MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CƠ CẤU NGÀNH CÔNG NGHIỆP VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH CÔNG NGHIỆP - Pdf 67

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CƠ CẤU NGÀNH CÔNG NGHIỆP
VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH CÔNG
NGHIỆP
I. LÝ LUẬN CHUNG VỀ CƠ CẤU CÔNG NGHIỆP VÀ CHUYỂN DỊCH
CƠ CẤU NGÀNH CÔNG NGHIỆP
1. Cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế
Cơ cấu kinh tế
Cơ cấu kinh tế là mối quan hệ tỉ lệ giữa các bộ phận hợp thành một tổng thể kinh tế,
các bộ phận này có những mối liên hệ hữu cơ, những tác động qua lại cả về số lượng và
chất lượng, các quan hệ tỉ lệ được hình thành trong những điều kiện kinh tế - xã hội
nhất định, chúng luôn vận động và hướng vào những mục tiêu cụ thể
1
. Có thể nói trong
các vấn đề khác nhau của nhiệm vụ xây dựng đất nước, cơ cấu kinh tế là vấn đề then
chốt và có ý nghĩa quyết định nhất. Nó không chỉ thể hiện ở quan hệ tỷ lệ mà quan
trọng hơn là mối quan hệ tác động qua lại về nội dụng bên trong của hệ thống kinh tế,
thể hiện tính chất và trình độ phát triển hệ thống kinh tế của một quốc gia. Sự phát triển
của lực lượng sản xuất nhất định sẽ hình thành một cơ cấu kinh tế với tỷ lệ cân đối
tương ứng với các bộ phận. Tỷ lệ đó được thay đổi thường xuyên và tự giác theo quá
trình diễn biến khách quan của nhu cầu xã hội và khả năng đáp ứng nhu cầu đó. Vì vậy,
sự biến đổi của cơ cấu kinh tế luôn gắn liền với sự thay đổi không ngừng của lực lượng
sản xuất, nhu cầu tiêu dùng và đặc điểm chính trị, xã hội của từng thời kì. Sự vận động
và phát triển này là xu hướng phổ biến của mọi quốc gia. Song mối quan hệ giữa con
người với con người, con người với tự nhiên trong quá trình tái sản xuất mở rộng ở mỗi
giai đoạn lịch sử, mỗi quốc gia lại có sự khác nhau. Sự khác nhau đó bị chi phối bởi
quan hệ sản xuất, bởi các đặc trưng văn hoá xã hội, bởi các yếu tố lịch sử của mỗi dân
tộc. Do đó, các nước có thể có hình thái kinh tế-xã hội giống nhau, song lại vẫn có sự
khác nhau trong hình thành cơ cấu kinh tế, vì điều kiện kinh tế, xã hội và quan điểm
chiến lược mỗi nước khác nhau.
Cơ cấu kinh tế được phân tích theo hai phương diện:
Phương diện thứ nhất, mặt vật chất kĩ thuật của cơ cấu, bao gồm:

dạng khác phù hợp với sự phát triển của phân công lao động xã hội, sự phát triển của
lực lượng sản xuất và các nhu cầu phát triển khác của xã hội. Chuyển dịch cơ cấu kinh
tế mang tính khách quan thông qua những nhận thức chủ quan của con người. Những
tiêu chí cơ bản phản ánh sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế vĩ mô bao gồm: tỷ trọng của
các phần tử cơ cấu của hệ thống (theo GDP, lao động) và các chỉ tiêu chất lượng (như
năng suất lao động, tiêu hao điện năng trên một đồng GDP, tỷ lệ hộ đói nghèo, tỷ lệ
người thất nghiệp…). Khi có sự tác động của con người, trong quá trình chuyển dịch
cơ cấu đã hình thành một số khái niệm:
Điều chỉnh cơ cấu là quá trình chuyển dịch cơ cấu trên cơ sở thay đổi một số mặt
một số yếu tố của cơ cấu, làm cho nó thích ứng với điều kiện khách quan từng thời kỳ,
không tạo ra sự thay đổi đột biến, tức thời. Theo định nghĩa này thì điều chỉnh cơ cấu
chỉ diễn ra sau một khoảng thời gian nhất định vì nó là một quá trình và sự phát triển
của các ngành phải dẫn đến sự thay đổi mối quan hệ tương đối ổn định vốn có của
chúng (ở thời điểm trước đó). Trên thực tế, sự thay đổi này là kết quả của quá trình:
Xuất hiện thêm một số ngành mới hay mất đi một số ngành đã có, tức là có sự thay đổi
về số lượng cũng như loại ngành trong nền kinh tế. Hay là sự tăng trưởng về quy mô
với nhịp độ khác nhau của các ngành dẫn đến thay đổi cơ cấu.
Cải tổ cơ cấu là quá trình chuyển dịch mang tính thay đổi về mặt bản chất so với
thực trạng cơ cấu ban đầu, nhanh chóng tạo ra sự đột biến.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế hiện nay, các chiến lược cơ cấu và việc điều
chỉnh sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của mỗi quốc gia không chỉ thuần túy được nhìn
nhận dưới góc độ chuyển dịch ngành kinh tế trong phạm vi từng quốc gia mà còn phải
tính tới sự hoạt động của mạng lưới sản xuất đa quốc gia. Do đó, chuyển dịch cơ cấu
kinh tế của một nước sẽ phụ thuộc nhiều vào khả năng cạnh tranh để có được chỗ đứng
vững chắc trên thị trường và sự linh hoạt để có thể ứng phó, thích nghi với những biến
động trên thị trường thế giới.
Cơ sở lý thuyết của chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế
Lý thuyết các giai đoạn phát triển kinh tế của Rostow
Rostow cho rằng quá trình phát triển kinh tế của mỗi quốc gia được chia thành 5 giai
đoạn và ứng với mỗi một giai đoạn là một dạng cơ cấu ngành kinh tế đặc trưng thể hiện

với mỗi giai đoạn phát triển nhất định của mỗi quốc gia. Theo lý thuyết này hầu hết các
nước đang phát triển và đang trong quá trình công nghiệp hóa nằm ở trong khoảng giai
đoạn 2 và 3. Về mặt cơ cấu kinh tế, phải bắt đầu hình thành được những ngành công
nghiệp chế biến có khả năng thúc đẩy toàn bộ nền kinh tế tăng trưởng. Ngoài ra, sự
chuyển tiếp từ giai đoạn 2 sang giai đoạn 3 đi kèm với sự thay đổi của những ngành chủ
lực, đóng vai trò đầu tàu. Do đó Rostow đã nhấn mạnh tới nhân tố mang tính quyết định
của sự cất cánh là kỹ thuật mới được áp dụng, mà kỹ thuật mới thì bao giờ cũng được
áp dụng vào ngành công nghiệp cụ thể. Ông đã gọi ngành công nghiệp cụ thể giữ vai trò
đầu tàu này là ngành chủ đạo. Có nghĩa là, trong chính sách cơ cấu, cần xét đến trật tự
ưu tiên phát triển những ngành, lĩnh vực có khả năng đảm trách vai trò đầu tàu kinh tế
trong mỗi giai đoạn phát triển khác nhau.
Mô hình kinh tế nhị nguyên
Athur Lewis là người đầu tiên đưa ra mô hình này. Ông đã đưa ra giả thuyết nền
kinh tế song song tồn tại hai khu vực với hai nhóm ngành. Khu vực kinh tế truyền
thống, chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, khu vực này có đặc trưng là rất trì trệ, năng
suất lao động rất thấp và tình trạng dư thừa lao động. Do ruộng đất có hạn và trình độ
lao động cũng như áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ ngày một tăng, nên trong nông
nghiệp số lượng lao động giảm nhưng vẫn tăng sản xuất. Bộ phận lao động dư thừa này
có nhu cầu việc làm rất lớn, sẵn sàng di chuyển đến khu vực khác có việc làm và thu
nhập cao hơn hiện tại. Khu vực thứ hai là khu vực công nghiệp hiện đại, khu vực này có
năng suất lao động cao, tích lũy lớn, tạo ra khả năng tự phát triển không phụ thuộc vào
trình độ chung của nền kinh tế hiện tại.
Do lao động dư thừa nên việc chuyển một phần lao động thặng dư từ khu vực nông
nghiệp sang khu vực công nghiệp không gây ảnh hưởng gì đến sản lượng nông nghiệp.
Bên cạnh đó, năng suất lao động cao và tiền công cao hơn nên khu vực công nghiệp thu
hút lao động dư thừa từ khu vực nông nghiệp chuyển sang, và do lao động trong khu
vực nông nghiệp quá dư thừa và tiền công thấp hơn nên các ông chủ công nghiệp có thể
thuê mướn nhiều nhân công mà không phải tăng thêm tiền công, lợi nhuận của các ông
chủ ngày càng tăng; giả định rằng toàn bộ lợi nhuận sẽ được đem tái đầu tư thì nguồn
tích lũy để mở rộng sản xuất trong khu vực công nghiệp ngày càng tăng lên.

* Trong quá trình phát triển, tất cả các ngành có liên quan mật thiết với nhau, "đầu
ra" của ngành này là "đầu vào" của ngành kia và như vậy, sự phát triển đồng đều và cân
đối chính là đòi hỏi sự cân bằng cung cầu trong sản xuất.
* Sự phát triển cân đối giữa các ngành như thế giúp tránh được các ảnh hưởng tiêu
cực của thị trường thế giới và hạn chế được mức độ phụ thuộc vào các nền kinh tế
khác, qua đó tiết kiệm được nguồn ngoại tệ.
* Một nền kinh tế dựa trên cơ cấu cân đối giữa tất cả các ngành là nền tảng vững
chắc đảm bảo sự độc lập chính trị của các nước đang phát triển.
Lý thuyết này khi đưa ra được các quốc gia đang phát triển đi theo con đường công
nghiệp hóa hướng nội (công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu) rất ưa chuộng. Tuy nhiên,
khi được áp dụng thực tế đã bộc lộ những yếu điểm như: Việc phát triển một cơ cấu
kinh tế cân đối và hoàn chỉnh đã đẩy các nền kinh tế đến chỗ khép kín và tách biệt với
thế giới bên ngoài, điều này đi ngược lại với xu thế quốc tế hóa và toàn cần hóa, không
tận dụng được những lợi ích tích cực từ môi trường bên ngoài đem lại. Các nền kinh tế
đang phát triển không đủ nguồn lực về nhân tài, vật lực để có thể thực hiện được những
mục tiêu cơ cấu đặt ra.
Lý thuyết phát triển ngành không cân đối hay “cực tăng trưởng”
Nội dung của lý thuyết cho rằng: Một vùng không có sự phát triển đồng đều ở mọi
điểm trên lãnh thổ của nó theo cùng một thời gian, mà có xu hướng phát triển mạnh ở
một số điểm nào đó. Trong khi đó ở một số nơi khác chậm phát triển hơn hoặc bị trì trệ.
Các điểm phát triển mạnh và nhanh này thường có ưu thế, lợi thế so với toàn vùng và
được gọi là các cực tăng trưởng. Do đó, một cực tăng trưởng là một tập hợp các ngành
có khả năng tạo ra động lực tăng trưởng cho nền kinh tế vùng lãnh thổ (chủ yếu là công
nghiệp – dịch vụ). Thực chất đây là quá trình tập trung hóa lãnh thổ mà ở đó cực tăng
trưởng là điểm có lợi thế nhờ vị trí địa lý thuận lợi, có kết cấu hạ tầng phát triển, thu hút
được nhiều đầu tư. Vì vậy, lý thuyết chỉ ra không thể và không nhất thiết đảm bảo tăng
trưởng bền vững bằng cách duy trì cơ cấu cân đối liên ngành đối với mọi quốc gia mà
có thể phát triển nền kinh tế không cân đối, tập trung vào các ngành có điều kiện về
nguồn lực. Từ đó tập trung vào một số ngành có khả năng nguồn lực trong nước và
thuận tiện trong thu hút nguồn lực bên ngoài. Hay tạo ra “cực tăng trưởng” với các

Cơ cấu ngành kinh tế - kỹ thuật: là tổng hợp các ngành và mối liên hệ kinh tế - kỹ
thuật giữa các ngành trong tổng thể CCCN.
Cơ cấu thành phần kinh tế trong công nghiệp nói lên mối quan hệ giữa các thành
phần, có ý nghĩa rất lớn đến việc quyết định trật tự phát triển công nghiệp cả về sự hình
thành lẫn chuyển dịch CCCN.
Cơ cấu vùng lãnh thổ: xét CCCN theo sự phân bố về không gian và vùng lãnh thổ.
Nó thể hiện sự phân bố lực lượng sản xuất, sự phân công lao động trên các vùng lãnh
thổ khác nhau và mối quan hệ giữa các vùng lãnh thổ này trong toàn ngành công
nghiệp.
Phân loại cơ cấu công nghiệp
2.2.1. Cơ cấu công nghiệp phân theo ngành kinh tế
Theo phân ngành của Tổng cục thống kê, ngành công nghiệp được phân ra thành 3
ngành cấp 1 sau:
- Công nghiệp khai thác
- Công nghiệp chế biến
- Sản xuất và phân phối điện, khí đốt và nước
Trong đó:
Nhóm ngành công nghiêp khai thác bao gồm:
- Khai thác than
- Khai thác quặng kim loại
- Khai thác dầu thô và khí tự nhiên
- Khai thác đá và mỏ khác
Nhóm ngành công nghiệp chế biến bao gồm:
- Chế biến nông lâm, thủy sản
- Sản xuất sản phẩm hóa chất, dầu mỏ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status