Quyền sử dụng đất của hộ gia đình cá nhân dưới khía cạnh quyền tài sản tư theo pháp luật Việt Nam - Pdf 28

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ THẬP

QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT CỦA HỘ GIA ĐÌNH,
CÁ NHÂN DƯỚI KHÍA CẠNH QUYỀN TÀI SẢN TƯ
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM

Chuyên ngành : Luật kinh tế
Mã số : 60 38 50
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2010
Công trình được hoàn thành
tại Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Quang Tuyến


Lời cam đoan Mục lục MỞ ĐẦU
1

Chương 1: TỔNG QUAN NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN
SỬ DỤNG ĐẤT DƯỚI GÓC ĐỘ QUYỀN TÀI SẢN TƯ
6
1.1.
Một số vấn đề lý luận về quyền sử dụng đất
6
1.1.1.
Quan niệm về quyền sử dụng đất
6
1.1.2.
Đặc điểm của quyền sử dụng đất
9
1.1.3.
Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xác lập quyền sử dụng đất
12
1.1.3.1.
Đường lối, chính sách của Đảng về giao đất cho hộ gia đình,
cá nhân sử dụng ổn định lâu dài
12
1.1.3.2.
Chế độ sở hữu toàn dân về đất đai

và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam
27
1.3.1.
Pháp luật và thực tiễn pháp lý của Trung Quốc trong việc
thừa nhận quyền sử dụng đất dưới khía cạnh quyền tài sản tư
27
1.3.2.
Bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam
29

Chương 2: QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT CỦA HỘ GIA ĐÌNH, CÁ NHÂN
DƯỚI GÓC ĐỘ QUYỀN TÀI SẢN TƯ THEO PHÁP
LUẬT ĐẤT ĐAI VIỆT NAM
31
2.1.
Những quy định về xác lập cơ sở pháp lý của quyền sử dụng đất
31
2.1.1.
Đối tượng giao đất
31
2.1.2.4.
Đối tượng thuê đất
33
2.1.3.
Các trường hợp chuyển mục đích sử dụng đất
34
2.1.4.
Thẩm quyền giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử
dụng đất
35

44
2.3.2.3.
Quyền và nghĩa vụ của người Việt Nam định cư ở nước ngoài,
tổ chức, cá nhân nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam
47

2.4.
Quy định về giấy chứng nhận quyền sử dụng đất - Cơ sở pháp
lý bảo đảm quyền sử dụng đất dưới góc độ quyền tài sản tư
50
2.4.1.
Đăng ký quyền sử dụng đất
51
2.4.2.
Đối tượng được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
52
2.4.3.
Nghĩa vụ tài chính liên quan đến cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất
54
2.4.3.1.
Tiền sử dụng đất
54
2.4.3.2.
Lệ phí địa chính
55
2.4.3.3.
Lệ phí trước bạ
56
2.4.4.

66
3.2.2.
Rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định về chuyển quyền sử
dụng đất của Luật đất đai năm 2003 và các văn bản hướng
dẫn thi hành đảm bảo sự thống nhất, tương thích với Bộ luật
dân sự và các đạo luật khác có liên quan
68

3.2.3.
Bổ sung các quy định về xây dựng hệ thống cơ sở thông tin
dữ liệu về nhà, đất và công khai hóa các thông tin về nhà, đất
69
3.2.4.
Tiếp tục hoàn thiện các quy định về thị trường quyền sử
dụng đất nói riêng và thị trường bất động sản nói chung
nhằm góp phần đảm bảo thực thi quyền sử dụng đất dưới
góc độ quyền tài sản tư
70

KẾT LUẬN
73

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
75
1
MỞ ĐẦU


Việc công nhận và mở rộng các quyền năng cho người sử dụng đất
và cho phép họ được chuyển quyền sử dụng đất đã tạo cơ sở ban đầu cho
việc xác lập quyền sử dụng đất dưới góc độ quyền tài sản tư. Tuy nhiên, để
thực sự bảo đảm việc công nhận và bảo hộ quyền sử dụng đất dưới góc độ
quyền tài sản tư cần tiếp tục có sự đổi mới về tư duy pháp lý trong việc tạo
điều kiện thuận lợi hơn nữa cho các giao dịch về quyền sử dụng đất. Muốn
xây dựng và vận hành có hiệu quả thị trường bất động sản nói chung và thị
trường quyền sử dụng đất nói riêng thì phải thay đổi nhận thức và cách thức
ứng xử của pháp luật đối với quyền sử dụng đất dưới khía cạnh quyền tài
sản tư. Với cách tiếp cận như vậy,em lựa chọn đề tài "Quyền sử dụng đất
của hộ gia đình, cá nhân dưới khía cạnh quyền tài sản tư theo pháp luật
Việt Nam", làm luận văn tốt nghiệp của mình.
2. Mục đích nghiên cứu
Đề tài "Quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân dưới khía cạnh
quyền tài sản tư theo pháp luật Việt Nam" là một đề tài khó. Nghiên cứu đề
tài này, luận văn đặt ra cho mình những mục đích nghiên cứu chủ yếu sau đây:
- Hệ thống, tập hợp những vấn đề lý luận chung về quyền tài sản tư;
- Hệ thống, tập hợp những vấn đề lý luận chung về quyền sử dụng
đất và những vấn đề lý luận về quyền sử dụng đất dưới góc độ quyền tài
sản tư;
- Khái quát sự phát triển của các quy định về quyền sử dụng đất dưới
góc độ quyền tài sản tư ở nước ta;
- Đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam về quyền sử dụng đất dưới
góc độ quyền tài sản tư; 3
- Đưa ra những định hướng và giải pháp góp phần hoàn thiện các
quy định về quyền sử dụng đất dưới góc độ quyền tài sản tư.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

giải quyết tranh chấp về chuyển quyền sử dụng đất và xử lý vi phạm pháp
luật đất đai liên quan trực tiếp đến quyền sử dụng đất dưới góc độ quyền tài
sản tư.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để giải quyết các yêu cầu mà đề tài đặt ra, trong quá trình nghiên
cứu khóa luận đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau đây:
- Phương pháp luận nghiên cứu khoa học duy vật biện chứng và duy
vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin;
- Bên cạnh đó, khóa luận còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu
cụ thể sau:
(i) Phương pháp luận giải, phương pháp phân tích, phương pháp lịch
sử v.v được sử dụng trong chương 1 khi nghiên cứu tổng quan những vấn đề
lý luận về quyền sử dụng đất dưới góc độ quyền tài sản tư;
(ii) Phương pháp phân tích, phương pháp so sánh luật học, phương
pháp đối chiếu v.v v được sử dụng trong chương 2 khi nghiên cứu quyền sử
dụng đất dưới góc độ quyền tài sản tư theo pháp luật Việt Nam;
(iii) Phương pháp bình luận, phương pháp tổng hợp, phương pháp
quy nạp v.v được sử dụng trong chương 3 khi nghiên cứu giải pháp hoàn
thiện các quy định về quyền sử dụng đất dưới góc độ quyền tài sản tư. 5
5. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan những vấn đề lý luận về quyền sử dụng đất
dưới góc độ quyền tài sản tư.
Chương 2: Quyền sử dụng đất dưới góc độ quyền tài sản tư theo
pháp luật Việt Nam.
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện các quy định về quyền sử dụng đất

người dân thuê sử dụng và có các quyền năng đối với đất đai (đặc biệt là
quyền được mua bán đất). Ở Trung Quốc, đất đai thuộc sở hữu toàn dân
song quyền sử dụng đất thuộc cá nhân, tổ chức sử dụng đất. Theo đó có sự
tách bạch giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng đất đai theo luật định. Ở Việt 7
Nam, Hiến pháp năm 1992 quy định: "Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ
đất đai theo quy hoạch và pháp luật, bảo đảm sử dụng đất đúng mục đích và
có hiệu quả. Nhà nước giao đất cho các tổ chức và cá nhân sử dụng ổn định
lâu dài" (Điều 18). Cụ thể hóa quy định này của Hiến pháp năm 1992, Điều 5
Luật Đất đai năm 2003 quy định: "Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà
nước đại diện chủ sở hữu". Tuy nhiên trên thực tế, Nhà nước với vai trò là
người đại diện chủ sở hữu không trực tiếp chiếm hữu, sử dụng đất đai mà
giao đất, cho thuê đất hoặc công nhận quyền sử dụng đất đang sử dụng cho
tổ chức, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài. Từ đây xuất hiện khái niệm
"quyền sử dụng đất". Vậy quyền sử dụng đất là gì? Theo các nhà khoa học
pháp lý nước ta, quyền sử dụng đất được hiểu trên hai phương diện:
(i) Phương diện chủ quan
Theo phương diện này, quyền sử dụng đất là quyền năng của người
sử dụng đất trong việc khai thác, sử dụng các thuộc tính có ích của đất để
đem lại một lợi vật chất nhất định, quyền năng này được pháp luật ghi nhận
và bảo vệ.
Từ điển Luật học do Viện Khoa học pháp lý (Bộ Tư pháp) biên soạn
quan niệm:
Quyền sử dụng đất là quyền của các chủ thể được khai
thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ việc sử dụng đất được
nhà nước giao, cho thuê hoặc được chuyển giao từ những chủ thể
khác thông qua việc chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho
thuê lại, thừa kế, tặng cho từ những chủ thể có quyền sử dụng;

bao gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành nhằm
điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình sử dụng đất đai. 9
Xét trên phương diện này, quyền sử dụng đất với tư cách là một chế
định pháp luật bao gồm các quy định làm căn cứ phát sinh, thay đổi và chấm
dứt quyền sử dụng đất. Pháp luật có các quy định về giao đất, cho thuê đất,
thu hồi đất và các quy định về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; giải
quyết khiếu nại, tố cáo về quyền sử dụng đất; xử lý vi phạm pháp luật về
quyền sử dụng đất; giải quyết tranh chấp về quyền sử dụng đất.
Tóm lại, quyền sử dụng đất được quan niệm trên hai phương diện.
Theo phương diện chủ quan, đây là quyền của người sử dụng đất được khai
thác các thuộc tính của đất đai để mang lại cho mình một lợi ích vật chất
nhất định. Theo phương diện khách quan, quyền sử dụng đất là một chế định
quan trọng của pháp luật đất đai gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật quy
định và bảo vệ quyền sử dụng đất của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân.
1.1.2. Đặc điểm của quyền sử dụng đất
Quyền sử dụng đất ở nước ta có nội hàm rộng hơn quyền sử dụng
thông thường. Nó vượt khỏi khuôn khổ "chật hẹp" của quyền khai thác công
dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản để tham gia vào các giao dịch dân sự
trên thị trường; được sử dụng làm tài sản bảo đảm trong quan hệ thế chấp,
bảo lãnh vay vốn tại ngân hàng, các tổ chức tín dụng; được sử dụng làm vốn
góp liên doanh trong hoạt động sản xuất - kinh doanh. quyền sử dụng đất
mang một số đặc điểm cơ bản sau đây:
Thứ nhất, như phần trên đã phân tích, quyền sử dụng đất là một loại
quyền về tài sản, được xác định giá trị và được phép chuyển đổi trên thị trường.
Thứ hai, do tính chất đặc thù của chế độ sở hữu toàn dân về đất đai ở
nước ta nên quyền sử dụng đất được hình trên cơ sở quyền sở hữu toàn dân
về đất đai. Điều này có nghĩa là người sử dụng đất có quyền sử dụng đất khi

Ví dụ: Điều 111 Luật Đất đai năm 2003 quy định thì tổ chức kinh tế
được Nhà nước cho thuê đất theo hình thức trả tiền thuê đất hàng năm chỉ có 11
quyền bán, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng tài sản thuộc sở hữu của mình
gắn liền với thuê mà không được thực hiện các quyền chuyển nhượng, thế
chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất thuê.
Hai là, không phải bất cứ người nào có quyền sử dụng đất hợp pháp
cũng có quyền chuyển đổi, tặng cho, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, cho
thuê lại, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất;
Ví dụ: Theo Điều 113 Luật Đất đai năm 2003 thì chỉ có hộ gia đình,
cá nhân sử dụng đất không phải là đất thuê mới có quyền chuyển đổi quyền
sử dụng đất nông nghiệp trong cùng một xã, phường, thị trấn với hộ gia
đình, cá nhân khác. Còn các chủ thể sử dụng đất khác không được pháp luật
cho hưởng quyền năng này.
Hay Điều 111 Luật Đất đai năm 2003 quy định thì tổ chức kinh tế
được Nhà nước cho thuê đất theo hình thức trả tiền thuê đất hàng năm chỉ có
quyền bán, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng tài sản thuộc sở hữu của mình
gắn liền với thuê mà không được thực hiện các quyền chuyển nhượng, thế
chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất thuê.
Hơn nữa, không phải đối với bất cứ người sử dụng đất nào cũng có
đầy đủ 9 quyền năng của chuyển quyền sử dụng đất do pháp luật đất đai quy
định. Về cơ bản, chỉ những người sử dụng đất theo các hình thức: giao đất
trả tiền sử dụng đất mà tiền sử dụng đất đã trả không có nguồn gốc từ ngân
sách nhà nước; thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê hoặc
thuê đất trả trước tiền thuê cho nhiều năm mà thời hạn thuê đất đã được trả
tiền còn lại ít nhất là năm năm mới được pháp luật cho hưởng 9 quyền năng
của chuyển quyền sử dụng đất.
Ba là, quyền sở hữu đất đai là một loại quyền tồn tại độc lập còn

đất). Quan điểm xác lập và mở rộng các quyền của hộ gia đình, cá nhân đối
với đất đai được ghi nhận trong các văn kiện sau đây của Đảng: 13
- Chỉ thị 100/CT-TW ngày 13/10/1981 của Ban Bí thư Trung ương
Đảng về "Cải tiến công tác khoán, mở rộng công tác khoán sản phẩm đến
nhóm và người lao động trong hợp tác xã nông nghiệp", trong đó xác định:
"…tổ chức tốt việc giao diện tích đất cho đội sản xuất, nhóm người lao
động… khi diện tích giao khoán hợp lý thì có thể ổn định để xã viên yên tâm
thâm canh trên diện tích đất đó". Chính sách khoán và giao đất sử dụng ổn
định đã bước đầu động viên nông dân hăng hái lao động, sản xuất và "bước
đầu quá trình xác lập địa vị làm chủ ruộng đất thực sự của người lao động";
- Tiếp đó, ngày 05/04/1988, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 10 NQ/TW
về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp, đã khẳng định hộ gia đình là đơn vị
kinh tế tự chủ trong sản xuất nông nghiệp và giao khoán ruộng đất ổn định,
lâu dài cho hộ gia đình nông dân;
- Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII (năm 1991) đã ghi
nhận: "Trên cơ sở chế độ sở hữu toàn dân về đất đai, ruộng đất được giao
cho nông dân sử dụng lâu dài. Nhà nước quy định bằng luật pháp các vấn đề
thừa kế, chuyển quyền sử dụng ruộng đất" [6, tr. 275]. Quan điểm này tiếp
tục được khẳng định tại Nghị quyết các hội nghị TW tiếp theo, đặc biệt là
Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 2 (khóa VII tháng 12 năm 1991) và
Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 5 (khóa VII, tháng 6/1992):
"Ruộng đất được trao cho nông dân sử dụng lâu dài. Nhà nước quy định
bằng pháp luật việc thừa kế, chuyển quyền sử dụng đất".
- Vấn đề sử dụng đất ổn định lâu dài nói chung và thừa kế quyền sử
dụng đất nói riêng của hộ gia đình, cá nhân còn được ghi nhận trong Chiến
lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000: "Đất đai thuộc sở
hữu toàn dân. Các hộ nông dân được Nhà nước giao quyền sử dụng ruộng

trực tiếp chiếm hữu và sử dụng đất mà giao đất, cho thuê đất cho tổ chức, hộ
gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài hoặc công nhận quyền sử dụng đất 15
đối với đất mà tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng. Đi liền với đó,
người sử dụng đất được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
đối với diện tích đất được giao, cho thuê… Như vậy, quyền sử dụng đất của
tổ chức, hộ gia đình, cá nhân phát sinh trên cơ sở chế độ sở hữu toàn dân về
đất đai và được Nhà nước bảo hộ.
Thứ hai, do đất đai là tài sản đặc biệt thuộc sở hữu toàn dân do Nhà
nước đại diện chủ sở hữu; nên khi người sử dụng đất thực hiện việc chuyển
quyền sử dụng đất, họ phải thỏa mãn các điều kiện về chuyển quyền sử dụng
đất do pháp luật đất đai quy định, cụ thể theo Khoản 1 Điều 106 Luật Đất
đai năm 2003:
1. Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển
đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho
quyền sử dụng đất; thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử
dụng đất theo quy định tại khoản 2 Điều 110; khoản 2 và khoản 3
Điều 112; các khoản 2, 3, 4, 5, 6, 7 và 8 Điều 113; khoản 2 Điều
115; điểm b khoản 1, các điểm b, c, d, đ và e khoản 3 Điều 119;
điểm b khoản 1, điểm b và điểm c khoản 2 Điều 120 của Luật này
khi có các điều kiện sau đây:
a. Có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;
b. Đất không có tranh chấp;
c. Quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi
hành án;
d. Trong thời hạn sử dụng đất [25].
1.1.3.3. Nhận thức về quyền sử dụng đất trong điều kiện chuyển
đổi sang nền kinh tế thị trường

Thứ nhất, người có quyền sử dụng đất sẽ có điều kiện và cơ hội tiếp
cận, khai thác các thuộc tính có ích của đất đai để mang lại một lợi ích vật
chất nhất định cho mình; 17
Thứ hai, quyền sử dụng đất là quyền liên quan đến việc khai thác, sử
dụng một loại tài sản đặc biệt là đất đai.
Thứ ba, người sử dụng đất cũng có một số quyền năng nhất định đối
với đất đai. Ví dụ: quyền chuyển nhượng, quyền cho thuê, quyền để thừa kế
quyền sử dụng đất…
Như vậy từ những phân tích trên đây cho thấy rằng đất đai mặc dù
không do con người tạo ra mà do tự nhiên tạo ra; song trong quá trình sử
dụng con người bằng tác động của mình đã làm tăng giá trị của đất đai: do
sự đầu tư của Nhà nước, của xã hội thông qua công tác quy hoạch sử dụng
đất, xác định mục đích sử dụng của từng loại đất, đầu tư xây dựng cơ sở hạ
tầng…; do sự đầu tư, bồi bổ, cải tạo của người sử dụng đất. Vì vậy như một
lẽ tự nhiên, người sử dụng đất phải được hưởng các lợi ích được tạo ra từ
chính sự đầu tư của mình đã làm tăng giá trị của đất đai. Hơn nữa, trong nền
kinh tế thị trường, quyền sử dụng đất được coi là một loại tài sản; nó trở
thành hàng hóa có thể chuyển nhượng trên thị trường. Việc phát hiện và
thừa nhận vai trò này của đất đai đã biến đất đai từ dạng tài nguyên trở thành
tài sản, trở thành nguồn vốn to lớn để phát triển đất nước; góp phần xác lập
sự ra đời của thị trường bất động sản (trong đó có thị trường quyền sử dụng
đất) ở nước ta. Nhận thức về quyền sử dụng đất trong điều kiện kinh tế thị
trường đã được Đảng ta chỉ rõ: "Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý
giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là nguồn nội lực và nguồn vốn to lớn của đất
nước; quyền sử dụng đất là hàng hóa đặc biệt" [10, tr. 164]. Với việc nhìn
nhận vai trò của quyền sử dụng đất như vậy thì khi người sử dụng đất chết;
họ có quyền để lại thừa kế quyền sử dụng đất cho người khác tiếp tục sử dụng.

viên làm việc cho hợp tác xã được chấm công bằng công điểm (ngày công)
và được phân chia sản phẩm theo công điểm. Với cơ chế quản lý này đã tách
người lao động khỏi đất đai, tư liệu sản xuất khiến người xã viên không thiết
tha với ruộng đất của hợp tác xã. Họ chỉ sản xuất cầm chừng cho đủ ngày
công mà hợp tác xã giao, sau đó dành toàn bộ thời gian vào việc canh tác 19
trên những thửa đất 5% mà hợp tác xã giao cho hộ gia đình xã viên sử dụng.
Hậu quả là năng suất lương thực do hợp tác xã sản xuất ra ngày càng giảm
sút. Đứng trước thực trạng này, nhiều địa phương đã "xé rào" thực hiện việc
thí điểm giao khoán ruộng đất cho hộ gia đình xã viên sử dụng. Đây là việc
làm mà sau này báo chí gọi là "khoán chui". Cơ chế khoán này đã mang lại
hiệu quả rõ rệt, do xã viên được gắn bó và làm chủ ruộng đất nên hăng say
sản xuất. Kết quả là năng suất lao động do cơ chế này đem lại ngày một tăng.
Điển hình cho các địa phương thực hiện việc "khoán chui" là tỉnh Vĩnh Phú
(cũ), huyện Vĩnh Bảo (thành phố Hải phòng), Nông trường Cờ Đỏ (tỉnh Hậu
Giang cũ) Từ hiệu quả rõ rệt của cơ chế khoán hộ đã cung cấp cho Đảng ta
những chất liệu bổ ích để tổng kết và cho ra đời Chỉ thị số 100/CT-TU của
Ban Bí thư năm 1981, Nghị quyết 10/NQ-TU của Bộ Chính trị năm 1988 về
đổi mới cơ chế quản lý kinh tế trong nông nghiệp, xác định hộ gia đình, cá
nhân là đơn vị kinh tế tự chủ trong sản xuất nông thực; thực hiện việc giao
đất cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài. Đây là những tiền đề
rất quan trọng để Nhà nước thể chế hóa thành các quy định về giao đất, cho
thuê đất cho hộ gia đình, cá nhân trong các đạo Luật Đất đai năm 1988, Luật
Đất đai năm 1993 và Luật Đất đai năm 2003.
1.2. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN TÀI SẢN TƢ
1.2.1. Khái niệm quyền tài sản
Khái niệm quyền tài sản xuất hiện cách đây hàng ngàn năm gắn liền
với lịch sử ra đời và phát triển của pháp luật dân sự. Trong pháp luật Trung

phân chia lợi ích bởi nhiều chủ thế.
Theo pháp luật Việt Nam, khái niệm quyền tài sản lần đầu tiên được
đề cập tại Điều 172 Bộ luật Dân sự năm 1995. Bộ luật Dân sự năm 2005 ra
đời về cơ bản vẫn giữ nguyên khái niệm về quyền sở hữu tài sản của Bộ luật
Dân sự năm 1995. Theo Điều 181 Bộ luật Dân sự năm 2005: "Quyền tài sản
là quyền trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao trong giao dịch dân sự,

Trích đoạn Cỏc trƣờng hợp thu hồi đất Quyền và nghĩa vụ của tổ chức trong nước sử dụng đất Quyền và nghĩa vụ của hộ gia đỡnh, cỏ nhõn Đối tƣợng đƣợc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Tiền sử dụng đất
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status