Tố tụng cạnh tranh đối với các hành vi cạnh tranh không lành mạnh theo pháp luật việt nam - Pdf 48

NGUYỄN TUẤN SƠN
2016

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ
LUẬT KINH TẾ

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

TỐ TỤNG CẠNH TRANH ĐỐI VỚI
CÁC HÀNH VI CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH
MẠNH THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
NGUYỄN TUẤN SƠN

2014 -

HÀ NỘI - 2016


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ
TỐ TỤNG CẠNH TRANH ĐỐI VỚI
CÁC HÀNH VI CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
NGUYỄN TUẤN SƠN
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 60380107

Xin trân trọng cảm ơn !
Hà Nội, ngày 01 tháng 9 năm 2016
Tác giả luận văn

Nguyễn Tuấn Sơn


MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU ............................................................................................................ 1
1. Tính cấp thiết của đề tài........................................................................................... 1
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến luận văn........................................................... 2
3. Mục đích nghiên cứu ............................................................................................... 2
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ............................................................................ 3
5. Phương pháp nghiên cứu ......................................................................................... 3
6. Kết cấu của luận văn ............................................................................................... 4
CHƯƠNG 1: CỞ SỞ PHÁP LÝ CỦA TỐ TỤNG CẠNH TRANH ĐỐI VỚI
HÀNH VI CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH ................................................... 5
1.1. Khái niệm tố tụng cạnh tranh ................................................................................ 5
1.2. Thẩm quyền và thủ tục tố tụng cạnh tranh ..................................................... 8
1.2.1. Khái niệm hành vi cạnh tranh không lành mạnh ......................................................................8
1.2.2. Thẩm quyền tố tụng cạnh tranh đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh .................. 12
1.2.3. Thủ tục tố tụng cạnh tranh đối với các hành vi cạnh tranh không lành mạnh.................... 18
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TỐ TỤNG CẠNH TRANH ĐỐI VỚI HÀNH VI
CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH Ở VIỆT NAM .......................................... 25
2.1. Thực tiễn pháp lý về tố tụng cạnh tranh đối với hành vi cạnh tranh không
lành mạnh:................................................................................................................. 25
2.1.1. Thụ lý hồ sơ khiếu nại:............................................................................................................... 26
2.1.2. Điều tra sơ bộ ............................................................................................................................. 27
2.1.3. Điều tra chính thức .................................................................................................................... 28



MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Khoản 2, Điều 51 Hiến Pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm
2013 quy định: “Các thành phần kinh tế đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền
kinh tế quốc dân, các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác và cạnh
tranh theo pháp luật.” [27].
Khoản 1, Điều 4 Luật cạnh tranh năm 2004 cũng quy định: “Doanh nghiệp
được tự do cạnh tranh trong khuôn khổ pháp luật, Nhà nước bảo hộ quyền cạnh tranh
hợp pháp trong kinh doanh.” [18].
Sản xuất hàng hóa, hoạt động thương mại là hoạt động cơ bản để duy trì đời
sống vật chất của xã hội, cạnh tranh là một trong những quy luật của cơ chế thị trường,
đồng thời còn là thuộc tính của kinh tế thị trường. Vì vậy, nó hiện diện trong nền kinh
tế như một yếu tố tất yếu. Xét theo phương diện tích cực, cạnh tranh là động lực thúc
đẩy sự phát triển nền kinh tế. Song xét theo phương diện khác, chính cạnh tranh là yếu
tố đưa lại những hậu quả tiêu cực về kinh tế - xã hội. Cạnh tranh gay gắt sẽ đẫn đến
tình trạng cạnh tranh không lành mạnh và tất yếu độc quyền kinh tế sẽ xuất hiện.
Trên thực tế, cạnh tranh không lành mạnh và độc quyền kinh tế được các trường
phái kinh tế khác nhau trên thế giới khẳng định là một trong những khuyết tật chủ yếu
của kinh tế thị trường.
Việt Nam đang tiến lên xây dựng nền kinh tế thị trường trong bối cảnh văn hóa
pháp lý và văn hóa cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam còn nhiều hạn chế. Nền
kinh tế Việt Nam phát triển chưa cao lại tạo cơ hội cho những cạnh tranh không lành
mạnh phát triển. Môi trường kinh doanh của Việt Nam chưa thực sự tạo ra sự cạnh
tranh, trong khi đó, hành vi cạnh tranh không lành mạnh lại không hiếm gặp. Pháp luật
cạnh tranh đã được ban hành nhưng chưa thực sự biết đến và vận dụng rộng rãi. Luật
cạnh tranh và các văn bản hướng dẫn thi hành tuy đã có nhưng chưa hoàn thiện, gây
khó khăn cho việc giải thích và áp dụng. Tố tụng cạnh tranh - “bộ máy” để đưa các chế
định nội dung về cạnh tranh vào thực tiễn, theo đó, đòi hỏi phải phù hợp và hiệu quả

theo pháp luật Việt Nam.

5. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài, luận văn đã sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng,
phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp, phương pháp so sánh.

3


6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của
luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở pháp lý của tố tụng cạnh tranh đối với hành vi cạnh tranh
không lành mạnh
Chương 2: Thực trạng tố tụng cạnh tranh đối với hành vi cạnh tranh không
lành mạnh ở Việt Nam
Chương 3: Các giải pháp nâng cao hiệu quả của tố tụng cạnh tranh đối với
hành vi cạnh tranh không lành mạnh.

4


CHƯƠNG 1
CƠ SỞ PHÁP LÝ CỦA TỐ TỤNG CẠNH TRANH
ĐỐI VỚI HÀNH VI CẠNH TRANH KHÔNG
LÀNH MẠNH
1.1. Khái niệm tố tụng cạnh tranh
Thuật ngữ “tố tụng” đã được học giả Đào Duy Anh giải nghĩa trong từ điển Hán
- Việt, theo đó “tố tụng” là việc thưa kiện, “tố tụng pháp lý” là pháp luật quy định
những thủ tục về cách tố tụng [1, tr. 32]. Học giả Lê Gia giải nghĩa chi tiết hơn, theo

- Một là vụ việc có dấu hiện vi phạm quy định của Luật cạnh tranh.
Vụ việc có dấu hiệu vi phạm quy định của Luật cạnh tranh là điều kiện cần để
xem xét một vụ việc có được coi là vụ việc cạnh tranh hay không. Các vụ việc không
có dấu hiệu vi phạm Luật cạnh tranh bị loài trừ khỏi nội hàm của khái niệm tố tụng
cạnh tranh. Tiêu chí “có dấu hiệu vi phạm quy định của Luật cạnh tranh” là tiền đề để
loại bỏ một số hoạt động của cơ quan quản lý Nhà nước về cạnh tranh ra khỏi nội hàm
của tố tụng cạnh tranh, như: hoạt động của các cơ quan có thẩm quyền trong việc xem
xét và quyết định cho hưởng miễn trừ đối với các hành vi tập trung kinh tế hay thỏa
thuận hạn chế cạnh tranh; các hoạt động điều tra để xác định thị trường liên quan, xác
định thị phần…
- Hai là bị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền điều tra, xử lý theo quy định của
pháp luật.
Cơ quan có thẩm quyền điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật là các cơ
quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng cạnh tranh bao gồm: cơ quan quản lý cạnh tranh
và hội đồng cạnh tranh. Các cơ quan này khi tiến hành tố tụng cạnh tranh được thực
hiện từ người có thẩm quyền tiến hành tố tụng cạnh tranh, bao gồm thành viên hội
đồng cạnh tranh, thủ trưởng cơ quan quản lý cạnh tranh, điều tra viên và thư ký phiên
điều trần. Dấu hiệu này cho phép phân biệt tố tụng khác được tiến hành bởi tòa án hay
cơ quan có thẩm quyền tương ứng (tố tụng hình sự, tố tụng hành chính, tố tụng dân sự,
tố tụng kinh tế, tố tụng lao động…). Như vậy, vụ việc tuy có dấu hiệu vi phạm pháp
luật cạnh tranh nhưng không được cơ quan có thẩm quyền điều tra, xử lý theo quy
định của pháp luật cũng không thuộc vụ việc cạnh tranh. Một vụ việc khi hội đủ hai
điều kiện nêu trên (có dấu hiệu vi phạm luật cạnh tranh và bị cơ quan có thẩm quyền
điều tra, xử lý) mới được coi là vụ việc cạnh tranh và mới được giải quyết theo tố tụng
cạnh tranh.

6


Thứ hai, tố tụng cạnh tranh áp dụng cho cả hai loại hành vi vi phạm pháp luật


7


tranh, cơ quan quản lý cạnh tranh có thể tự mình quyết định điều tra sơ bộ mà không cần
có đơn khiếu nại của bên liên quan.

1.2. Thẩm quyền và thủ tục tố tụng cạnh tranh
1.2.1. Khái niệm hành vi cạnh tranh không lành mạnh
Cạnh tranh với bản chất là sự ganh đua giữa các chủ thể kinh doanh trong việc
giành ưu thế của mình trên thương trường để đạt một mục tiêu nào đó. Để đạt được
mục tiêu của mình, chủ thể tham gia cạnh tranh có khả năng sáng tạo rất nhiều cách
thức ganh đua khác nhau, tạo ra tình trạng cạnh tranh ở những mức độ khác nhau,
thậm chí, xuất hiện cả những hành vi trái với các chuẩn mực đạo đức kinh doanh.
Cạnh tranh không lành mạnh,trước hết, là một khái niệm bắt nguồn từ những quy định
mang tính nguyên tắc trong pháp luật dân sự, theo đó, các chủ thể trong giao dịch (dân
sự hay thương mại) phải đảm bảo tôn trọng thuần phong, mỹ tục và đạo đức xã hội ở
mỗi quốc gia. Với những quy định như vậy, giao dịch thương mại trên thị trường cũng
phải đảm bảo tôn trọng những quy tắc trong xã hội về đạo đức kinh doanh. Sự phát
triển đa dạng của các quan hệ thương mại trong điều kiện tự do cạnh tranh ở các nền kinh
tế theo cơ chế thị trường đã kéo những hành vi cạnh tranh đa dạng, phức tạp nhằm giành
được lợi thế nhất định cho mình, thậm chí gây thiệt hại cho đối thủ cạnh tranh khác. Hành
vi cạnh tranh không lành mạnh có thể hiểu là những hành vi cạnh tranh của chủ thể tham
gia thị trường vi phạm những chuẩn mực đạo đức kinh doanh thông thường có thể gây
thiệt hại về vật chất hoặc tinh thần cho chủ thể kinh doanh khác và người tiêu dùng.
Quy định của pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh phản ánh mặt trái của
hành vi, có nghĩa là hành vi đó có dấu hiệu trái với chuẩn mực đạo đức trong kinh
doanh của các chủ thể tham gia thị trường. Khác với hành vi hạn chế cạnh tranh, hành
vi cạnh tranh không lành mạnh không thể hiện năng lực hay cường độ cạnh tranh của
chủ thể tiến hành. Dưới giác độ của hạn chế cạnh tranh, doanh nghiệp thông qua sức

Và Điều 9 ( Luật Thương mại 1997) quy định về bảo vệ lợi ích chính đáng của
người sản xuất, người tiêu dùng:
1. Thương nhân có nghĩa vụ thông tin đầy đủ, trung thực về hàng hóa và dịch
vụ mà mình cung ứng.
2. Thương nhân phải bảo đảm tính hợp pháp của hàng hóa bán ra
3. Cấm thương nhân:
a) Nâng giá, ép giá gây thiệt hại cho người sản xuất, người tiêu dùng;
b) Lừa dối khách hàng, gây nhầm lẫn cho khách hàng;
c) Bán hàng giả;
d) Bán hàng kém chất lượng, sai quy cách với hàng đã đăng ký;
đ) Quảng cáo dối trá;
9


e) Khuyến mại bất hợp pháp;
4. Người tiêu dùng được thành lập tổ chức để bảo vệ lợi ích chính đáng của
mình theo quy định của pháp luật.
5. Trong trường hợp lợi ích của mình bị xâm phạm, người tiêu dùng có quyền
khiếu nại thương nhân đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền hoặc khởi kiện thương
nhân tại tòa án theo quy định của pháp luật.
Những quy định trên đây của Luật Thương mại năm 1997, mặc dù còn sơ khai
và mới chỉ liệt kê, nhưng cũng đưa ra những khuôn khổ ban đầu cho việc tiến hành các
hành vi cạnh tranh phù hợp với đạo đức kinh doanh. Do ý thức pháp luật của xã hội
trong lĩnh vực kinh doanh còn thấp cũng như chưa có cơ chế thực thi phù hợp, các quy
định trên chưa thể điều chỉnh một cách có hiệu quả những hành vi cạnh tranh trên thị
trường. Dưới giác độ của việc bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, Công ước Paris 1883
cũng đã đưa ra những biểu hiện của hành vi bị coi là cạnh tranh không lành mạnh
(Điều 10 bis, Khoản 2): Bất cứ hành động nào trái với tập quán trung thực trong công
nghiệp và thương mại đều bị coi là hành động cạnh tranh không lành mạnh.
Khoản 3 quy định: những hành động sau đây phải bị ngăn cấm:

ngân hàng, xúc tiến thương mại…
Cạnh tranh không lành mạnh là những hành vi cụ thể, đơn phương, vì mục đích
cạnh tranh của chủ thể kinh doanh luôn thể hiện tính không lành mạnh (chứ không chỉ
là bất hợp pháp) mà mục đích của nó là gây cho một hay một số đối thủ cạnh tranh cụ
thể sự bất lợi hay gây thiệt hại trong hoạt động kinh doanh. Điều này cho thấy, hành vi
cạnh tranh không lành mạnh có mức độ ảnh hưởng tiêu cực trên thị trường hẹp, thường
chỉ tác động lên một số chủ thể nhất định mà không ảnh hưởng đến một khu vực thị
trường rộng như hành vi hạn chế cạnh tranh, ngay cả khi những hành vi đó do tính
chất mức độ nguy hại của nó xâm phạm đến các đối tượng được luật Hình sự bảo vệ.
Bởi vậy, nhóm hành vi này thường không liên quan trực tiếp đến lợi ích của Nhà nước.
Hành vi cạnh tranh không lành mạnh có các dấu hiệu cơ bản như sau:
- Là hành vi của mọi chủ thể tham gia thị trường ( có thể là doanh nghiệp,
nhưng cũng có thể là chủ thể kinh doanh khác, cá nhân với vai trò là người giúp
sức…) nhằm mục đích cạnh tranh như:
- Nhằm vào đối thủ cạnh tranh cụ thể, xác định được.
- Trái với các chuẩn mực đạo đức kinh doanh hoặc trái với pháp luật.
- Gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại cho đối thủ cạnh tranh hoặc cho người
tiêu dùng.
Để đảm bảo hoạt động cạnh tranh của các chủ thể tham gia thị trường được diễn
ra một cách công bằng, bình đẳng và an toàn, pháp luật quy định hành vi cạnh tranh
phải tuân thủ nguyên tắc trung thực, công bằng và không được xâm phạm lợi ích hợp
11


pháp của chủ thể kinh doanh khác, của người tiêu dùng và phải tuân thủ quy định của
pháp luật.
1.2.2. Thẩm quyền tố tụng cạnh tranh đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh
Theo quy định của Luật cạnh tranh thì các chủ thể tham gia tố tụng cạnh tranh
đối với các vụ việc liên quan đến cạnh tranh không lành mạnh bao gồm hai loại đó là
cơ quan tiến hành tố tụng cạnh tranh và người tiến hành tố tụng cạnh tranh. Ngoài ra,

hành vi thông thường chỉ xảy ra đối với đối thủ cạnh tranh. Vì vậy, chế tài áp dụng
đối với hành vi này thường là đình chỉ hành vi và bồi thường thiệt hại (nếu có). Tuy
nhiên, thẩm quyền xử lý, xử phạt hành vi cạnh tranh không lành mạnh theo Luật Cạnh
tranh Việt nam lại không bao gồm bồi thường thiệt hại xảy ra đối các bên liên quan.

13


Cơ cấu bộ máy của Cục quản lý Cạnh tranh
CỤC TRƯỞNG

PHÓ CỤC TRƯỞNG

CÁC ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH

CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP
Trung tâm thông tin
Trung tâm đào tạo điều tra viên
Phòng Giám sát và quản lý cạnh tranh

CẠNH TRANH

Phòng Điều tra vụ việc hạn chế cạnh tranh
Phòng Điều tra và xử lý các hành vi
cạnh tranh không lành mạnh
Phòng Bảo vệ quyền lợi

BẢO VỆ NGƯỜI TIÊU DÙNG

Phòng Kiểm soát theo mẫu,

Thủ trưởng cơ quan quản lý cạnh tranh là người đứng đầu cơ quan quản lý cạnh tranh,
do Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm, miễn nhiệm theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Công
thương. Thủ trưởng cơ quản lý cạnh tranh có thẩm quyền tổ chức chỉ đạo cơ quan
quản lý cạnh tranh thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Luật Cạnh tranh.
Khi tiến hành tố tụng cạnh tranh. Thủ trưởng cơ quan quản lý cạnh tranh có thẩm
quyền sau:
1. Quyết định phân công điều tra viên điều tra vụ việc cạnh tranh cụ thể;
2. Kiểm tra các hoạt động điều tra của điều tra viên vụ việc cạnh tranh;
3. Quyết định thay đổi, hoặc hủy bỏ quyết định không có căn cứ và trái pháp
luật của điều tra viên vụ việc cạnh tranh;
4. Quyết định thay đổi điều tra viên vụ việc cạnh tranh;
5. Quyết định trưng cầu giám định;
6. Quyết định áp dụng, thay đổi, hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn hành chính
khi chưa chuyển hồ sơ vụ việc cạnh tranh cho Hội đồng cạnh tranh xử lý;
7. Quyết định điều tra sơ bộ, đình chỉ điều tra, điều tra chính thức vụ việc cạnh
tranh thuộc thẩm quyền của cơ quan quản lý cạnh tranh
8. Mời người làm chứng theo yêu cầu của các bên trong giai đoạn điều tra
9. Ký kết luận điều tra vụ việc cạnh tranh do điều tra viên được phân công trình;
10. Chuyển hồ sơ vụ việc cạnh tranh đến Hội đồng cạnh tranh trong trường
hợp vụ việc cạnh tranh liên quan đến hành vi hạn chế cạnh tranh;
11. Giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền của cơ quan quản lý cạnh tranh.
Điều tra viên là cá nhân có thẩm quyền trong các hoạt động tố tụng cạnh tranh
của cơ quan quản lý cạnh tranh. Điều tra viên được Bộ trưởng Bộ Công thương bổ
nhiệm theo đề nghị của Thủ trưởng cơ quan quản lý cạnh tranh. Tiêu chuẩn để được bổ
nhiệm làm điều tra viên (Điều 52, Luật cạnh tranh) bao gồm:
1. Có phẩm chất đạo đức tốt, trung trực, khách quan;
15


2. Có trình độ cử nhân luật, hoặc cử nhân kinh tế, tài chính;

cạnh tranh phụ thuộc vào tính chất của từng vụ việc cụ thể mà khác nhau.
16


Bên khiếu nại. Bên khiếu nại tham gia vào quá trình tố tụng canh tranh có các
quyền và nghĩa vụ sau: Cung cấp chứng cứ; ủy quyền cho luật sự; yêu cầu mời người
làm chứng, trưng cầu giám định, áp dụng các biện pháp ngăn chặn hành chính và chịu
trách nhiệm với yêu cầu đó; kiến nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người tham gia
tố tụng theo quy định.
Bên bị điều tra. Bên bị điều tra có các quyền đầy đủ như bên khiếu nại ngoại trừ
quyền đề nghị áp dụng các biện pháp ngăn chặn hành chính, bởi lẽ, theo tư duy của
nhà làm luật, quyền lợi của bên bị điều tra đang không bị xâm hại.
Luật sư. Luật sư là người có đủ điều kiện tham gia tố tụng theo quy định của
pháp luật về luật sư và được bên khiếu nại, bên bị điều tra, ủy quyền đại diện để bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của họ. Theo quy định của Luật luật sư được Quốc hội
thông qua ngày 29/06/2006 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2007, luật sư là
người có các điều kiện sau:
Tốt nghiệp đại học chuyên ngành luật ( tốt nghiệp đại học Luật hoặc khoa Luật
tại các trường đại học);
Có giấy chứng nhận đào tạo nghề luật sư do Học viện Tư pháp trực thuộc Bộ
Tư pháp và Tổ chức luật sư toàn quốc hoặc do cơ sở đào tạo nghề luật sư của nước
ngoài cấp được Bộ trưởng Bộ Tư pháp công nhận;
Có chứng chỉ hành nghề luật sư được Bộ Tư pháp công nhận đáp ứng đủ tiêu
chuẩn về chuyên môn (có bằng cử nhân luật, đã qua đào tạo nghề luật sư, tập sự hành
nghề luật sư), về đạo đức và có khả năng hành nghề luật sư;
Là thành viên của Đoàn luật sư tại một văn phòng luật sư hoặc Công ty luật hợp
danh.
Người làm chứng. Người làm chứng là người có năng lực hành vi dân sự, biết
được các tình tiết có liên quan đến vụ việc cạnh tranh; được cơ quan quản lý cạnh
tranh triệu tập theo đề nghị của các bên liên quan hoặc điều tra viên. Khi tham gia vào

thêm hiệu lực cho pháp luật cạnh tranh. Bởi lẽ, bất kỳ người nào thực hiện hành vi
cạnh tranh không lành mạnh đều bị xử lý và mọi chủ thể khi bị xâm phạm bởi hành vi
cạnh tranh không lành mạnh đều được bảo vệ
1.2.3. Thủ tục tố tụng cạnh tranh đối với các hành vi cạnh tranh không lành mạnh.
1.2.3.1 Tổng quan.
Thủ tục tố tụng cạnh tranh là trình tự, các bước tiến hành trong việc giải quyết, xử lý
vụ việc cạnh tranh và các hoạt động kiểm soát hành vi cạnh tranh được thể hiện bởi cơ
quan, cá nhân có thẩm quyền. Dưới giác độ nghiên cứu, thủ tục tố tụng cạnh tranh bao gồm
tất cả các hoạt động tố tụng của cơ quan, cá nhân có thẩm quyền liên quan đến giải quyết vụ
việc cạnh tranh và liên quan dến hoạt động kiểm soát cạnh tranh. Các thủ tục tố tụng này
mang đặc điểm của tố tụng tư pháp.
18


Thủ tục tố tụng cạnh tranh về cơ bản trải qua hai trình tự, đó là điều tra và xử lý
vụ việc. Tuy nhiên, mỗi trường hợp cụ thể không nhất thiết phải trải qua hai thủ tục
này, do vụ việc cạnh tranh có thể được kết luận và kết thúc ngay ở giai đoạn điều tra.
Về cơ bản, thủ tục điều tra đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh thuộc thẩm
quyền của cơ quan quản lý cạnh tranh. Đây cũng là điểm khác biệt lớn giữa pháp luật
cạnh tranh Việt Nam so với pháp luật cạnh tranh của nhiều nước khác. Tại các nước có
bề dày lịch sử trong lĩnh vực pháp luật cạnh tranh, thủ tục tố tụng cạnh tranh đối với
hành vi cạnh tranh không lành mạnh thuộc về Tòa án dân sự do hành vi cạnh tranh
không lành mạnh mang nhiều đặc trưng thuộc lĩnh vực pháp luật dân sự. Tại CHLB
Đức ngay cả đối với hành vi hạn chế cạnh tranh (thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, lạm
dụng ví trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền), bên có quyền lợi bị vi phạm có thể
trực tiếp kiện ra Tòa án theo thủ tục tố tụng dân sự để đòi bồi thường thiệt bị. Theo
Luật cạnh tranh Việt Nam, đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh, sau khi điều
tra,thủ trưởng cơ quan quản lý cạnh tranh sẽ ra quyết định xử lý vụ việc.
Trong quá trình điều tra nếu phát hiện có dấu hiệu của việc vi phạm pháp luật
hình sự, vụ việc cạnh tranh được xem xét chuyển hồ sơ đến cơ quan Nhà nước có thẩm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status