Một số vấn đề lí luận về chứng minh trong tố tụng dân sự - Pdf 48

TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƢỜNG

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN
VỀ CHỨNG MINH TRONG
TỐ TỤNG DÂN SỰ

Mã số: LH - 2012 - 09/ĐHL - HN

CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI: TS. NGUYỄN CÔNG BÌNH

HÀ NỘI - 2012


DANH SÁCH NHỮNG NGƢỜI THỰC HIỆN

STT

Họ và tên

Nơi công tác

Nội dung
thực hiện

1.

TS.NGUYỄN CÔNG BÌNH

Giảng viên chính Trƣờng Chuyên đề 2 & 7

Đại học Luật Hà Nội

6.

ThS.LÊ THỊ BÍCH LAN

Thẩm phán Tòa án nhân Chuyên đề 8
dân Thành phố Hà Nội

7.

TS.TRẦN PHƢƠNG THẢO

Giảng viên Trƣờng Đại Chuyên đề 4 & 9
học Luật Hà Nội

8.

TS.TRẦN ANH TUẤN

Giảng viên chính Trƣờng Chuyên đề 11
Đại học Luật Hà Nội

9.

CN.NGUYỄN SƠN TÙNG

Giảng viên Trƣờng Đại Chuyên đề 12
học Luật Hà Nội



Biện pháp khẩn cấp tạm thời

HĐTPTANDTC

Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao

HĐXX

Hội đồng xét xử

LSĐBSBLTTDS

Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng
dân sự của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

LTCVKSND

Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân

PLTTGQCTCLĐ

Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động

PLTTGQCVADS

Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự

PLTTGQCVAKT


Các quan điểm về chứng minh trong tố tụng dân sự

63

3.

Các đặc điểm của chứng minh trong tố tụng dân sự

93

4.

Các chủ thể chứng minh trong tố tụng dân sự

105

5.

Các hoạt động chứng minh trong tố tụng dân sự

124

6.

Chứng minh trong tố tụng dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm

136

7.


12. So sánh chứng minh trong tố tụng dân sự với chứng minh trong

209

tố tụng hình sự

13. Bảo đảm quyền yêu cầu cá nhân, cơ quan và tổ chức cung cấp

220

chứng cứ của đƣơng sự

14

Chứng minh trong tố tụng dân sự theo quy định của pháp luật

223

một số nƣớc

15

Kết quả điều tra xã hội học về chứng minh và giải pháp bảo đảm

245

việc chứng minh của các chủ thể trong tố tụng dân sự
Danh mục tài liệu tham khảo

275

4

1.7. Phƣơng pháp nghiên cứu

4

2. PHẦN NỘI DUNG
2.1. Khái niệm, cơ sở và đặc điểm của chứng minh trong tố tụng dân sự

4
4

2.1.1. Khái niệm chứng minh trong tố tụng dân sự

4

2.1.2. Cơ sở phƣơng pháp luận của chứng minh trong tố tụng dân sự

7

2.1.3. Các đặc điểm của chứng minh trong tố tụng dân sự

8

2.2. Chủ thể chứng minh và việc phân định nghĩa vụ chứng minh trong tố

12

tụng dân sự
2.2.1. Các chủ thể chứng minh trong tố tụng dân sự

17
17


2.4.2. Chứng minh trong tố tụng dân sự ở cấp xét xử phúc thẩm
2.5. Các yếu tố bảo đảm việc chứng minh trong tố tụng dân sự

20
22

2.5.1. Pháp luật đối với việc chứng minh trong tố tụng dân sự

22

2.5.2. Thẩm phán đối với việc chứng minh trong tố tụng dân sự

25

2.5.3. Luật sƣ đối với việc chứng minh trong tố tụng dân sự

28

2.5.4. Viện kiểm sát đối với việc chứng minh trong tố tụng dân sự

31

2.5.5. Bảo đảm quyền yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp

32


trong tố tụng dân
2.6.6. Sửa đổi, bổ sung các quy định thẩm quyền của thẩm phán trong

38

việc ấn định cho đƣơng sự một thời hạn để giao nộp chứng cứ
2.6.7. Sửa đổi, bổ sung các quy định đƣơng sự có quyền yêu cầu Toà

39

án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trƣớc khi khởi kiện để bảo
toàn chứng cứ, thẩm quyền, thủ tục và thời hạn Toà án án dụng
2.6.8. Sửa đổi, bổ sung quy định thủ tục tiến hành phiên toà sơ thẩm,

40

phúc thẩm dân sự
2.6.9. Sửa đổi, bổ sung quy định về các biện pháp thu thập chứng cứ
trong tố tụng dân sự mà ngƣời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của

41


đƣơng sự đƣợc áp dụng để thu thập chứng
2.6.10. Sửa đổi, bổ sung quy định Tòa án phải gửi quyết định áp dụng

41

biện pháp thu thập chứng cứ cho Viện kiểm
2.6.11. Sửa đổi, bổ sung các quy định về cá nhân, cơ quan, tổ chức có

việc dân sự trong điều kiện phát triển kinh tế thị trƣờng theo định hƣớng xã hội chủ
nghĩa, mở rộng các quan hệ quốc tế, quán triệt đƣờng lối đổi mới của Đảng về xây
dựng Nhà nƣớc pháp quyền và cải cách tƣ pháp, tại kỳ họp thứ 5, ngày 15 tháng 6
năm 2004 Quốc hội khoá XI nƣớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông
qua Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS) và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2005.
Chứng minh và chứng cứ trong tố tụng dân sự đã đƣợc quy định trong Chƣơng 8
của Bộ luật này và Nghị quyết số 04/2005/NQ-HĐTP ngày 17/09/2005 của Hội
đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (HĐTPTANDTC) hƣớng dẫn thi hành
một số quy định của BLTTDS về chứng minh và chứng cứ.
So với các quy định của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự
(PLTTGQCVADS), Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế
(PLTTGQCVAKT)và Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động
(PLTTGQCTCLĐ) đƣợc ban hành trƣớc đó, các quy định của BLTTDS có nhiều
tiến bộ nên đã tạo đƣợc nhiều thuận lợi cho việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của
đƣơng sự và việc giải quyết vụ việc dân sự của Tòa án. Tuy vậy, sau 5 năm thực
hiện cho thấy các quy định Bộ luật này vẫn còn nhiều bất cập. Thực hiện Nghị
quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lƣợc xây dựng và
hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010 và Nghị quyết 49-NQ/TW
ngày 02/6/2005 của Bộ chính trị về Chiến lƣợc cải cách tƣ pháp đến năm 2020, tại
Kỳ họp thứ 9 ngày 29/03/2011 Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật sửa đổi bổ
sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự (LSĐBSBLTTDS). Việc ban hành
LSĐBSBLTTDS đã làm cho pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hoàn thiện hơn
nhƣng vẫn còn nhiều quy định vẫn chƣa đƣợc sửa đổi, trong đó có các quy định về
chứng minh trong tố tụng dân sự. Vì thế, việc nghiên cứu đề tài “Một số vấn đề lý
luận về chứng minh trong tố tụng dân sự” là cần thiết, có ý nghĩa cả về lý luận và
thực tiễn.


2
1.2. Tình hình nghiên cứu

hội thảo về pháp luật tố tụng dân sự nhƣ bài “Nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và nghĩa
vụ chứng minh trong tố tụng dân sự” của tác giả Phan Hữu Thƣ đăng trên Tạp chí
Dân chủ và Pháp luật, số 9/1998; bài “Xác định địa vị tố tụng của đương sự và
đánh giá chứng cứ trong vụ án dân sự” của luật sƣ Nguyễn Thế Giai đăng trên Tạp
chí Dân chủ và Pháp luật số 9/2000, bài “Chứng cứ và chứng minh trong tố tụng
dân sự” của tác giả Hoàng Ngọc Thỉnh đăng trên Tạp chí Luật học số đặc san góp ý
dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự tháng 4/2004, bài “Chế định chứng minh và chứng


3
cứ trong BLTTDS” của tác giả Nguyễn Công Bình đăng trên Tạp chí nhà nƣớc và
pháp luật số 2/2004, bài “Các quy định về chứng minh trong tố tụng dân sự” của
tác giả Nguyễn Công Bình đăng trên Tạp chí Luật học năm 2005 Số đặc san về
BLTTDS, bài “Chứng cứ và chứng minh - Sự thay đổi nhận thức trong pháp luật tố
tụng dân sự Việt Nam” của tác giả Tƣởng Duy Lƣợng cho Hội thảo: “Bộ luật tố
tụng dân sự - Những điểm mới và các vấn đề đặt ra trong thực tiễn thi hành” do
Học Viện Tƣ Pháp tổ chức tại Hà Nội ngày 25/12/2004 v.v…Tuy nhiên, do mục
đích và giới hạn của việc nghiên cứu nên các công trình nghiên cứu này chủ yếu
mới đi vào phân tích các quy định của pháp luật Việt Nam về chứng minh trong tố
tụng dân sự và thực tiễn thực hiện chúng tại các Toà án nên chƣa làm rõ đƣợc nhiều
vấn đề lý luận về chứng minh trong tố tụng dân sự.
1.3. Đối tƣợng và mục đích nghiên cứu đề tài
Đối tƣợng nghiên cứu chủ yếu là những vấn đề lý luận về chứng minh trong
tố tụng dân sự. Ngoài ra, để đối chiếu, so sánh giữa lý luận với thực tiễn nhằm nhận
thức đƣợc sâu sắc hơn những vấn đề lý luận về chứng minh trong tố tụng dân sự,
việc nghiên cứu cũng tiến hành đối với các quy định của pháp luật Việt Nam và
pháp luật một số nƣớc về chứng minh trong tố tụng dân sự và hoạt động chứng
minh của các chủ thể tố tụng dân sự tại các Tòa án Việt Nam.
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là nhằm làm rõ đƣợc một số vấn đề lý
luận cơ bản về chứng minh trong tố tụng dân sự. Từ nhận thức lý luận soi rọi vào

1.6. Nội dung nghiên cứu
Việc nghiên cứu đề tài đƣợc tiến hành với các nội dung sau:
- Khái niệm, cơ sở và đặc điểm của chứng minh trong tố tụng dân sự;
- Chủ thể chứng minh và việc phân định nghĩa vụ chứng minh trong tố tụng
dân sự;
- Các hoạt động chứng minh trong tố tụng dân sự;
- Chứng minh trong tố tụng dân sự ở các cấp xét xử;
- Các yếu tố bảo đảm chứng minh trong tố tụng dân sự;
1.7. Phƣơng pháp nghiên cứu đề tài
Việc nghiên cứu đề tài đƣợc các tác giả tiến hành dựa trên cơ sở phƣơng
pháp luận của chủ nghĩa Mác Lê nin, quan điểm duy vật biện chứng, duy vật lịch
sử, tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về Nhà nƣớc và pháp luật và đƣờng lối, chủ trƣơng của
Đảng, Nhà nƣớc ta về cải cách tƣ pháp.
Để giải quyết các vấn đề thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài, quá trình
nghiên cứu đề tài các tác giả cũng sử dụng nhiều phƣơng pháp nghiên cứu khoa học
truyền thống khác nhau nhƣ phƣơng pháp phân tích, phƣơng pháp so sánh và
phƣơng pháp tổng hợp. Ngoài ra, các tác giả cũng sử dụng phƣơng pháp thực tiễn
nhƣ khảo sát, xã hội học để nghiên cứu đề tài nhằm minh hoạ, chứng minh cho
những luận điểm, kết luận khoa học.
2. PHẦN NỘI DUNG
2.1. Khái niệm, cơ sở và đặc điểm chứng minh trong tố tụng dân sự
2.1.1. Khái niệm chứng minh trong tố tụng dân sự
Trong thế giới khách quan luôn tồn tại nhiều sự vật, hiện tƣợng khác nhau
đòi hỏi con ngƣời phải nhận thức và đánh giá. Ở mỗi sự vật, hiện tƣợng lại có nhiều
đặc tính khác nhau, có những đặc tính có thể nhận biết một cách nhanh chóng, rõ
ràng bằng các giác quan nhƣng cũng có những đặc tính không thể nhận biết ngay
đƣợc bằng các giác quan mà phải trải qua một quá trình tƣ duy logic phân tích, tổng


5

đối tƣợng của chứng minh trong tố tụng dân sự là tổng hợp những sự kiện, tình tiết
liên quan đến vụ việc dân sự cần đƣợc xác định trong quá trình giải quyết vụ việc
dân sự. Tuy vậy, do hiện nay vẫn còn các quan điểm khác nhau về chứng minh
trong tố tụng dân sự nên nội hàm khái niệm đối tƣợng chứng minh cũng đƣợc hiểu
khác nhau. Quan điểm thứ nhất, cho rằng chứng minh trong tố tụng dân sự phải
làm rõ đƣợc tất cả các tình tiết, sự kiện liên quan đến vụ việc dân sự, không kể nó
(1). Xem:

Hoàng Phê (Chủ biên) (2003), Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, Hà Nội - Đà Nẵng, trang 192.


6
có mối quan hệ nhƣ thế nào đối với vụ việc dân sự. Theo quan điểm này, thì đối
tƣợng chứng minh bao gồm tất cả các tình tiết, sự kiện liên quan đến vụ việc dân sự
cần đƣợc làm rõ trong quá trình tố tụng nhƣ các tình tiết, sự kiện mà quan hệ pháp
luật giữa các bên đƣơng sự phụ thuộc vào nó; các tình tiết, sự kiện chỉ có ý nghĩa
về tố tụng (nhƣ tình tiết, sự kiện xác định đƣơng sự vắng mặt tại phiên tòa là do gặp
trở ngại khách quan hoặc gặp trƣờng hợp bất khả kháng) và cả những tình tiết, sự
kiện để xác định lời khai của ngƣời làm chứng, kết luận của ngƣời giám định, kết
luận của hội đồng định giá, tổ chức thẩm định giá là có cơ sở. Và chủ thể chứng
minh không chỉ bao gồm các đƣơng sự, ngƣời đại diện của đƣơng sự, ngƣời bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của đƣơng sự, Viện kiểm sát (VKS) và Tòa án mà còn
bao gồm cả ngƣời làm chứng, ngƣời giám định, ngƣời phiên dịch và ngƣời định giá
tài sản. Quan điểm thứ hai thì cho rằng hoạt động chứng minh trong tố tụng dân sự
không phải làm rõ tất cả những tình tiết, sự kiện liên quan đến vụ việc dân sự mà
chỉ phải làm rõ những tình tiết, sự kiện mà quan hệ pháp luật nội dung giữa các bên
đƣơng sự phụ thuộc vào nó. Theo quan điểm này, thì đối tƣợng chứng minh chỉ bao
gồm những tình tiết, sự kiện mà các bên đƣơng sự đƣa ra làm cơ sở cho yêu cầu
của mình hay làm cơ sở cho sự phản đối của họ đối với yêu cầu của ngƣời khác và
những tình tiết, sự kiện khác có ý nghĩa cho việc xác định nội dung vụ việc dân sự.

chất gần giống như cảm giác, đặc tính phản ánh”(2). Sự phản ánh tồn tại khách quan
đòi hỏi phải nhìn nhận sự vật, hiện tƣợng một cách toàn diện trong sự vận động, phát
triển. Chính lý luận nhận thức này đã tác động đến việc hình thành nên quan niệm về
chứng minh và khoa học về chứng minh trong các loại hình tố tụng.
Chứng minh trong tố tụng dân sự là quá trình xác định sự thật khách quan của
vụ việc dân sự. Việc chứng minh của các chủ thể tố tụng phải xuất phát từ việc nhìn
nhận toàn diện về vụ việc dân sự, xác định những vấn đề liên quan đến sự kiện, hiện
tƣợng. Nguyên lý về sự phát triển của phép biện chứng duy vật phản ánh mọi sự vật,
hiện tƣợng luôn vận động, biến đổi không ngừng theo bản chất và có xu hƣớng phát
triển. Vì vậy, phải xem xét sự kiện, tình tiết của vụ việc dân sự trong mối liên hệ hữu
cơ với nhau, trong mối quan hệ với các sự vật, hiện tƣợng khác và phải xem xét tất cả
các mặt của chúng.
Phép biện chứng duy vật hình thành nên quan niệm về nguyên tắc đánh giá
chứng cứ trong quá trình chứng minh. Tức là, việc đánh giá chứng cứ phải đặt trong sự
phát triển của chứng cứ, phải phát hiện đƣợc các xu hƣớng biển đổi, chuyển hóa của
chứng cứ. Lý luận nhận thức đòi hỏi chứng minh phải xem xét cụ thể sự vật, hiện
tƣợng và xem xét chúng trong sự vận động và phát triển(3). Chủ nghĩa duy vật biện
chứng là cơ sở của phƣơng pháp luận chứng minh trong tố tụng dân sự để nhìn nhận,
xem xét đúng sự thật và chân lý của vụ việc dân sự. Theo triết học Mác – Lênin, chân
lý là kết quả của quá trình nhận thức của con ngƣời. Quá trình chứng minh vụ việc dân
sự sẽ và phải đạt tới chân lý đích thực của vụ việc dân sự. Việc vận dụng khái niệm
chân lý khách quan của chủ nghĩa duy vật biện chứng để nhận thức các sự vật, hiện
tƣợng trong lĩnh vực giải quyết vụ việc dân sự là cơ sở hình thành quan niệm về chứng
minh trong tố tụng dân sự Việt Nam. Theo đó, chân lý khách quan đƣợc hiểu là chân
lý của sự kiện, đƣợc xác định thông qua việc áp dụng các quy định của pháp luật tố
tụng dân sự về cung cấp, thu thập, nghiên cứu và đặc biệt là đánh giá chứng cứ nhằm
xác định sự thật khách quan của vụ việc dân sự.
Cơ sở phƣơng pháp luận là phép biện chứng đòi hỏi toàn bộ hoạt động chứng
minh phải đƣợc tiến hành theo nguyên tắc khách quan và toàn diện. Nguyên tắc khách
quan đòi hỏi phải xem xét sự vật từ bản thân sự vật, phản ánh sự vật một cách trung

minh nhƣ cung cấp chứng cứ, thu thập chứng cứ, nghiên cứu chứng cứ và đánh giá
chứng cứ.
Trong nghiên cứu khoa học pháp lý, để nghiên cứu nắm vững đƣợc bản chất
của sự việc thì các nhà nghiên cứu khoa học pháp lý có tách bạch các hoạt động chứng
minh, chia quá trình chứng minh thành các giai đoạn khác nhau nhƣ giai đoạn cung
cấp chứng cứ, giai đoạn thu thập chứng cứ, giai đoạn nghiên cứu chứng cứ và giai
đoạn đánh giá chứng cứ cho thuận tiện trong việc nghiên cứu. Tuy nhiên, trong thực
tiễn thì các hoạt động chứng minh của các chủ thể đƣợc tiến hành đan xen hợp thành
một thể thống nhất, nhiều khi các chủ thể chứng minh vừa tiến hành thu thập, vừa tiến
hành việc nghiên cứu và đánh giá chứng cứ. Các hoạt động chứng minh có mối quan
hệ mật thiết với nhau vì các hoạt động chứng minh đều hƣớng tới một mục đích duy
nhất là làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ việc dân sự. Trong tố tụng dân sự, hoạt
động chứng minh trƣớc là tiền đề, cơ sở để tiến hành hoạt động chứng minh sau và
hoạt động chứng minh sau kiểm tra, củng cố kết quả của các hoạt động chứng minh
trƣớc.
(4)

. Xem: Lê nin V.I (1981), Lê nin toàn tập, Tập 40, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, trang 281.


9
Các hoạt động chứng minh làm rõ các tình tiết, sự kiện của vụ việc dân sự đƣợc
tiến hành liên tục từ khi có yêu cầu khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự thì
các hoạt động chứng minh đã bắt đầu và kết thúc khi Tòa án quyết định giải quyết vụ
việc dân sự. Sở dĩ các hoạt động chứng minh phải đƣợc tiến hành liên tục là do yêu
cầu của việc giải quyết nhanh chóng vụ việc dân sự. Nếu các hoạt động chứng minh
trong một vụ việc mà không đƣợc tiến hành liên tục thì quá trình giải quyết vụ việc
dân sự sẽ bị gián đoạn và sẽ không thể bảo đảm đƣợc việc giải quyết nhanh chóng vụ
việc dân sự. Mặt khác, do các hoạt động chứng minh có quan hệ mật thiết với nhau,
hoạt động trƣớc là giai đoạn tiền đề của hoạt động sau, hoạt động sau là giai đoạn tiếp



10
rõ vụ việc của mình nhất, thường biết rõ tài liệu, chứng cứ liên quan đến vụ việc
của mình có những gì và đang ở đâu (2). Trong tố tụng hình sự, bị can, bị cáo không
có nghĩa vụ chứng minh vì “quan hệ tố tụng hình sự trong việc truy cứu trách
nhiệm hình sự là quan hệ giữa Nhà nước và công dân mang tính quyền uy… để
buộc một người phải chịu hậu quả pháp lí bất lợi của việc thực hiện tội phạm, bị
hạn chế hoặc tước bỏ quyền hoặc lợi ích hợp pháp, Nhà nước phải có trách nhiệm
chứng minh rằng người đó đã có hành vi phạm tội”(3).
Vì sao trong tố tụng dân sự đƣơng sự là chủ thể có nghĩa vụ chứng minh chủ
yếu? Trong tố tụng dân sự ngoài đƣơng sự thì ngƣời đại diện của đƣơng sự và
ngƣời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đƣơng sự và VKS cũng có nghĩa vụ
chứng minh. Tuy vậy, nghĩa vụ chứng minh của họ khác với nghĩa vụ chứng minh
của đƣơng sự là chỉ giới hạn trong một phạm vi nhất định xuất phát từ yêu cầu và
nhiệm vụ tham gia tố tụng dân sự của họ. Ngoài ra, nếu coi Tòa án cũng có nghĩa
vụ chứng minh thì Toà án cũng không có nghĩa vụ chứng minh làm rõ các tình tiết,
sự kiện đƣơng sự đƣa ra làm cơ sở cho yêu cầu hay phản đối yêu cầu của họ vì Toà
án không phải là ngƣời chỉ ra các tình tiết, sự kiện ấy. Đối với trƣờng hợp Tòa án
tiến hành thu thập chứng cứ thì hoạt động chứng minh này cũng chỉ mang tính
ngoại lệ, hỗ trợ trong trƣờng hợp vì lý do khách quan đƣơng sự không thể thực hiện
đƣợc nghĩa vụ chứng minh của mình.
2.1.3.3. Kết quả chứng minh trong tố tụng dân sự phụ thuộc vào nhiều yếu
tố, trong đó Tòa án có vai trò quan trọng trong việc bảo đảm thực hiện quyền và
nghĩa vụ chứng minh của các chủ thể
Chứng minh trong tố tụng dân sự là một vấn đề cơ bản của tố tụng dân sự
nhƣng rất phức tạp. Các yếu tố ảnh hƣởng đến kết quả của chứng minh trong tố
tụng dân sự bao gồm: Các quy định của pháp luật tố tụng dân sự về chứng minh,
hoạt động chứng minh của đƣơng sự, luật sƣ, Tòa án và các chủ thể khác.
Pháp luật tố tụng dân sự điều chỉnh các quan hệ giữa các chủ thể tố tụng

khác thực hiện việc chứng minh và xem xét chấp nhận kết quả chứng minh của chủ
thể khác. Bởi vậy, Tòa án có vai trò quan trọng trong việc bảo đảm thực hiện quyền
và nghĩa vụ chứng minh của các chủ thể tố tụng dân sự.
2.1.3.4. Chứng minh trong tố tụng dân sự được thực hiện từ khi khởi kiện,
yêu cầu Tòa án giải quyết vụ việc dân sự đến khi kết thúc việc giải quyết vụ việc
dân sự và ở mỗi cấp xét xử có mục đích và nhiệm vụ riêng
Để giải quyết nhanh chóng và đúng đắn vụ việc dân sự, quá trình chứng minh
trong tố tụng dân sự đƣợc bắt đầu từ khi khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết vụ việc
dân sự và đƣợc thực hiện trong suốt quá trình tố tụng. Tuy nhiên, kết quả hoạt động
chứng minh là một trong những căn cứ cơ bản để Tòa án quyết định giải quyết vụ việc
dân sự nên khi Tòa án đã ra quyết định giải quyết vụ việc dân sự thì các hoạt động
chứng minh sẽ đƣơng nhiên chấm dứt.
Quá trình chứng minh tố tụng dân sự có thể đƣợc thực hiện ở các cấp xét xử
nhƣng ở mỗi cấp xét xử, hoạt động xét xử của Tòa án có những mục đích và nhiệm vụ
riêng nên hoạt động chứng minh cũng có những mục đích và nhiệm vụ riêng. Ở cấp
xét xử sơ thẩm các chủ thể chứng minh đều phải tiến hành các hoạt động chứng minh
theo quy định của pháp luật để làm rõ đƣợc tất cả các tình tiết, sự kiện liên quan đến vụ
việc dân sự đang đƣợc Tòa án giải quyết. Trong đó, đƣơng sự là ngƣời có nghĩa vụ
chứng minh chủ yếu và trong mối tƣơng quan giữa các đƣơng sự thì nguyên đơn,
ngƣời yêu cầu có nghĩa vụ chứng minh trƣớc. Tuy vậy, ở cấp xét xử phúc thẩm không
phải tất cả các chủ thể chứng minh đều phải tiến hành các hoạt động chứng minh mà
chỉ có các chủ thể liên quan đến việc giải quyết kháng cáo, kháng nghị. Mặt khác, do
giới hạn của phạm vi xét xử phúc thẩm nên hoạt động chứng minh trong tố tụng dân sự
ở cấp xét xử phúc thẩm cũng chỉ nhằm vào việc làm rõ các tình tiết, sự kiện làm cơ sở


12
cho việc kháng cáo, kháng nghị và những tình tiết, sự kiện liên quan đến việc giải
quyết kháng cáo, kháng nghị.
2.2. Chủ thể chứng minh và việc phân định nghĩa vụ chứng minh trong

các nghĩa vụ chứng minh ở những phạm vi và mức độ nhất định.
Các đƣơng sự có quyền và lợi ích trong vụ việc đƣợc giải quyết tham gia tố
tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình nên có nghĩa vụ chứng minh.
Trong đó, nguyên đơn có nghĩa vụ chứng minh những tình tiết, sự kiện làm cơ sở


13
cho yêu cầu của mình; bị đơn có nghĩa vụ chứng minh những tình tiết, sự kiện làm
cơ sở cho yêu cầu phản tố của mình và sự phản đối đối với yêu cầu của nguyên
đơn, ngƣời có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập; ngƣời có quyền,
nghĩa vụ liên quan có nghĩa vụ chứng minh những sự kiện, tình tiết làm cơ sở sự
của mình hay sự phản đối đối với yêu cầu của nguyên đơn, bị đơn.
Ngƣời đại diện của đƣơng sự, ngƣời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
đƣơng sự tham gia tố tụng với mục đích để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
đƣơng sự. Ngƣời đại diện của đƣơng sự thay mặt đƣơng sự thực hiện các quyền và
nghĩa vụ tố tụng của đƣơng sự nên có nghĩa vụ chứng minh của đƣơng sự trong
phạm vi đại diện. Ngƣời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đƣơng sự hỗ trợ
đƣơng sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp trƣớc Tòa án nên có nghĩa vụ chứng
minh cho sự tồn tại các quyền, lợi ích hợp pháp của đƣơng sự.
Cơ quan, tổ chức khởi kiện, yêu cầu giải quyết vụ việc dân sự để bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của ngƣời khác, lợi ích công cộng hoặc lợi ích của Nhà
nƣớc đƣa ra yêu cầu khởi kiện, yêu cầu giải quyết việc dân sự nhƣ nguyên đơn,
ngƣời yêu cầu. Vì vậy, họ có nghĩa vụ chứng minh những tình tiết, sự kiện làm cơ
sở cho yêu cầu của mình nhƣ nguyên đơn, ngƣời yêu cầu.
Viện kiểm sát có nhiệm vụ và quyền hạn kiểm sát các hoạt động tố tụng dân
sự. Trong việc thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn của mình, VKS có quyền kiến
nghị, kháng nghị đối với các bản án, quyết định của Tòa án. Khi kiến nghị, kháng
nghị đối với các bản án, quyết định của Tòa án thì VKS có nghĩa vụ chứng minh
làm rõ những tình tiết, sự kiện làm cơ sở kiến nghị, kháng nghị của mình.
Tòa án là cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm giải quyết nhanh chóng

suy luận logic vạch rõ một điều gì đó là đúng. Quan điểm thứ ba cho rằng, Tòa án
cũng có nghĩa vụ chứng minh. Đƣơng sự là ngƣời đƣa ra yêu cầu, phản đối yêu cầu
của đƣơng sự khác nên trƣớc tiên đƣơng sự là chủ thể có nghĩa vụ chứng minh. Tuy
nhiên, để giải quyết đúng đắn vụ việc dân sự trong nhiều trƣờng hợp Tòa án còn
phải thu thập thêm chứng cứ, tài liệu để làm rõ các tình tiết của vụ việc dân sự. Hơn
nữa, dù đƣơng sự có cung cấp đầy đủ chứng cứ, với trách nhiệm của mình để ra
phán quyết giải quyết đúng vụ việc dân sự thì Tòa án vẫn phải xem xét, đánh giá,
phải chứng minh cơ sở quyết định giải quyết vụ việc dân sự của mình. Ngoài ra,
quan điểm này còn lý giải dƣới góc độ thực tiễn xét xử, nhiều Tòa án ở vùng sâu,
vùng xa khó có thể yêu cầu đƣơng sự cung cấp chứng cứ chứng minh. Đặc biệt với
những nơi dân trí còn hạn chế, hoàn cảnh, điều kiện kinh tế xã hội còn khó khăn, hệ
thống bổ trợ tƣ pháp chƣa phát triển nên đƣơng sự khó có thể hoàn thành nghĩa vụ
chứng minh của họ. Theo kết quả khảo sát thì có tới 178 ngƣời/260 ngƣời đƣợc hỏi
(68,5%) cho rằng Tòa án không có nghĩa vụ chứng minh, 68/260 ngƣời đƣợc hỏi
(26,2%) cho rằng Tòa án có nghĩa vụ chứng minh.
Tuy vậy, qua việc nghiên cứu cho thấy quan điểm thứ ba là hợp lý hơn cả.
Ngƣợc lại thời gian cho thấy kết quả các công trình nghiên cứu khoa học pháp lý
trƣớc đó cũng quan niệm chủ thể chứng minh bao gồm cả Tòa án(5). Vì theo quan
điểm thứ nhất thì đồng nghĩa với việc chấp nhận Tòa án có thể quyết định giải
(1)

. Xem: Học viện Tƣ pháp (2007), Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà
Nội, trang 79.
(5)
. Xem: Trƣờng Đại học Luật Hà Nội (2011), Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam, Nxb Công an nhân
dân, Hà Nội, trang 140; Học viện Tƣ pháp (2007), Giáo trình Luật tố tụng dân sự, Nxb Công an nhân dân,
Hà Nội, trang 60; Khoa Luật -Trƣờng Đại học tổng hợp Hà Nội (1995), Giáo trình Luật tố tụng dân sự, Hà
Nội, trang 140.



kỳ thời điểm nào của quá trình tố tụng dân sự. Tuy nhiên, việc giao nộp sớm chứng
cứ cho Tòa án vẫn tốt hơn cả vì Tòa án có điều kiện thời gian thuận lợi để kiểm tra,
đánh giá chúng. Kết quả khảo sát cho thấy, đa số (74,3%) các cán bộ làm công tác
thực tiễn đƣợc tham khảo ý kiến đều cho rằng pháp luật phải quy định thời hạn
cung cấp chứng cứ; nếu pháp luật không quy định về thời hạn cung cấp chứng cứ
đƣơng sự sẽ lợi dụng việc này để kéo dài thời gian giải quyết vụ việc dân sự và là
(6)

. Xem: Nguyễn Huy Đẩu (1962), Luật dân sự tố tụng Việt Nam, Sài Gòn, trang 261.


16
nguyên nhân của tình trạng bản án, quyết định của Tòa án bị hủy, sửa ngày càng
tăng. Việc cung cấp chứng cứ của đƣơng sự phải trong một thời hạn nhất định đều
đƣợc pháp luật tố tụng dân sự của các nƣớc quy định cụ thể. Chẳng hạn, theo quy
định của BLTTDSN, các bên đƣơng sự có nghĩa vụ xuất trình chứng cứ trong thời
hạn mà thẩm phán ấn định. Việc xuất trình chứng cứ quá hạn chỉ đƣợc chấp nhận
trong trƣờng hợp có lí do chính đáng. Trong trƣờng hợp các bên đƣơng sự không
cung cấp chứng cứ nhằm mục đích cản trở có hệ thống đến việc giải quyết đúng
đắn vụ án, Tòa án có thể buộc bên đó bồi thƣờng cho bên kia khoảng thời gian đã
mất. Mức bồi thƣờng do Tòa án ấn định trong phạm vi hợp lí căn cứ vào những tình
tiết cụ thể của vụ án. (Điều 57, 99, 150 BLTTDSN). Ở giai đoạn phúc thẩm, ngƣời
kháng cáo, kiểm sát viên kháng nghị có quyền xuất trình bổ sung chứng cứ mới.
Tuy nhiên, chứng cứ mới này chỉ đƣợc chấp nhận nếu việc không thể xuất trình này
ở sơ thẩm là có lí do chính đáng (Điều 339 BLTTDSN).
2.3.2. Hoạt động thu thập chứng cứ
Hoạt động thu thập chứng cứ là hoạt động của các chủ thể tố tụng trong việc
phát hiện tìm ra chứng cứ để làm rõ các tình tiết, sự kiện của vụ việc dân sự. Nếu
nhƣ hoạt động cung cấp chứng cứ chủ yếu do đƣơng sự, ngƣời đại diện của đƣơng
sự, ngƣời bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đƣơng sự và trong một số trƣờng hợp

nghiên cứu chứng cứ của các chủ thể tại phiên tòa, phiên họp là tập trung nhất và
quan trong nhất. Vì thông qua kết quả nghiên cứu chứng cứ tại phiên tòa phiên họp
mà Tòa án đánh giá chứng cứ, rút ra kết luận về giá trị chứng minh của chứng cứ,
từ đó ra quyết định giải quyết vụ việc dân sự đƣợc đúng đắn.
2.3.4. Hoạt động đánh giá chứng cứ
Hoạt động đánh giá chứng cứ là hoạt động xác định giá trị chứng minh của
chứng cứ. Qua hoạt động đánh giá chứng cứ Tòa án xác định chứng cứ nào có giá
trị chứng minh đƣợc sử dụng để giải quyết vụ việc dân sự và khép lại quá trình
chứng minh. Trong tố tụng dân sự, các chủ thể chứng minh đều có quyền tiến hành
hoạt động đánh giá chứng cứ. Trong các hoạt động đánh giá chứng cứ của các chủ
thể thì hoạt động đánh giá chứng cứ của Tòa án là quan trọng nhất vì Tòa án là
ngƣời đƣợc sử dụng kết quả đánh giá chứng cứ của mình để giải quyết vụ việc dân
sự. Kết quả đánh giá chứng cứ của các chủ thể khác nhƣ đƣơng sự, ngƣời đại diện
của đƣơng sự, ngƣời bảo vệ quyền, lợi ích của đƣơng sự…chỉ có tính chất để tham
khảo, Tòa án không bắt buộc phải sử dụng để giải quyết vụ việc dân sự. Để đánh
giá chứng cứ đƣợc đúng thì việc đánh giá chứng cứ phải khách quan, toàn diện và
chính xác.
2.4. Chứng minh trong tố tụng dân sự ở các cấp xét xử
2.4.1. Chứng minh trong tố tụng dân sự ở cấp xét xử sơ thẩm
Việc giải quyết vụ việc dân sự có thể đƣợc thực hiện ở các hai cấp xét xử:
Cấp xét xử sơ thẩm và cấp xét xử phúc thẩm. Cấp xét xử sơ thẩm là cấp xét xử đầu
tiên, tập trung các hoạt động chứng minh của các chủ thể tố tụng; toàn bộ những
yêu cầu của các bên đƣơng sự và chứng cứ, tài liệu của vụ việc đƣợc xem xét, đánh
giá trực tiếp, khách quan, toàn diện và công khai. Tuy vậy, trong mỗi giai đoạn của
tố tụng sơ thẩm vai trò của các chủ thể chứng minh, đặc biệt là Tòa án và các bên
đƣơng sự chứng minh làm rõ các tình tiết, sự kiện của vụ việc dân sự có những
điểm khác biệt nhất định.
Trong giai đoạn khởi kiện, yêu cầu và thụ lý vụ việc dân sự, theo nguyên tắc
bên nào đƣa ra yêu cầu trƣớc thì có nghĩa vụ chứng minh cho nên nguyên đơn,


Toà án thì Toà án áp dụng các biện pháp do pháp luật quy định để thu thập chứng
cứ.
Tại phiên tòa, phiên họp sơ thẩm dân sự, tập trung các hoạt động chứng minh
của các chủ thể tố tụng dân sự. Theo đó, các đƣơng sự trình bày về yêu cầu, phản
đối yêu cầu của mình và đƣa ra ý kiến đánh giá chứng cứ, căn cứ pháp lý và lập
luận chứng minh bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Các đƣơng sự có quyền
đƣa ra câu hỏi đối với ngƣời khác về những vấn đề liên quan đến vụ việc dân sự,
đƣợc tranh luận về các vấn đề của vụ việc và đối chất với nhau hoặc với ngƣời làm
chứng. Tại phiên tòa, các đƣơng sự vẫn có quyền thay đổi yêu cầu nhƣng không thể



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status