BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
HOÀNG THỊ NHUNG
HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH
TẠI TỈNH SƠN LA
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
HOÀNG THỊ NHUNG
HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH
TẠI TỈNH SƠN LA
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật Dân sự
Mã số: 60 38 01 07
Hợp đồng tín dụng
HĐVTS
Hợp đồng vay tài sản
TCTD
Tổ chức tín dụng
TAND
Tòa án nhân dân
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU
Trang
1
Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
1
2
Tình hình nghiên cứu đề tài
Khái niệm, đặc điểm pháp lý của hợp đồng vay tài sản
6
1.1.1.
Khái niệm tài sản
6
1.1.2.
Khái niệm hợp đồng vay tài sản
10
1.1.3.
Đặc điểm pháp lý của hợp đồng vay tài sản
12
1.2.
Các yếu tố của hợp đồng vay tài sản
17
1.2.1.
Thời hạn cho vay
23
1.2.5.
Lãi suất và lãi
24
1.3
Quyền và nghĩa vụ cơ bản của các bên trong hợp đồng
26
vay TS
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG
VAY TÀI SẢN VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI TỈNH SƠN LA
2.1.
Một số vấn đề về chính sách tín dụng của Nhà
31
nước phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn
và miền núi đối với tỉnh Sơn La
2.3.2.
Lãi suất quá hạn của hợp đồng vay tài sản
42
2.4.
Quy định về quyền và nghĩa vụ của các bên trong
47
HĐVTS
2.5.
Một số vấn đề về họ, hụi, biêu phường
48
2.5.1
Khái quát về họ, hụi, biêu phường ( họ)
48
2.5.2.
Đặc điểm của họ
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Trong đời sống xã hội thường tồn tại trạng thái tạm thời thừa vốn hoặc
thiếu vốn ở các cá nhân, tổ chức. Có những bộ phận xã hội có vốn nhàn rỗi,
nhưng lại chưa có nhu cầu sử dụng vốn để đầu tư sản xuất, kinh doanh, tiêu
dùng; có những bộ phận khác lại có nhu cầu sử dụng vốn, nhưng không thể tự
có đủ số vốn cần sử dụng. Chính vì vậy, đã phát sinh yêu cầu điều hòa các
nguồn vốn trong xã hội theo phương thức có hoàn trả.
Quan hệ chuyển giao vốn giữa các chủ thể trong xã hội theo nguyên tắc
có hoàn trả được xác lập chủ yếu thông qua hợp đồng vay tài sản. Đây là
phương tiện pháp lý giúp các chủ thể thỏa mãn được nhu cầu về vốn của
mình. Đồng thời nó là công cụ giúp cho những cam kết vay tài sản được thực
hiện và tôn trọng, góp phần thúc đẩy sự lưu thông nguồn vốn trong xã hội.
Các vấn đề pháp lý về hợp đồng vay tài sản đã được hình thành khá lâu
trong lịch sử lập pháp Việt Nam, trải qua thời gian nó càng được củng cố và
hoàn thiện, đã tạo được hành lang pháp lý vững chắc cho sự phát triển và tồn
tại của hợp đồng vay tài sản qua các quy định trong Bộ luật Dân sự năm 1995
và Bộ luật Dân sự năm 2005. Tuy nhiên, cùng với sự biến đổi không ngừng
của các quan hệ xã hội, các quy định của pháp luật hiện hành về hợp đồng vay
tài sản còn nhiều kẽ hở. Trong bối cảnh Bộ luật Dân sự năm 2015 đã được
Quốc hội thông qua và có hiệu lực từ 01/01/2017, việc tiếp tục nghiên cứu,
phân tích, đánh giá những quy định về hợp đồng vay tài sản trong Bộ luật Dân
sự năm 2005 so với Bộ luật Dân sự năm 2015 có ý nghĩa về mặt khoa học.
Vay tài sản là nhu cầu thiết yếu và diễn ra khá phổ biến trong nhân dân.
Do đó, HĐVTS có ý nghĩa rất quan trọng trong đời sống kinh tế, xã hội.
Thông qua các quan hệ vay, Nhà nước đã tạo điều kiện thuận lợi cho các hộ
3
- “HĐVTS trong LDS Việt Nam”, Luận văn Thạc sĩ Luật học của Bùi
Kim Hiếu, năm 2007.
- “Một số ý kiến góp ý dự thảo Bộ luật Dân sự (sửa đổi) về hợp đồng
vay tài sản”, của Trần Văn Biên – Viện Nhà nước và Pháp luật, 26/12/2008.
- “Về lãi suất trong HĐVTS và lãi suất quá hạn trong dự thảo Luật sửa
đổi, bổ sung một số điều của BLDS 2005” của Lê Minh Hùng, Tạp chí
Nghiên cứu lập pháp số 6/2008.
- Về chế định HĐVTS” của Trần Văn Biên, Tạp chí Nghiên cứu lập
pháp số 09/2004.
Bên cạch đó, cũng phải kể đến những nghiên cứu ở bình diện chung
nhất của hợp đồng vay tài sản dưới dạng một mục hay một chương của tác
phẩm như:
-TS. Nguyễn Minh Tuấn (chủ biên). Bình luận khoa học Bộ luật dân sự
của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, – Nhà xuất bản Tư pháp.
(2014).
- Giáo trình luật dân sự”, tập 2, của Trường đại học luật Hà Nội - Nhà
xuất bản Công an nhân dân, 2006.
Tuy nhiên, tất cả các công trình, tất cả các bài viết nêu trên chủ yếu đề
cập đến việc đánh giá thực trạng và hoàn thiện pháp luật về hợp đồng vay tài
sản theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005. Do đó, đề tài nghiên cứu sẽ
làm rõ chế định HĐVTS theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005, trên cơ
sở đó so sánh chế định này được quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015 cả
về mặt lý luận, thực tiễn thi hành và đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện
quy định của pháp luật dân sự về hợp đồng vay tài sản.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
Đối tượng nghiên cứu của đề tài gồm các vấn đề sau:
5
- Phân tích, so sánh các quy định của pháp luật về HĐVTS, đánh
giá mức độ hoàn thiện của các quy định của pháp luật về chế định HĐVTS
trong BLDS 2015;
- Tìm hiểu việc áp dụng các quy định của pháp luật về HĐVTS, từ đó
đề xuất phương hướng hoàn thiện các quy định của pháp luật và áp dụng
thống nhất pháp luật về HĐVTS.
5. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác – Lê Nin
và tư tưởng Hồ Chí Minh.
- Phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp: đây là phương pháp quan
trọng được sử dụng chính trong quá trình thực hiện luận văn.
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: sưu tầm và phân tích các vụ tranh
chấp về hợp đồng vay tài sản để làm rõ thực tiễn áp dụng chế định này.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, nội dung của đề tài bao gồm 3
chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản của hợp đồng vay tài sản
Chương 2: Thực trạng các quy định của pháp luật về hợp đồng vay tài
sản và thực tiễn áp dụng ở tỉnh Sơn La
Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định của pháp
luật về hợp đồng vay tài sản.
6
“Điều 448. Phân loại tài sản
Tài sản được phân chia thành tài sản chung, tài sản công và tài sản tư;
tài sản hữu hình và tài sản vô hình; và động sản và bất động sản”.
Hay BLDS Québec (Canada) quy định về loại tài sản như sau:
“Điều 899: Tài sản, dù hữu hình hay vô hình, được phân chia thành
bất động sản và động sản”.
Các bộ luật trên đều không đưa ra định nghĩa hoặc khái niệm về tài sản
mà phân loại tài sản thành bất động sản và động sản. Đây là một quy định
mang tính khái quát cao, bao gồm tất cả các lợi ích vật chất đều trở thành tài
sản. Nếu pháp luật định nghĩa hoặc đưa ra khái niệm tài sản thì quy định có
tính chất “đóng” chỉ điều chỉnh những tài sản đã được quy định, còn những tài
sản mới phát sinh sẽ không điều chỉnh được, cho nên khi xảy ra tranh chấp về
tài sản sẽ gặp khó khăn trong việc áp dụng pháp luật.
Qua những quy định trên cũng như nghiên cứu pháp luật của một số
nước, có thể thấy có ba cách quy định về tài sản: (i) Sử dụng cách liệt kê các
loại tài sản. (ii) Quy định tài sản là đối tượng của quyền sở hữu; (iii) Tài sản
được phân chia thành bất động sản và động sản..
Trong pháp luật dân sự Việt Nam, vấn đề tài sản lần đầu tiên được quy
định trong BLDS 1995, Điều 172 quy định: “Tài sản bao gồm vật có thực,
tiền, giấy tờ trị giá được bằng tiền và các quyền tài sản”. Đây là một quy
định mới về tài sản, cho nên còn hạn chế là chỉ những vật có thực là những
vật có đầy đủ công dụng mà con người khai thác được mới là tài sản, còn
những vật đang trong quá trinh hình thành chưa được điều chỉnh trong quy
định này. Để khắc phục hạn chế trên Điều 163 BLDS2005 quy định: “Tài
sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản”. Điều 163 quy
định tài sản là các loại vật đã hình thành hoặc đang hình thành đều là tài sản
Hay nói cách khác Điều 163 không quy định về công dụng mà quy định về sự
9
quyền tài sản của một chủ thể nhất định (tổ chức, cá nhân) xét trong mối quan
hệ pháp lý với chủ thể khác. Với tư cách là một loại tài sản trong quan hệ
pháp luật dân sự, giấy tờ có giá có những đặc điểm sau:
- Xét về hình thức, giấy tờ có giá là một chứng chỉ được lập theo hình
thức, trình tự nhất định.
- Nội dung thể hiện trên giấy tờ có giá có thể hiện quyền tài sản, giá của
giấy tờ có giá là giá trị quyền tài sản và quyền này được pháp luật bảo vệ.
- Giấy tờ có giá có tính thanh toán và là một công cụ có thể chuyển
nhượng với điều kiện chuyển nhượng toàn bộ một lần, việc chuyển nhượng
một phần giấy tờ có giá là vô hiệu. Ngoài ra giấy tờ có giá có các đặc điểm
khác như: có tính thời hạn, tính có thể đưa ra yêu cầu, tính rủi ro…
Các loại giấy tờ xác nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng đối với tài sản
như giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận quyền sở hữu
nhà, sổ tiết kiệm… không phải là giấy tờ có giá mà chỉ đơn thuần là một
vật và thuộc sở hữu của người đứng tên trên giấy tờ đó.
- Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao
trong giao dịch dân sự, kể cả quyền sở hữu trí tuệ (Điều 181, BLDS
2005). Quyền tài sản là các quyền yêu cầu chủ thể khác thực hiện một nghĩa
vụ về tài sản như trả nợ, hoặc khi chủ thể khai thác, sử dụng các đối tượng sở
hưũ trí tuệ sẽ mang lại cho chủ thể những lợi ích vật chất như tiền bản quyền
tác giả, giá chuyển nhượng, cho thuê đối tượng sở hữu công nghiệp…
Khi chủ thể có quyền tài sản, thì có thể thực hiện các giao dịch liên
quan đến quyền tài sản đó như chuyển quyền, bán… Tuy nhiên có những
quyền tài sản không thể chuyển giao được vẫn là đối tượng của quyền dân sự
như quyền cấp dưỡng, quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại. Để khắc phục bất
cập của Điều 181 BLDS 2005, Điều 115 BLDS 2015 quy định: “ Quyền tài
sản là quyền trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng
tiền đã vay khi hết hạn hợp đồng.
11
Theo quy định này thì hợp đồng vay tài sản là hợp đồng thực tế (bên
cho vay phải chuyển giao tài sản là những vật phẩm tiêu dùng thiết yếu hàng
ngày của mình cho bên vay thì nghĩa vụ mới phát sinh).
Như vậy, có thể thấy, từ thời cổ đại, khái niệm hợp đồng vay tài sản đã
được hình thành và ngày nay trong BLDS của các nước đều kế thừa khái niệm
hợp đồng vay tài sản, cụ thể: Điều 1892 Bộ luật Dân sự của Pháp quy định:
“Hợp đồng vay tài sản là hợp đồng theo đó một bên giao cho bên kia
một số lượng vật sẽ bị tiêu hao khi sử dụng với điều kiện là bên kia phải trả
vật cùng số lượng và chất lượng”. Hay Điều 587 BLDS Nhật Bản quy định:
“Hợp đồng vay tài sản có hiệu lực khi một bên nhận từ bên kia một khoản
tiền hoặc những vật với sự ngầm hiểu rằng người đó sẽ trả lại tiền vay vật có
thể loại, số lượng và chất lượng đúng như vậy” hoặc Điều 587 BLDS Campu-chia cũng quy định: “Hợp đồng vay tài sản là hợp đồng trong đó một bên
của hợp đồng gọi là người cho vay có nghĩa vụ giao cho bên còn lại gọi là
người vay sử dụng tự do các loại tiền, thực phẩm, lúa gạo hoặc các đối tượng
thay thế thác trong một thời gian nhất định, người vay sau khi chấm dứt thời
gian này sẽ có nghĩa vụ hoàn trả lại cho người cho vay các đối tượng tương
đương với đối tượng đã nhận từ người cho vay về chủng loại, chất lượng và
số lượng”.
Các Bộ luật dân sự trên đều tiếp cận hợp đồng vay là sự thỏa thuận của
các bên, theo đó bên chủ sở hữu tài sản (bên cho vay) chuyển cho bên kia
(bên vay) một số lượng tài sản nhất định làm sở hữu, khi hết hạn của hợp
đồng bên vay hoàn trả cho bên cho vay một tài sản cùng loại với tài sản vay.
Trong Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005, Điều 471 quy định:
“HĐVTS là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho
bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên vay tài sản cùng loại
13
Theo lý luận thì hợp đồng thực tế là hợp đồng mà sau khi thoả thuận,
hiệu lực của hợp đồng chỉ phát sinh tại thời điểm các bên đã chuyển giao cho
nhau đối tượng của hợp đồng.
Xét về bản chất, thì hợp đồng cho vay là một hợp đồng thực tế, bởi lẽ
bên cho vay chỉ có quyền với bên có vay, hay nói cách khác bên vay không có
nghĩa vụ đối với bên cho vay. Vì nếu bên cho vay không chuyển giao tài sản
thì không thể bắt buộc bên cho vay phải chuyển giao. Nếu bên cho vay bắt
buộc phải chuyển giao có nghĩa là các bên đã thỏa thuận cho vay mà bên vay
không cho vay thì bên vay có quyền khởi kiện buộc phải cho vay, trường hợp
này nếu bên cho vay không còn tiền cho vay thì phải buộc bên vay bán nhà,
đất để cho vay ?... Điều này sẽ bất công, bởi vì bên vay chưa có thiệt hại gì về
vật chất, mặt khác bên cho vay không còn khả năng cho vay mà buộc phải
chịu sự cưỡng chế hà khắc như vậy liệu có hợp lý hay không.
Đối với hợp đồng vay có lãi suất, bên vay sẽ sử dụng tài sản vay vào
một mục đích nhất định, nếu bên cho vay không chuyển giao tài sản thì bên
vay có thể bị thiệt hại, Trường hợp này, vì hợp đồng vay có đền bù, cho nên
các bên đều nhận được lợi ích vật chất, do vậy bên cho vay phải thực hiện hợp
đồng khi đã giao kết, trường hợp này hợp đồng vay là ưng thuận, cho nên hợp
đồng được giao kết thì buộc bên cho vay phải chuyển giao tài sản.
Điều 405 BLDS 2005 quy định: “Hợp đồng được giao kết hợp pháp có
hiệu lực từ thời điểm giao kết, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp
luật có quy định khác”.
Việc xác định thời điểm có hiệu lực của hợp đồng vay tài sản có ý
nghĩa quan trọng trong việc xác định trách nhiệm của các bên khi không thực
hiện đúng hợp đồng. Hiện nay trong học thuật tồn tại hai quan điểm khác
nhau về hợp đồng vay là thực tế hay ưng thuận:
15
bên vay khởi kiện yêu cầu Tòa án cưỡng chế bên vay phải chuyển tài sản.
Nếu Tòa án buộc bên cho vay phải chuyển giao tài sản mà không có biện
pháp bảo đảm nghĩa vụ thì bên cho vay có khả năng chịu rủi ro rất cao, khi
bên vay không có tài sản trả nợ. Đặc biệt đối với các hợp đồng tín dụng, các
ngân hàng cho vay với giá trị lớn thì bên vay không có tài sản bảo đảm mà do
là khách hàng chiến lược cho nên ngân hàng ký hợp đồng tín dụng, trong khi
đó ngân hàng xét thấy bên vay không có khả năng thực hiện nghĩa vụ trả nợ
mà buộc ngân hàng phải cho vay thì khả năng nợ xấu rất cao, và như vậy sẽ
ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của hệ thống ngân hàng nói riêng và ảnh
hưởng đến sự ổn định của hệ thống tiền tệ nói chung.
-
Hợp đồng vay tài sản là hợp đồng đơn vụ hoặc song vụ
Khi xác lập một giao dịch thì cần phải xem xét trong giao dịch đó bên
nào có quyền và bên nào có nghĩa vụ, từ đó xác định hành vi của bên không
thực hiện đúng giao dịch và phải gánh chịu chế tài do thỏa thỏa hoặc do luật
quy định. Đối với hợp đồng vay tài sản không có lãi suất thì cần thiết phải
giải phóng trách nhiệm pháp lý cho bên cho vay khi chưa chuyển giao tài sản,
vì bên cho vay không nhận được lợi ích từ bên vay. Tuy nhiên, đối với vay có
lãi suất thì các bên đều nhận được các lợi ích vật chất của nhau cho nên cần
phải áp dụng nguyên tắc cân bằng lợi ích của các bên, cho nên cần thiết phải
rằng buộc trách nhiệm của các bên khi vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng. Điều
406 Bộ luật Dân sự năm 2005 và Điều 402 Bộ luật Dân sự năm 2015 đều quy
định:
“1. Hợp đồng song vụ là hợp đồng mà mỗi bên đều có nghĩa vụ đối với
đây là một hợp đồng song vụ
Khi hợp đồng vay tài sản là hợp đồng thực tế thì hợp đồng là đơn vụ,
Trường hợp vay tài sản không có lãi suất, thì bên cho vay không nhận được
lợi ích từ bên vay, vì vậy không thể rằng buộc bên cho vay phải thực hiện hợp
đồng khi bên cho vay không còn khả năng. Ví dụ A thỏa thuận cho B vay 100
17
triệu đồng. Tuy nhiên, do xe ô tô của A bị tai nạn, A phải dùng tiền đó để sửa
chữa xe ô tô. Trường hợp này A vi phạm hợp đồng, cho nên B có quyền khởi
kiện A yêu cầu buộc phải thực hiện hợp đồng, có nghĩa là A phải bán xe ô tô
để cho B vay. Trường hợp này không thể áp dụng tố tụng tư pháp để giải
quyết tranh chấp để buộc A phải chuyển giao tiền cho B theo khoản 1 Điều
473 BLDS 2005 vì không phù hợp với thực tế cuộc sống.
- Hợp đồng vay tài sản là hợp đồng có đền bù hoặc không có đền bù
HĐVTS là hợp đồng có đền bù nếu vay tài sản có lãi suất. Đối những
hợp đồng vay của các tổ chức tín dụng bao giờ cũng có lãi suất có thể là lãi
suất thấp như hợp đồng vay của các Ngân hàng chính sách - xã hội. Đối với
hợp đồng vay có lãi suất là hợp đồng có đền bù vì bên cho vay và bên vay đều
nhận được lợi ích của nhau
HĐVTS không có tính chất đền bù nếu là hợp đồng vay không có lãi
suất. Trong cuộc sống hàng ngày để tương trợ giúp đỡ nhau sản xuất kinh
doanh thì những người thân thích, bạn bè thường cho nhau vay không có lãi
suất.. Khi hết hạn hợp đồng bên vay phải trả cho bên cho vay khoản tiền đã
vay hoặc trả vật tương ứng với vật vay.
Tóm lại, khi xác định đặc điểm pháp lý của hợp đồng vay tài sản thì
cần phải xem xét đến các lợi ích mà các bên thu được từ việc thực hiên hợp
đồng vay, nếu hợp đồng vay tài sản mà bên cho vay không thu lợi tức thì là
hợp đồng thực tế và đơn vụ. Trường hợp các bên trong hợp đồng vay đều
khi đó tài sản chủ yếu của hộ gia đình là quyền sử dụng đất được nhà nước
giao cho hộ. Khi đại diện hộ gia đình vay vốn thì cần phải thế chấp quyền sử
dụng đất và phải có chữ ký của tất cả các thành viên có đầy đủ năng lực hành
vi. Theo quy định tại Điều 106 BLDS 2005 thì “hộ gia đình mà các thành
viên có tài sản chung, cùng đóng góp công sức để hoạt động kinh tế chung
trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất, kinh
doanh khác do pháp luật quy định là chủ thể khi tham gia quan hệ dân sự
thuộc lĩnh vực này”.
19
Tài sản chung của gia đình gồm quyền sử dụng đất, quyền sử dụng
rừng, rừng trồng của hộ gia đình, tài sản do các thành viên đóng góp, cùng
nhau tạo lập nên hoặc được tặng cho chung, được thừa kế chung và các tài sản
khác mà các thành viên thoả thuận là tài sản chung của hộ. Trong các loại tài
sản trên thì tài sản có giá trị lớn nhất là quyền sử dụng đất đồng thời cũng là
tư liệu sản xuất chủ yếu của hộ. Khi vay vốn tại các tổ chức tín dụng thì hộ
phải thông qua đại diện là chủ hộ. Điều 107 BLDS quy định: “1. Chủ hộ là
đại diện của hộ gia đình trong các giao dịch dân sự vì lợi ích chung của hộ.
Cha, mẹ hoặc một thành viên khác đã thành niên có thể là chủ hộ.
Về nguyên tắc chủ hộ là người đại diện theo pháp luật của hộ gia đình,
chủ hộ trực tiếp tham gia giao dịch hoặc có thể ủy quyền cho thành viên khác
tham gia. Tuy nhiên, các thành viên trong hộ gia đình phải chịu trách nhiệm
về hành vi của người đại diện bằng tài sản chung của hộ và tài sản riêng của
mỗi thành viên.
Liên quan đến hộ gia đình, Điều 101 BLDS 2015 quy định hộ gia đình
không phải là chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự. Hộ gia đình là một
nhóm chủ thể là cá nhân, cho nên khi tham gia vào giao dịch thì các thành
viên phải ủy quyền cho người đại diện tham gia.