BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGUYỄN TRỊNH HOÀN
PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ VÀ TÁI ĐỊNH CƯ KHI
NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT – THỰC TRẠNG THI HÀNH TẠI
THÀNH PHỐ BẢO LỘC, TỈNH LÂM ĐỒNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật Kinh tê
Mã số: 60 38 01 07
Người hướng dẫn khoa học: TS. Phạm Thu Thủy
HÀ NỘI – NĂM 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Những kết quả nêu trong Luận văn này chưa được công bố trong bất kỳ công
trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính
trung thực, chính xác và tin cậy. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã
thanh toán nghĩa vụ tài chính theo quy định.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
: Tái định cư
UBND
: Ủy ban nhân dân
XHCN
: Xã hội chủ nghĩa
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
1
1. Tính cấp thiết của đề tài
1
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
3
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4
9
1.1.2. Khái niệm bồi thường
10
1.1.3. Khái niệm hỗ trợ, tái định cư
12
1.2. Ý nghĩa của việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu
hồi đất
13
1.2.1. Về phương diện chính trị
13
1.2.2. Về phương diện kinh tế - xã hội
14
1.3. Cơ sở của việc quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà
nước thu hồi đất
15
1.3.1. Cơ sở lý luận
CƯ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT TẠI THÀNH PHỐ BẢO LỘC
TỈNH LÂM ĐỒNG VÀ MỘT SỐ ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ HOÀN
THIỆN PHÁP LUẬT
2.1. Pháp luật hiện hành về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi
Nhà nước thu hồi đất
26
2.1.1. Phạm vi bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi
đất theo quy định của Luật đất đai năm 2013
26
2.1.2. Đối tượng được bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước
thu hồi đất theo quy định của Luật đất đai năm 2013
27
2.1.3. Điều kiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi
đất theo quy định của Luật đất đai năm 2013
29
2.1.4. Bồi thường đất khi Nhà nước thu hồi đất theo quy định của Luật
đất đai năm 2013
32
2.1.5. Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất theo quy định của Luật đất đai
năm 2013
2.3. Bài học kinh nghiệm và đề xuất kiến nghị hoàn thiện pháp luật
về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
67
2.3.1. Bài học kinh nghiệm
67
2.3.2. Đề xuất, kiến nghị
70
Kết luận chương 2
72
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
74
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc
biệt không gì thay thế của nhiều ngành sản xuất. “Tấc đất tấc vàng”, bởi nó là
thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống và là nền tảng để xây
dựng các cơ sở kinh tế, khu dân cư, an ninh quốc phòng, công trình văn hóa –
xã hội v.v.. của mỗi quốc gia.
kinh tế của các doanh nghiệp, các nhà đầu tư có nhu cầu sử dụng đất và Nhà
nước, làm mất ổn định tình hình chính trị - xã hội ở các địa phương. Có rất
nhiều nguyên nhân gây nên thực trạng này trong đó có nguyên nhân sâu xa là
từ các quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
chưa chặt chẽ và chưa hoàn thiện. Nhiều quy định pháp luật về bồi thường,
hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất đã được sửa đổi, bổ sung. Tuy nhiên, đây vẫn
là mảng đề tài “nóng” cần sự quan tâm của cả hệ thống chính trị và của toàn
xã hội. Việc tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện các quy định về bồi thường, hỗ
trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất nhằm tìm ra giải pháp góp phần
nâng cao hiệu quả công tác thực thi vấn đề này trong thực tế vẫn là việc làm
cần thiết để thực hiện mục tiêu đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi
mới; phát triển kinh tế nhanh, bền vững, “phấn đấu sớm đưa nước ta cơ bản
trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại” 1 như Nghị quyết Đại hội
XII của Đảng đề ra.
Bảo Lộc là thành phố trực thuộc tỉnh Lâm Đồng, có vị trí địa lý thuận
lợi, khí hậu có nhiều nét độc đáo. Về kinh tế, công nghiệp của Bảo Lộc
chiếm trên 40% tỉ lệ công nghiệp của cả tỉnh Lâm Đồng, bao gồm các ngành
chế biến trà, cà phê, se tơ, dệt, may mặc... Các nhà máy, xí nghiệp tập trung ở
Khu Công nghiệp Lộc Sơn, Phường II và khu vực xã Đại Lào. Bảo Lộc là thủ
phủ của ngành Dâu tằm tơ, có các nhà máy chế biến tơ tằm, ươm tơ dệt lụa
nổi tiếng như Nhà máy se tơ dệt lụa tơ tằm Á châu... Bảo Lộc có tiềm năng
lớn về phát triển ngành khai thác và chế biến khoáng sản. Tại đây có trữ
lượng lớn bôxit và cao lanh, trong đó bôxit có khoảng 378 triệu tấn. Dự án
xây dựng tuyến đường tránh phía Tây thành phố Bảo Lộc, phục vụ khai thác
1
Ban Tuyên giáo Trung ương (2016), “Tài liệu học tập các văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ XII của Đảng”, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia – sự thật, tr. 21.
4
Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp ở Việt Nam”; GS.TSKH. Đặng Hùng Võ,
“Giải phóng mặt bằng, còn nhiều khiếu kiện”, Báo Kinh tế và Đô thị, số ra
ngày 09/10/2006; Ts. Trần Quang Huy, “Chính sách hỗ trợ khi Nhà nước thu
hồi đất”, Tạp chí Luật học, số 10/2010; Ts. Nguyễn Quang Tuyến, “Công
khai minh bạch để bảo vệ quyền lợi của người bị thu hồi đất”, Tạp chí Luật
học, số 3/2012; Ts. Doãn Hồng Nhung (Chủ biên), “Pháp luật về định giá
đất trong bồi thường, giải phóng mặt bằng ở Việt Nam”, sách chuyên khảo,
NXB Tư pháp năm 2013; Ngoài ra còn có các công trình nghiên cứu như:
Chuyên đề “Bình luận và góp ý đối với các quy định bồi thường về đất, hỗ
trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trong dự thảo Luật Đất đai sửa
đổi” của PGS.TS. Nguyễn Quang Tuyến đăng trong Hội thảo khoa học “Góp
ý dự thảo Luật Đất đai sửa đổi” tổ cức tại Đại học Luật Hà Nội; các nghiên
cứu của GS.TSKH. Đặng Hùng Võ:“Cần sửa đổi, bổ sung gì cho Luật Đất
đai 2003”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 11 (148) tháng 6/2009 v.v..
Những công trình nghiên cứu đi trước đã tiếp cận từ nhiều góc độ khác
nhau để phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật Việt Nam về bồi
thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất. Điều này có tác dụng
rất lớn đối với việc thi hành Luật Đất đai năm 2013 trong thực tiễn áp dụng.
Trên cơ sở những công trình nghiên cứu của các tác giả đi trước, đây là
nguồn tài liệu quý giá để tác giả Luận văn kế thừa và tiếp tục mở rộng nghiên
cứu về vấn đề “Bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất”
trên các mặt: cơ sở lý luận, các quy định của pháp luật và trong thực tiễn thi
hành.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu một số vấn đề về lý luận, đánh giá thực
trường quy định chi tiết phương pháp định giá đất; xây dựng, điều chỉnh bảng
giá đất; định giá đất cụ thể và tư vấn xác định giá đất; Thông tư số
76/2014/TT-BTC ngày 16/6/2014 của Bộ Tài chính hướng dẫn một số điều
của Nghị định số 45/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định
về thu tiền sử dụng đất; Thông tư số 74/2015/TT-BTC ngày 15/5/2015 của
6
Bộ Tài chính hướng dẫn việc lập dự toán, sử dụng và thanh quyết toán kinh
phí tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi
đất…
Qua việc nghiên cứu những quy định của pháp luật, tác giả mong
muốn làm rõ, cụ thể hóa các vấn đề liên quan đến bồi thường, hỗ trợ và tái
định cư khi Nhà nước thu hồi đất để rút ra những bài học kinh nghiệm và
kiến nghị đề xuất trong việc thực thi pháp luật về mảng đề tài này.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là tìm hiểu một số vấn đề lý luận về
bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất; Phân tích làm rõ
các vấn đề liên quan đến vấn đề thực thi pháp luật về bồi thường, hỗ trợ và
tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Trên cơ sở mục đích nghiên cứu, luận văn xác định các nhiệm vụ
nghiên cứu cơ bản như sau:
- Tìm hiểu những khái niệm về thu hồi đất, bồi thường và hỗ trợ, tái
định cư khi Nhà nước thu hồi đất; ý nghĩa của việc bồi thường, hỗ trợ và tái
định cư khi Nhà nước thu hồi đất; quá trình hình thành và phát triển của pháp
luật về bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất qua các thời
kỳ.
pháp như:
- Phương pháp thống kê, tổng hợp, phân tích, đánh giá: Phân tích, tổng
hợp số liệu, dữ liệu thu thập được để đánh giá, phân tích thực trạng công tác
bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.
- Phương pháp so sánh: Phương pháp này được sử dụng để đối chiếu
các quy định pháp luật, tìm ra các điểm chưa phù hợp, chưa thống nhất trong
hệ thống pháp luật về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi
đất; những điểm chưa hợp lý giữa quy định pháp luật với thực tiễn thi hành…
8
7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Kế thừa những thành quả nghiên cứu của các công trình đi trước, Luận
văn tìm hiểu một cách có hệ thống và tập trung về pháp luật bồi thường, hỗ
trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất theo quy định của pháp luật Việt
Nam. Trong đó tập trung đi vào thực tiễn về tình hình bồi thường, hỗ trợ và
tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố Bảo Lộc. Mặt
khác, Luận văn nghiên cứu những quy định trong Luật Đất đai năm 2013 và
các văn bản hướng dẫn thi hành, so sánh với những quy định cũ để thấy được
những ưu điểm cũng như hạn chế liên quan đến công tác bồi thường, hỗ trợ
và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.
Về mặt khoa học, Luận văn có những đóng góp mới trên các khía cạnh
như: hệ thống hóa những quy định mới nhất liên quan đến bồi thường, hỗ trợ
và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất. Nêu đặc điểm, bản chất của việc bồi
thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất. Phân tích, đánh giá
thực trạng pháp luật về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu
hồi đất và thực trạng áp dụng trên địa thành phố Bảo Lộc; đồng thời Luận
văn chỉ ra những đặc điểm, cách làm cụ thể, trên cơ sở đó nêu những tồn tại,
bất cập trong các quy định hiện hành, rút ra bài học kinh nghiệm và đề xuất
Theo Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học thì thu hồi đất được hiểu
là: Cơ quan nhà nước có thẩm quyền thu hồi quyền sử dụng đất của người vi
phạm quy định về sử dụng đất để Nhà nước giao cho người khác sử dụng
hoặc trả lại cho chủ sử dụng đất hợp pháp bị lấn chiếm. Trường hợp thật cần
thiết, Nhà nước thu hồi đất đang sử dụng của người sử dụng đất để sử dụng
vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng. Khái
niệm này thực ra cũng chưa hẳn là một định nghĩa rõ ràng về thu hồi đất, mặc
dù có đề cập các trường hợp thu hồi đất nhưng nội hàm của khái niệm này
chưa bao quát hết các trường hợp thu hồi đất của Nhà nước.
Đến khi Luật Đất đai năm 2003 ra đời, thuật ngữ thu hồi đất đã được
giải thích tại Khoản 5, Điều 4:“Thu hồi đất là việc Nhà nước ra quyết định
hành chính để thu lại quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất đã giao cho tổ chức,
10
Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn quản lý theo quy định của Luật này”.
Như vậy, dù đã có sự điều chỉnh và mở rộng nội hàm của vấn đề thu hồi đất,
song cách giải thích này chưa thật sự chính xác, bởi nó dẫn đến cách hiểu
rằng người sử dụng đất bị thu hồi chỉ là tổ chức hay UBND xã, phường, thị
trấn. Trong khi theo quy định pháp luật, người sử dụng đất bị thu hồi còn có
thể là hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất, hơn nữa đây mới là chủ thể phổ biến
bị thu hồi đất.
Luật Đất đai năm 2013, tại khoản 11, Điều 4 đã quy định:“Nhà nước
thu hồi đất là việc Nhà nước quyết định thu lại quyền sử dụng đất của người
được Nhà nước trao quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất của người sử dụng
đất vi phạm pháp luật về đất đai”. Như vậy, có thể hiểu một cách khái quát
về thu hồi đất là việc Nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại đất và
quyền sử dụng đất đã giao cho các chủ thể sử dụng đất theo quy định của
pháp luật đất đai.
đích khác. Luật Đất đai năm 1993, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của
Luật Đất đai năm 1998 và theo văn bản quy định, hướng dẫn thi hành thì
thuật ngữ “bồi thường” được đề cập đến. Mặc dù pháp luật không đưa ra giải
thích chính thức song có thể hiểu “đền bù thiệt hại” khi Nhà nước thu hồi đất
là việc trả lại những thiệt hại do việc thu hồi đất gây ra, tương xứng với giá
trị hoặc công lao mà người sử dụng đất đã đầu tư vào đất trong quá trình sử
dụng. Khi Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật đất đai năm 2001 được
Quốc hội ban hành thì thuật ngữ “bồi thường” được sử dụng trở lại và tiếp
tục xuất hiện trong Luật Đất đai năm 2003 và các văn bản quy định, hướng
dẫn thi hành. Kế thừa Luật Đất đai 2003, thuật ngữ “bồi thường” cũng được
sử dụng tại các văn bản luật đất đai hiện hành. Tại khoản 12 Điều 3 Luật Đất
đai năm 2013 giải thích “Bồi thường về đất là việc Nhà nước trả lại giá trị
quyền sử dụng đất đối với diện tích đất thu hồi cho người sử dụng đất”.
Nước Việt Nam đang trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế nhiều
thành phần vận hành theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,
hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn
minh trong điều kiện chịu rất nhiều thách thức do quá trình hội nhập quốc tế
đem lại. “Để tranh thủ thời cơ, vượt qua thách thức của xu thế toàn cầu hoá
3
Nguyễn Quang Tuyến (2009), “Vấn đề lý luận xung quanh khái niệm bồi thường khi nhà nước thu hồi đất”,
Tạp chí Luật học, (số 1), tr.37.
12
về kinh tế, chúng ta phải biết phát huy nội lực, tinh thần đoàn kết dân tộc và
khơi dậy lòng yêu nước, tính năng động, sáng tạo của mỗi người dân đóng
góp vào sự nghiệp chấn hưng đất nước. Điều này chỉ có thể thực hiện được
khi Nhà nước biết tôn trọng và bảo hộ những quyền lợi chính đáng của người
2. Bồi thường bằng giao đất ở mới.
3. Bồi thường bằng tiền để tự lo chỗ ở mới.”
Căn cứ vào quy định này và nội dung các quy định về bồi thường, hỗ
trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất của Luật đất đai năm 2013 và các
văn bản hướng dẫn thi hành, có thể hiểu tái định cư là việc người sử dụng đất
được bố trí nơi ở mới bằng một trong các hình thức: bồi thường bằng nhà ở
mới hoặc bồi thường bằng giao đất ở hoặc bồi thường bằng tiền để tự lo chỗ
ở mới khi họ bị Nhà nước thu hồi đất ở và phải di chuyển chỗ ở.
1.2. Ý nghĩa của việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà
nước thu hồi đất
Khi Nhà nước thu hồi đất sẽ làm chấm dứt quan hệ pháp luật đất đai.
Việc Nhà nước thu hồi đất sẽ ảnh hưởng đến lợi ích hợp pháp của các bên có
liên quan như: Lợi ích của người bị thu hồi đất; lợi ích của Nhà nước, của xã
hội; lợi ích của người hưởng lợi từ việc thu hồi đất (các nhà đầu tư, doanh
nghiệp, cơ quan, tổ chức, cá nhân…). Do vậy trên thực tế việc giải quyết hậu
quả của việc thu hồi đất (thực chất là xử lý hài hòa lợi ích kinh tế giữa các
bên) gặp rất nhiều khó khăn, phức tạp. Nếu giải quyết tốt vấn đề bồi thường,
hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất sẽ mang lại ý nghĩa to lớn,
quan trọng trên nhiều phương diện.
1.2.1. Về phương diện chính trị
Là một nước nông nghiệp với khoảng 70% dân số là nông dân, vấn đề
đất đai ở Việt Nam có ý nghĩa đặc biệt quan trọng và nhạy cảm. Các chính
sách, pháp luật về đất đai có ảnh hưởng rất lớn đến sự ổn định về chính trị.
Điều này có nghĩa là nếu chủ trương, chính sách pháp luật đất đai đúng đắn,
phù hợp với thực tiễn và được thực thi nghiêm túc sẽ góp phần vào việc duy
trì và củng cố sự ổn định chính trị. Ngược lại, sẽ làm phát sinh những điểm
nóng tiềm ẩn nguy cơ gây mất ổn định về chính trị. Một trong các chính sách,
pháp luật về đất đai được xã hội đặc biệt quan tâm đó là chính sách, pháp luật
theo.
15
Về phía người sử dụng đất, thực hiện tốt việc bồi thường, hỗ trợ và tái
định cư khi Nhà nước thu hồi đất sẽ giúp cho họ và các thành viên khác trong
gia đình nhanh chóng ổn định cuộc sống để tập trung sản xuất góp phần cải
thiện và nâng cao mức sống. Hơn nữa điều này cũng giúp củng cố niềm tin
của người bị thu hồi đất vào đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng;
pháp luật của Nhà nước; đồng thời loại trừ cơ hội để kẻ xấu lợi dụng, tuyên
truyền, kích động khiếu kiện, đối đầu với chính quyền nhằm gây mất ổn định
tình hình trật tự an toàn xã hội và làm đình trệ sản xuất.
1.3. Cơ sở của việc quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
khi Nhà nước thu hồi đất
Các quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu
hồi đất được xây dựng dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn chủ yếu sau đây:
1.3.1. Cơ sở lý luận
Bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất được đặt ra
dựa trên cơ sở quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo hộ.
Tại Điều 12 Hiến pháp năm 1946 đã ghi nhận và bảo hộ quyền sở hữu tư
nhân về tài sản. Theo đó quyền sở hữu về tài sản của công dân Việt Nam
được bảo đảm. Hiến pháp năm 2013 quy định “Nhà nước thu hồi đất do tổ
chức, cá nhân đang sử dụng trong trường hợp thật cần thiết do luật định vì
mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia,
công cộng. Việc thu hồi đất phải công khai, minh bạch và được bồi thường
theo quy định của pháp luật”5.
Như vậy quyền sở hữu về tài sản hợp pháp của mọi cá nhân và tổ chức
đã được Hiến pháp ghi nhận và bảo hộ. Khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng
vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng thì
thường thiệt hại mà còn phải thực hiện việc tái định cư cho họ.
1.3.2. Cơ sở thực tiễn
Việt Nam đang xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo
cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa hướng tới mục tiêu “dân
giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh”. Trong điều kiện
chịu rất nhiều thách thức do quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đem lại, để
tranh thủ thời cơ, vượt qua thách thức của xu thế toàn cầu hóa về kinh tế,
chúng ta phải biết phát huy nội lực, tinh thần đoàn kết dân tộc và khơi dậy
17
lòng yêu nước, tính năng động, sáng tạo của mỗi người dân. Đây là nguồn
đóng góp to lớn vào sự nghiệp chấn hưng đất nước. Điều này chỉ có thể thực
hiện được khi Nhà nước biết tôn trọng và bảo hộ những quyền lợi chính đáng
của người dân. Đây cũng là một trong những lý do dẫn đến việc ra đời các
quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất. Vấn
đề bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất được xây dựng
dựa trên chế độ sở hữu toàn dân về đất đai, Nhà nước giao đất cho tổ chức,
hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài;
Nhìn lại thành tựu 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước có
thể nhận thấy rằng những thành tựu này là kết quả của quá trình đổi mới tư
duy mà hạt nhân cơ bản là đổi mới tư duy về sở hữu tài sản. Để giải phóng
mọi năng lực sản xuất của người lao động, tạo ra một động lực mới cho sản
xuất kinh doanh, Đảng ta đã rất sáng suốt khi lựa chọn và thực hiện việc đổi
mới cơ chế quản lý kinh tế trong nông nghiệp làm khâu đột phá cho toàn bộ
quá trình cải cách kinh tế với việc từng bước xác lập địa vị làm chủ của hộ
gia đình, cá nhân đối với đất đai thông qua việc giao đất cho họ sử dụng ổn
định, lâu dài và mở rộng các quyền năng cho người sử dụng đất. Như vậy, kể
từ đây quyền sử dụng đất đã tách khỏi quyền sở hữu đất đai được chủ sở hữu