN CỬA KHẨU SÂN BAY QUỐC TẾ NỘI BÀI
1.1. Pháp luật về quản lý thuế đối với hàng hóa nhập khẩu
1.1.1. Khái niệm về quản lý thuế đối với hàng hóa nhập khẩu
1.1.2. Đặc điểm của quản lý thuế NK đối với hàng hóa NK
1.2. Nội dung quản lý thuế nhập khẩu đối với hàng hóa nhập khẩu tại Chi cục
Hải quan CKSBQT Nội Bài
1.2.1. Đặc điểm của hàng hóa nhập khẩu qua đường hàng không và thuế nhập khẩu
đối với hàng hóa nhập khẩu
1.2.2. Nội dung quản lý thuế đối với hàng hóa nhập khẩu
1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý thuế nhập khẩu đối với hàng hóa nhập
khẩu tại Chi cục Hải quan CKSBQT Nội Bài.
1.3.1. Các yếu tố thuộc môi trường bên trong Chi cục hải quan
1.3.2. Các yếu tố thuộc môi trường bên ngoài
3.1.3. Đảm bảo cơ sở pháp lý để thực hiện thủ tục Hải quan theo cơ chế một cửa
quốc gia
3.2. Hoàn thiện quy định pháp luật về quản lý thuế NK đối với hàng hóa NK
thực hiện TQĐT tại Chi cục Hải quan CKSBQT Nội Bài
3.2.1. Hoàn thiện quy định về khai báo, kiểm tra thuế nhập khẩu, ấn định thuế và
thông quan hàng hóa nhập khẩu thực hiện TQĐT
3.2.2. Hoàn thiện quy định về hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế đối với hàng hóa
nhập khẩu
3.2.3. Hoàn thiện quy định về kiểm tra sau thông quan, xử lý vi phạm pháp luật về
thuế nhập khẩu
3.2.4. Hoàn thiện quy định về quản lý thông tin về người nộp thuế
3.3. Tăng cường hiệu quả trong hoạt động quản lý thuế hàng nhập khẩu của
Chi cục Hải quan CKSBQT Nội Bài.
3.3.1. Tăng cường năng lực quản lý đối với hàng hóa NK thực hiện TQĐT
3.3.2. Tăng cường cơ chế phối hợp với các cơ quan khác, các hiê ̣p hô ̣i ngành nghề
để thực hiện tốt pháp luâ ̣t quản lý thuế NK và pháp luâ ̣t về Hải quan
3.3.3. Tuyên truyền và phổ biến nhằm nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật thuế,
pháp luật Hải quan
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
ASEAN
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
Thông quan điện tử
TPP
Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương
TNTX
Tạm nhập tái xuất
VNACCS
Hệ thống thông quan hàng hóa tự động
VCIS
Hệ thống thông tin nghiệp vụ hải quan
VNACCS/VCIS
Hệ thống thông quan hàng hóa tự động
và Cơ chế một cửa quốc gia
WTO
Tổ chức thương mại thế giới
DANH MỤC BIỂU BẢNG
hàng hóa đã được thực hiện bằng thủ tục HQĐT. Thuận lợi thường đi kèm với rủi ro
cao, sự thông thoáng trong thủ tục hải quan sẽ dẫn đến tình trạng một số cá nhân, tổ
chức lợi dụng để vi phạm pháp luật. Khi tham gia các hiệp định song phương, đa
phương xu hướng thuế suất thuế NK giảm dần, trong khi nguồn thuế thu từ hàng
hóa NK vẫn góp phần lớn và ổn định cho ngân sách Nhà nước. Vì vậy, việc quản lý
thuế đối với hàng hóa NK thực hiện thủ tục HQĐT cần phải hoàn thiện để kiểm soát
được hoạt động thu thuế nhưng vẫn phải đảm bảo được tính công bằng, minh bạch
và công khai, nhằm hướng tới mục tiêu phục vụ cho công tác hoạch định chính sách
phát triển kinh tế xã hội của Đảng và Nhà nước trong từng thời kỳ.
Có thể thấy, hiện nay công tác quản lý thuế NK đối với hàng hóa NK vẫn
chưa đạt được hiệu quả như mong muốn, tình trạng gian lận để “trốn thuế” đã và
đang diễn ra trên cả nước nói chung và ở Chi cục Hải quan cửa khẩu sân bay quốc
tế Nội Bài (sau đây viết tắt là Chi cục Hải quan CKSBQT Nội Bài) nói riêng. Vì
vậy, hoàn thiện pháp luật về quản lý thuế NK, nhằm bảo đảm nâng cao hiệu quả
hoạt động quản lý thuế NK đã và đang là nhiệm vụ quan trọng của Chi cục Hải
quan CKSBQT Nội Bài. Trong bối cảnh đó, học viên đã chọn đề tài “Pháp luật về
Quản lý thuế nhập khẩu từ thực tiễn tại Chi cục Hải quan cửa khẩu sân bay
quốc tế Nội Bài và hướng hoàn thiện” làm đề tài luận văn Thạc sỹ Luật học với
mong muốn thực hiện tốt hơn chính công việc của mình, đồng thời góp phần nâng
cao hiệu quả công tác quản lý thuế NK tại Chi cục Hải quan CKSBQT Nội Bài.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
Liên quan đến đề tài nghiên cứu, có thể kể đến một số công trình nghiên cứu
tiêu biểu là các luận án tiến sỹ, luận văn thạc sỹ như sau:
- Luận án Tiến sĩ luật học của Vũ Văn Cương (2012), Pháp luật quản lý Thuế
trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam - những vấn đề lý luận và thực tiễn, Đại học
Luật Hà Nội;
- Luận văn thạc sỹ Kinh tế của Trần Thành Tô (2006), Đổi mới quản lý thu
thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu của ngành Hải quan hiện nay, Học viện Chính trị
- Lê Xuân Trường (2014), Hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động thanh
tra, kiểm tra thuế ở Việt Nam, Tạp chí Tài chính số 9.
Các công trình nghiên cứu kể trên đều nghiên cứu ở lĩnh vực quản lý thuế nói
chung, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu nói riêng và tiếp cận từ nhiều góc độ khác
nhau, mỗi đề tài đều có mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu và cách tiếp cận
mục tiêu khác nhau. Có công trình nghiên cứu đánh giá một cách tổng quan các vấn
đề lý luận và thực tiễn của pháp luật quản lý thuế trong nền kinh tế thị trường ở Việt
Nam; có công trình nghiên cứu đề xuất các giải pháp đổi mới quản lý thu thuế xuất
khẩu, thuế nhập khẩu của ngành Hải quan trong giai đoạn hiện này; thậm chí có
công trình chỉ bàn đến một vấn đề nào đó trong hoạt động quản lý thuế, như vấn đề
pháp luật thanh tra thuế, kiểm tra thuế ở Việt Nam; kiểm tra sau thông quan trong
thủ tục HQĐT... Những kết quả nghiên cứu của các công trình nghiên cứu này là
những tài liệu quan trọng cung cấp những nền tảng lý luận và thực tiễn có giá trị
tham khảo cho tác giả trong quá trình nghiên cứu đề tài của mình.
Tuy nhiên, trong các công trình nghiên cứu nói trên, chưa có công trình nghiên
cứu nào đi sâu nghiên cứu về thực tiễn áp dụng pháp luật về quản lý thuế NK tại
Chi cục Hải quan CKSBQT Nội Bài. Với kinh nghiệm thực tiễn của cán bộ công
chức thực thi nhiệm vụ trực tiếp tại Chi cục Hải quan CKSBQT Nội Bài, tác giả
mong muốn áp dụng những tri thức đã lĩnh hội được trong quá trình học tập để phục
vụ tốt hơn cho quá trình công tác của mình. Đây vừa là điểm mới và cũng là cách
tiếp cận nghiên cứu của tác giả trong công trình nghiên cứu này.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục đích nghiên cứu
Việc nghiên cứu đề tài “Pháp luật về Quản lý thuế nhập khẩu từ thực tiễn
tại Chi cục Hải quan cửa khẩu sân bay quốc tế Nội Bài và hướng hoàn thiện”,
trước hết là đi sâu phân tích thực trạng áp dụng các quy định của pháp luật về quản
lý thuế NK tại Chi cục Hải quan CKSBQ Nội Bài; phân tích làm rõ những bất cập,
vướng mắc và nguyên nhân của những vướng mắc, bất cập trong thực tiễn. Từ đó,
những vướng mắc, bất cập trong thực tiễn áp dụng pháp luật.
- Phạm vi thời gian: luận văn nghiên cứu về pháp luật quản lý thuế NK đối
với hàng hoá NK thực hiện HQĐT giai đoạn từ năm 2013 đến nay. Đây là giai đoạn
quản lý thuế NK đối với hàng hoá NK thực hiện HQĐT được thể chế hoá mạnh mẽ
trong Luật Quản lý thuế, Luật Hải quan, Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu. Với
chủ trương về cải cách thủ tục hành chính của Đảng và Nhà nước nên giai đoạn
2013 - 2015 ngành Hải quan đã đẩy mạnh cải cách thủ tục Hải quan, áp dụng công
nghệ thông tin nhằm giảm thời gian thông quan hàng hoá. Do đó, luận văn nghiên
cứu thực trạng thực hiện cho giai đoạn từ năm 2013 - 2015 và đề xuất các giải pháp
thực hiện cho giai đoạn tương lai.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
Để thực hiện mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra, luận văn dựa trên
phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác-Lênin, sử dụng tổng hợp một số phương
pháp như thống kê, so sánh, phân tích, tổng kết thực tiễn. Ngoài ra, luận văn cũng
kế thừa một số kết quả nghiên cứu của các công trình nghiên cứu liên quan, đồng
thời dựa vào chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước về quản lý
thuế trong lĩnh vực Hải quan hiện nay.
Các phương pháp nghiên cứu khoa học cơ bản được áp dụng trong nghiên
cứu đề tài bao gồm:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, nghiên cứu điển hình, nghiên
cứu tài liệu, trong nghiên cứu thực tiễn áp dụng của pháp luật về quản lý thuế NK
đối với hàng hóa NK thực hiện HQĐT qua các số liệu, thống kê thu thập được.
- Phương pháp so sánh luật học: nghiên cứu so sánh đối chiếu từng giai đoạn,
các cam kết quốc tế mà Việt Nam tham gia về quản lý thuế NK đối với hàng hóa
NK, qua đó học hỏi và rút ra những bài học kinh nghiệm.
- Phương pháp phân tích, suy luận, tổng hợp, bình luận được sử dụng qua đó
1.1. Pháp luật về quản lý thuế đối với hàng hóa nhập khẩu
1.1.1. Khái niệm về quản lý thuế đối với hàng hóa nhập khẩu
Quản lý thuế là mô ̣t lĩnh vực quản lý chuyên ngành thuô ̣c quản lý hành chính
Nhà nước. Quản lý thuế gồm những hoạt động có tổ chức trong bộ máy nhà nước,
thuộc lĩnh vực hành pháp và tư pháp về thuế của cơ quan thuế các cấp, với các chức
năng nhiệm vụ quyền hạn do luật định, nhằm thực hiện chính sách thuế đã được cơ
quan có thẩm quyền thông qua.
Có thể hiểu “Quản lý thuế là quản lý việc thực thi và đảm bảo thực thi các
chính sách thuế hay là việc thực hiện quyền hành pháp và tư pháp của nhà nước
trong lĩnh vực thuế”[13, tr.18] hoặc “Quản lý thuế là quản lý hành chính nhà nước
về thuế, bao gồm việc tổ chức, quản lý, điều hành quá trình thu nộp thuế”[56, tr.12].
Pháp luật quản lý thuế nhập khẩu là một bộ phận của pháp luật quản lý thuế
quy định về quyền hạn, nghĩa vụ, trách nhiệm của người nộp thuế và cơ quan quản
lý và các chủ thể liên quan đến quản lý thuế; quy định trình tự thủ tục, cách thức,
phương pháp tổ chức thực hiện các quy định pháp luật về thuế NK [21, tr.12].
Hiện nay, Điều 12 Luật Hải quan sửa đổi, bổ sung năm 2014 quy định: “Hải
quan Việt Nam có nhiệm vụ thực hiện pháp luật về thuế đối với hàng hóa nhập
khẩu; kiến nghị chủ trương, biện pháp quản lý nhà nước về hải quan đối với hoạt
động nhập khẩu và chính sách thuế đối với hàng hóa nhập khẩu”[40].
Từ các nội dung khái quát như trên ta có thể đưa ra khái niệm quản lý thuế
nhập khẩu của ngành Hải quan như sau:
Quản lý thuế NK đối với hàng hóa NK là hoạt động dựa trên những quy định
của pháp luật do cơ quan Hải quan thực hiện nhằm mục tiêu đảm bảo thu thuế NK
đúng, đủ và công bằng.
Quản lý thuế NK trước hết quan tâm tới việc thực thi chính sách về thuế NK,
để thực hiện tốt công tác quản lý thuế này cần có một chính sách thuế hợp lý, một
cơ chế quản lý đồng bộ và có hiệu quả. Sau khi chính sách thuế được hoạch định và
các Hiệp định thương mại song phương và đa phương, các quốc gia thống nhất cùng
cắt giảm thuế NK theo một tiến trình đã định. Thực hiện hài hoà và đơn giản hoá
thủ tục hải quan, thực hiện chính sách đối xử bình đẳng giữa hàng hoá sản xuất
trong nước với hàng hóa NK từ nước ngoài và giữa hàng hoá NK từ các nước khác
nhau theo các nguyên tắc cụ thể khi tham gia vào tổ chức thương mại quốc tế hay
các khối mậu dịch khu vực. Một số nguyên tắc cơ bản mà từ đó có thể phát sinh
quyền và nghĩa vụ liên quan đến pháp luật thuế NK đó là các nguyên tắc: không
phân biệt đối xử, bảo hộ thông qua hàng rào thuế quan, công khai và thúc đẩy cạnh
tranh lành mạnh, có đi có lại, tự do hoá các ràng buộc cắt giảm thuế quan, bảo hộ
phòng ngừa bất trắc.
Do vậy, để phù hợp với các nguyên tắc và thông lệ chung nêu trên, các quốc
gia phải có những điều chỉnh nhất định về chính sách thuế NK theo hướng tuân thủ
các điều ước quốc tế đã tham gia. Có thể nói đây là một đặc điểm có tính nổi trội
của quản lý thuế NK so với các loại thuế khác.
Điển hình về các quy phạm của điều ước quốc tế đã được nội luật hóa để trở
thành quy phạm pháp luật quản lý thuế NK ở Việt Nam hiện nay có thể kể đến là
các quy định về Trị giá tính thuế hàng hóa NK theo nguyên tắc của xác định trị giá
GATT hoặc các quy định về phân loại hàng hoá theo HS.
Quản lý thuế NK có quan hệ chặt chẽ với Luật Hải quan, Luật Thuế xuất
khẩu, thuế nhập khẩu, Luật Thương mại vì phạm vi điều chỉnh của chúng đều liên
quan đến quản lý hoạt động nhập khẩu hàng hóa.
Trong Luật Hải quan, hàng hoá được NK đều phải khai báo thủ tục Hải quan
trước khi thông quan theo quy định. Việc khai báo phải đáp ứng các tiêu chí: tên
hàng, số lượng, chủng loại, chất lượng, trị giá, thuế suất, xuất xứ, phương tiện vận
chuyển của hàng hoá nhập khẩu...
1.2. Nội dung quản lý thuế nhập khẩu đối với hàng hóa nhập khẩu tại Chi cục
Hải quan CKSBQT Nội Bài
1.2.2.1. Quản lý khai báo hải quan về thuế nhập khẩu
Quản lý khai báo thuế NK là khâu đầu tiên, quan trọng nhất đối với công tác
quản lý thuế NK. Mục đích của quản lý khai thuế NK là đảm bảo doanh nghiệp xác
định đúng các yếu tố và tính chính xác số tiền thuế NK phải nộp. Quản lý khai báo
Hải quan về thuế NK bao gồm các bước sau:
- Kiểm tra điều kiện về thông tin người nộp thuế
+ Kiểm tra các điều kiện về ân hạn thuế, nợ thuế quá hạn của doanh nghiệp
khi tiếp nhận tờ khai hải quan thông qua Hệ thống thông quan hàng hóa tự động
VNACCS/VCIS. Hệ thống thông tin về người nộp thuế nhập khẩu bao gồm những
thông tin liên quan đến người nộp thuế như: Tên công ty, mã số thuế, địa chỉ, giám
đốc, số tờ khai, ngày mở tờ khai Hải quan, mặt hàng nhập khẩu, số tiền thuế phải
nộp, số tiền thuế đã nộp, nợ thuế, số lần vi phạm pháp luật. Thông tin về nộp thuế là
yêu cầu quan trọng của công tác quản lý thuế hiện đại, đảm bảo cho cơ quan Hải
quan theo dõi, tổng hợp, phân tích, đánh giá mức độ tuân thủ pháp luật thuế của
người nộp thuế. Trên cơ sở đó, cơ quan Hải quan tập trung vào quản lý các đối
tượng có nhiều khả năng vi phạm pháp luật thuế, tránh thất thu ngân sách, đồng thời
giảm phiền hà cho đối tượng chấp hành tốt pháp luật thuế, ngăn ngừa, phát hiện vi
phạm pháp luật thuế. Trường hợp doanh nghiệp không còn nợ thuế quá hạn và đảm
bảo các điều kiện khác thì thực hiện đăng ký tờ khai Hải quan.
- Kiểm tra khai báo Hải quan
+ Tiếp nhận khai báo
Một trong các ý nghĩa quan trọng của HQĐT là việc người khai hải quan tự
khai, tự chịu trách nhiệm về các loại thuế đối với hàng hóa NK. Hệ thống
VNACCS/VCIS sẽ tự động kiểm tra các khai báo của người khai hải quan qua đó
đưa ra các quyết định phân luồng. Hệ thống sẽ đưa ra các trường hợp: luồng xanh
(hàng hóa được thông quan luôn mà không phải khai báo), luồng vàng (người khai
hải quan phải nộp các giấy tờ trong bộ hồ sơ hải quan để cơ quan Hải quan kiểm
tra), luồng đỏ (người khai hải quan phải xuất trình đầy đủ hàng hóa cho cơ quan
được tiến hành theo trình tự thủ tục đã được quy định. Để hạn chế việc gây phiền
hà, sách nhiễu, cản trở hoạt động của người nộp thuế thì kiểm tra thuế, kiểm tra sau
thong quan chỉ được tiến hành trong thời gian cụ thể, cơ quan Hải quan phải công
bố lý do, nội dung kiểm tra để người nộp thuế được biết và chỉ có quyền yêu cầu
người nộp thuế giải trình, bổ sung những thông tin, tài liệu được ấn định trong quyết
định kiểm tra, cơ quan Hải quan phải giữ bí mật thông tin về người nộp thuế.
Ba là, tuân thủ quy định của Luật Quản lý thuế và các quy định khác của
pháp luật có liên quan.
Theo nguyên tắc này, từ việc lựa chọn đối tượng kiểm tra, quyết định kiểm
tra, cho tới việc tiến hành kiểm tra, ban hành kết luận và xử lý kết luận kiểm tra
thuế đều phải tuân thủ những quy định của pháp luật. Điều này vừa đảm bảo tính
thống nhất, minh bạch, hiệu quả trong pháp luật quản lý thuế nhập khẩu.
+ Kiểm tra tên hàng, mã số hàng hóa, mức thuế khi kiểm tra hồ sơ hải quan.
Cán bộ hải quan kiểm tra nội dung khai và kiểm tra tính chính xác về tên
hàng, mã số hàng hóa, trị giá tính thuế, mức thuế khai trên tờ khai hải quan với các
thông tin ghi trên các chứng từ trong hồ sơ hải quan.
Qua kiểm tra các chứng từ, nếu cơ quan Hải quan có đủ cơ sở xác định người
khai hải quan khai không đúng tên hàng, mã số hàng hóa, mức thuế thì hướng dẫn
người khai hải quan khai bổ sung như quy định. Trường hợp người khai hải quan
không nộp được chứng từ theo yêu cầu của cơ quan hải quan hoặc qua kiểm tra các