Pháp luật Việt Nam với việc bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, chồng và các con khi ly hôn - Pdf 48

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

LÊ THỊ LOAN

PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỚI VIỆC BẢO ĐẢM
QUYỀN LỢI ÍCH HỢP PHÁP CỦA VỢ, CHỒNG
VÀ CÁC CON KHI LY HÔN

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT DÂN SỰ VÀ TỐ TỤNG DÂN SỰ
MÃ SỐ: 60380103

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS HÀ THỊ MAI HIÊN

HÀ NỘI - 2015


LỜI CẢM ƠN

Em xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu nhà trường, các thầy cô Khoa sau
đại học Trường Đại học Luật Hà Nội đã nhiệt tình giảng dạy và giúp đỡ em trong
suốt thời gian qua. Xin chân thành cảm ơn gia đình, các đồng nghiệp Văn phòng
luật sư Kiều Vân và cộng sự đã tạo điều kiện để tôi hoàn thành khóa học. Đặc biệt,
em xin chân thành cảm ơn sâu sắc nhất đến Phó giáo sư, Tiến sĩ Hà Thị Mai Hiên –
người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em hoàn thành luận văn này.

1.3. Vai trò, nội dung các biện pháp của pháp luật Việt Nam với việc bảo đảm
quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, chồng và các con khi ly hôn ............................... 9
1.3.1. Vai trò của pháp luật Việt Nam với việc bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp
của vợ, chồng và các con khi ly hôn .................................................................. 9
1.3.2. Các biện pháp của pháp luật Việt Nam với việc bảo đảm quyền, lợi ích
hợp pháp của vợ, chồng và các con khi ly hôn ................................................ 10
1.4. Khái lược pháp luật Việt Nam về bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, chồng và
các con khi ly hôn qua các thời kỳ ……………………………………………………………………………………………….12
1.4.1. Thời kỳ phong kiến………………………………………………………………………………………………..12

1.4.2. Thời kỳ Pháp thuộc ............................................................................... 13
1.4.3. Thời kỳ từ năm 1945 đến năm 1954 ....................................................... 14
1.4.4. Thời kỳ từ năm 1954 đến năm 1975 ....................................................... 15
1.4.5 Thời kỳ 1975 đến nay ............................................................................. 17
Chương 2 THỰC TRẠNG LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH HIỆN HÀNH
VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN, LỢI ÍCH HỢP PHÁP CỦA VỢ, CHỒNG VÀ CÁC
CON KHI LY HÔN ............................................................................................. 19
2.1. Thực trạng quy định Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 về bảo đảm quyền,
lợi ích hợp pháp của vợ, chồng khi ly hôn .......................................................... 19


2.2. Thực trạng quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 về bảo đảm
quyền, lợi ích hợp pháp của các con khi cha mẹ ly hôn ...................................... 29
Chương 3 THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG VIỆC BẢO ĐẢM
QUYỀN, LỢI ÍCH HỢP PHÁP CỦA VỢ, CHỒNG VÀ CÁC CON KHI LY
HÔN VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ ........................................................................ 38
3.1. Thực tiễn hoạt động xét xử các vụ án ly hôn với việc bảo đảm quyền, lợi ích
hợp pháp của vợ, chồng và các con .................................................................... 38
3.1.1. Trong công tác hòa giải các vụ án hôn nhân và gia đình ....................... 38
3.1.2. Áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử ............................................. 39

thuận, hạnh phúc và bền vững nói chung.
Vì vậy, cần phải có sự điều chỉnh bằng pháp luật mà cụ thể là Luật hôn nhân
và gia đình. Đồng thời, cần có sự hoạt động hiệu quả của Tòa án trong việc áp dụng
pháp luật trong hoạt động xét xử các vụ án ly hôn cũng như công tác thi hành án của
cơ quant thi hành án nhằm hạn chế những tác động tiêu cực mà ly hôn mang lại
cũng như bảo đảm được quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, chồng và các con. Chính vì
những lý do đã nêu, tôi đã chọn đề tài “Pháp luật Việt Nam với việc bảo đảm
quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, chồng và các con khi ly hôn” để làm công trình
nghiên cứu cho luận văn thạc sĩ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu ở nhiều cấp độ khác nhau, đề cập
trực tiếp hoặc có liên quan tới về vấn bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, chồng và
các con khi ly hôn, tiêu biểu có thể kể đến một số công trình nghiên cứu như:


2

Nhóm luận văn, luận án: Ở nhóm này có thể kể đến một số công trình
nghiên cứu khoa học tiêu biểu như:
"Chế độ tài sản của vợ, chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam
năm 2000", Luận án Tiến sĩ luật học, của Nguyễn Văn Cừ, Trường Đại học Luật Hà
Nội, 2004; "Bảo vệ quyền lợi phụ nữ theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm
2000”, Luận văn Thạc sĩ luật học, của Bùi Thị Mừng, Trường Đại học Luật Hà Nội;
"Giải quyết tranh chấp tài sản của vợ chồng khi ly hôn theo Luật Hôn nhân và gia
đình Việt Nam năm 2000", Luận văn Thạc sĩ luật học, của Phạm Thị Ngọc Lan,
Khoa Luật - Đại học Quốc gia, 2008... Những luận án, luận văn trên các tác giả đã
đi vào nghiên cứu về tài sản của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân và ly hôn, đề cập
tới vấn đề bảo vệ quyền lợi phụ nữ.
Nhóm khóa luận tốt nghiệp: Có thể kể đến:
"Nguyên tắc bảo vệ quyền lợi của cha, mẹ và con trong Luật Hôn nhân và

vợ, chồng và các con khi ly hôn theo pháp luật hôn nhân và gia đình, đặc biệt trú
trọng vào Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, thực tiễn xét xử án ly hôn cũng như
việc thi hành các bản án ly hôn có liên quan đến vấn đề này.
4. Phương pháp nghiên cứu đề tài
Đề tài khoa học được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của Chủ
nghĩa Mác-Lê nin về chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ
Chí Minh. Bên cạnh đó, việc nghiên cứu đề tài khoa học cũng sử dụng các phương
pháp nghiên cứu khoa học chuyên ngành như: Phương pháp lịch sử, tổng hợp, phân
tích, so sánh, đối chiếu… để làm sáng tỏ vấn đề cần nghiên cứu.
5. Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là khái quát các quy định của hệ thống
pháp luật Việt Nam về bảo đảm quyền, lợi ích của vợ, chồng và các con khi ly hôn;
đi sâu vào phân tích các quy định bảo đảm quyền và lợi ích của vợ, chồng và các
con khi ly hôn của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, nhận xét, đánh giá hoạt
động xét xử và thi hành án có liên quan đến vấn đề này để thấy được những vướng
mắc khi áp dụng pháp luật.
Để đạt được mục đích nêu trên, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài là:
-

Phân tích các vấn đề lý luận về bảo đảm quyền, lợi ích của vợ, chồng và

các con khi ly hôn.
-

Phân tích, đánh giá các quy định về bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của

vợ, chồng và các con khi ly hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.


5

1.1. Ly hôn và hậu quả pháp lý của ly hôn tới vợ, chồng và các con
1.1.1. Khái niệm ly hôn
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lê Nin, ly hôn là một mặt của quan hệ
hôn nhân, nó là mặt trái, mặt bất bình thường nhưng là mặt không thể thiếu của
quan hệ hôn nhân và gia đình. Khi đời sống tình cảm yêu thương giữa vợ chồng đã
hết, mâu thuẫn gia đình sâu sắc, mục đích hôn nhân không đạt được thì vấn đề ly
hôn được đặt ra nhằm giải phóng cho vợ chồng, con cái và các thành viên trong gia
đình thoát khỏi những xung đột, bế tắc trong đời sống chung.
Ly hôn là sự kiện pháp lý làm chấm dứt quan hệ hôn nhân mà chỉ có vợ,
chồng hoặc cả hai vợ chồng mới có quyền yêu cầu ly hôn. Tuy nhiên, quyền ly hôn
của vợ, chồng phải đặt dưới sự kiểm soát chặt chẽ của Nhà nước và pháp luật nhằm
hạn chế, ngăn chặn những hiện tượng vợ chồng lạm dụng quyền tự do ly hôn gây
hậu quả xấu cho gia đình và xã hội. Đứng trên lập trường quan điểm Chủ nghĩa Mác
– Lê nin, khoản 8 Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định: “ly hôn là
việc chấm dứt quan hệ hôn nhân do Tòa án công nhận hoặc quyết định theo yêu cầu
của vợ hoặc chồng hoặc của cả hai vợ chồng”.
Trong khoa học pháp lý nói chung và khoa học Luật Hôn nhân và gia đình nói
riêng, việc đưa ra khái niệm đầy đủ về ly hôn có ý nghĩa quan trọng, tạo cơ sở cho
việc xác định bản chất pháp lý của ly hôn, xác định nội dung, phạm vi điều chỉnh của
các quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình về vấn đề ly hôn và các vấn đề khác phát
sinh từ ly hôn. Theo Viện Khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp thì ly hôn được hiểu là:
“Chấm dứt quan hệ vợ chồng do Tòa án nhân dân công nhận hoặc quyết định theo
yêu cầu của vợ chồng hoặc của cả hai vợ chồng”. Đây là cách giải thích được sử
dụng nhiều trong công tác nghiên cứu và giảng dạy khoa học pháp luật và giải thích
cho các đương sự có liên quan trong thực tiễn giải quyết các vụ án ly hôn.


7

Theo khoản 14, điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì “Ly hôn là


8

Khi vợ chồng ly hôn, quan hệ hôn nhân chấm dứt, tuy nhiên quan hệ huyết
thống hay quan hệ nuôi dưỡng giữa cha mẹ và con vẫn không hề thay đổi. Vì vậy,
trên phương diện pháp lý, các quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với nhau sẽ
chấm dứt nhưng các quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con thì vẫn không thay
đổi. Tuy nhiên, cha mẹ ly hôn, con cái sẽ là người phải chịu nhiều đau khổ, thiệt
thòi nhất về mặt tâm lý, tình cảm cũng như sự phát triển bình thường của đứa trẻ
dẫn đến tình trạng trẻ em bỏ học đi lang thang, trẻ em phạm tội… Nguyên nhân
chính là do cha mẹ ly hôn không quan tâm tới việc chăm sóc, giáo dục con đã trở
thành vấn đề nhức nhối của toàn xã hội. Vì vậy, vợ chồng ly hôn đã gây hậu quả
pháp lý không nhỏ tới các con.
Như vậy, ly hôn dẫn đến những hậu quả pháp lý tới vợ, chồng và các con:
làm chấm dứt quan hệ nhân thân, phát sinh vấn đề chia tài sản vợ chồng và vấn đề
cấp dưỡng giữa vợ, chồng; hậu quả pháp lý tới các con. Vì vậy việc bảo đảm quyền,
lợi ích hợp pháp của vợ, chồng và các con khi ly hôn chính là nhìn nhận ở góc độ
hậu quả pháp lý của ly hôn.
1.2. Khái niệm bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, chồng và các
con khi ly hôn
Để xây dựng được khái niệm bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, chồng
và các con khi ly hôn thì trước hết cần tìm hiểu thế nào là “bảo đảm”; thế nào là
“quyền” và thế nào là “lợi ích hợp pháp”.
- Khái niệm “bảo đảm”:
Về mặt ngôn ngữ, theo từ điển Tiếng Việt thì “bảo đảm” được hiểu là sự chắc
chắn thực hiện được hoặc có đầy đủ những gì cần thiết để thực hiện được một việc cụ
thể nào đó. Đây là khái niệm chung nhất cho mọi lĩnh vực. Còn khái niệm “bảo
đảm” ở đây được nghiện cứu trong phạm vi “quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, chồng
và các con khi ly hôn”, có nghĩa là nó được giới hạn trong lĩnh vực pháp luật cụ thể
đó là pháp luật hôn nhân và gia đình. Do đó, về mặt pháp lý, theo từ điển Luật học thì

định gián tiếp thông qua các luật khác như: Bộ Luật dân sự, Bộ luật tố tụng dân sự,
Luật thi hành án dân sự, Luật bình đẳng giới, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ
em; Luật Doanh nghiệp… Đồng thời việc bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của vợ,
chồng và các con còn được thể hiện trong thực tiễn áp dụng pháp luật của Tòa án trong
hoạt động xét xử các vụ án ly hôn và thực tiễn thi hành án của cơ quan Thi hành án.


10

Có thể thấy pháp luật có vị trí, vai trò và tầm quan trọng hàng đầu trong việc
bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, chồng và các con khi ly hôn.
- Pháp luật là phương tiện chính thức hóa các quyền, lợi ích hợp pháp của
vợ, chồng và các con khi ly hôn. Các quyền, lợi ích này khi đã được quy định trong
pháp luật thì nó sẽ trở thành quyền pháp định, được xã hội thừa nhận, được Nhà
nước tôn trọng bảo vệ. và có giá trị bắt buộc đối với toàn xã hội.
- Pháp luật là công cụ sắc bén trong việc thực hiện bảo đảm quyền, lợi ích
hợp pháp của vợ, chồng và các con khi ly hôn. Tính sắc bén của pháp luật trong
việc thực hiện bảo đảm quyền, lợi ích của vợ, chồng và các con được thể hiện ở các
quy định về quyền, lợi ích của vợ, chồng và các con khi ly hôn trong pháp luật. Khi
cần thiết thì Nhà nước sử dụng các biện pháp cưỡng chế trên cơ sở tiến hành các
biện pháp giáo dục, thuyết phục bảo đảm cho nội dung quyền, lợi ích của vợ, chồng
và các con được thực hiện và bảo vệ. Bên cạnh đó, nhờ hệ thống cơ quan bảo vệ
pháp luật mà mọi hành vi vi phạm quyền, lợi ích này đều có khả năng bị phát hiện
nhanh chóng và xử lý kịp thời.
- Pháp luật là tiền đề, nền tảng tạo cơ sở pháp lý để vợ, chồng và các con
đấu tranh bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Bởi pháp luật được xem
xét là công cụ, phương tiện, vũ khí của mọi người trong xã hội để thực hiện, bảo vệ
quyền, lợi ích của mình khi bị xâm phạm. Chỉ có pháp luật, bằng các qui phạm pháp
luật được quy định chặt chẽ mới tạo nên cơ sở pháp lý vững chắc để mọi người đấu
tranh chống lại các hành vi xâm hại, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

nhân và gia đình năm 2014 quy định rất cụ thể các quyền, lợi ích hợp pháp của vợ,
chồng và các con khi ly hôn. Bên cạnh hệ thống pháp luật quốc gia, Việt nam còn
tích cực tham gia, phê chuẩn các Công ước quốc tế, đặc biệt là Công ước quốc tế về
quyền con người, quyền trẻ em.
- Ngoài việc xây dựng hệ thống các quy phạm pháp luật bảo đảm quyền, lợi
ích hợp pháp của vợ, chồng và các con khi ly hôn thì pháp luật còn bảo đảm các
quyền, lợi ích này được thực hiện trên thực tế thông qua hoạt động của các cá nhân,
cơ quan, tổ chức hữu quan. Pháp luật quy định trách nhiệm của cha, mẹ, nhà trường,
Tòa án, cơ quan Thi hành án và quy định cả các hình thức, biện pháp xử lý những
hành vi vi phạm; xây dựng hệ thống các thủ tục trong tố tụng trong đó có tố tụng
hình sự, tố tụng dân sự, ngăn ngừa sự tùy tiện, lạm quyền của các cơ quan và những
người tiến hành tố tụng; cụ thể hóa các Công ước quốc tế về quyền con người,
quyền trẻ em để hòa nhập pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế.


12

- Việc triển khai các hoạt động phổ biến, tuyên truyền, giáo dục, giải thích
pháp luật, hướng dẫn thực hiện pháp luật… nhằm nâng cao ý thức pháp luật cho các
thành viên xã hội, hình thành văn hóa pháp lý trong đời sống xã hội cũng là điều
cần thiết. Đồng thời huy động sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội trong việc tổ chức
thực hiện pháp luật, nhất là nâng cao hiệu lực, hiệu quả tổ chức thực hiện pháp luật
của bộ máy Nhà nước, phải bảo đảm cho các quy định về bảo đảm quyền, lợi ích
hợp pháp của vợ, chồng và các con khi ly hôn được thực thi nghiêm chỉnh, các hành
vi vi phạm ngày càng giảm, còn có hiện tượng vi phạm thì càng phải được phát
hiện, xử lý kịp thời.
- Các cơ quan tổ chức trong xã hội muốn thực hiện tốt các hoạt động bảo
đảm quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, chồng và các con khi ly hôn thì cần phải có
nguồn lực tài chính để đảm bảo. Vì vậy việc xây dựng các quỹ tài trợ, quỹ hỗ trợ tài
chính trong xã hội cũng là điều cần thiết và quan trọng. Nhà nước ta luôn khuyến

không được pháp luật ghi nhận nên nếu có vướng mắc về vấn đề nuôi dưỡng, chăm
sóc con thì quan lại địa phương sẽ xem xét tùy từng trường hợp cụ thể. Đối với con
cái thì con mang họ cha nên sau khi ly hôn con sẽ sống với cha nhưng nếu muốn
giữ con thì người vợ có quyền yêu cầu “chia” một nửa số con. Những quy định này
đã không đảm bảo được quyền và lợi ích cho vợ và các con.
Như vậy các quy định của pháp luật thời kỳ này tuy có điểm tiến bộ thể hiện
quyền bình đẳng trong quan hệ tài sản giữa vợ và chồng, nhưng lại chủ yếu bảo đảm
quyền lợi cho người chồng mà không quan tâm tới bảo đảm quyền và lợi ích cho vợ
và các con. Bởi ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo, Phật giáo, cũng như phong tục
tập quán đã ăn sâu vào tiềm thức, trở thành thói quen ứng xử của người Việt nam
lúc bấy giờ.
1.4.2. Thời kỳ Pháp thuộc
Sang đến thời kỳ Pháp thuộc, chính quyền thực dân đã lần lượt ban hành các
văn bản pháp luật mới: Tập dân luật giản yếu Nam Kỳ năm 1883; Bộ dân luật Bắc
Kỳ năm 1931 và Bộ dân luật Trung Kỳ năm 1936 nên các quan hệ hôn nhân và gia
đình thời kỳ này cũng có sự thay đổi đáng kể. Nhìn chung những quy định về hôn
nhân và gia đình trong các bộ luật này vẫn duy trì sự bất bình đẳng nam, nữ với việc
thừa nhận quyền gia trưởng của người đàn ông, tước đi nhiều quyền lợi cơ bản của
người phụ nữ. Vì vậy, các quy định về ly hôn cũng tuân thủ triệt để nguyên tắc củng
cố địa vị của người gia trưởng, có sự phân biệt giữa các con, coi rẻ quyền lợi của
con cái, trú trọng tới việc giải quyết hậu quả về tài sản khi vợ chồng ly hôn.


14

Về quan hệ nhân thân: Sau khi ly hôn, vợ chồng muốn đoàn tụ với nhau thì
“phải khai giá thú với hộ lại” nhưng sau khi đoàn tụ rồi mà lại xin ly hôn lần nữa
thì Tòa án không giải quyết. Quy định này có phần cứng nhắc và không bảo đảm
được quyền nhân thân cho cả vợ và chồng.
Về quan hệ tài sản: Khi ly hôn, vấn đề thanh toán tài sản giữa vợ, chồng

nghĩa với việc phải xây dựng một hệ thống pháp luật để làm công cụ quản lý kinh
tế, xã hội. Vì vậy ngay từ khi ra đời, Nhà nước ta đã chú trọng xây dựng một hệ
thống pháp luật hoàn chỉnh, trong đó có Luật Hôn nhân và gia đình.
Sự ra đời của Sắc lệnh số 97/SL ngày 22/5/1950 và Sắc lệnh số 150/SL ngày
17/11/1950 đánh dấu bước khởi điểm của Luật Hôn nhân và gia đình trong chế độ
xã hội mới. Sắc lệnh số 97/SL mới dừng lại ở việc ghi nhận sự bình đẳng trong
quan hệ vợ chồng mà chưa đề cập tới vấn đề ly hôn. Những hạn chế này đã từng
bước được khắc phục ở Sắc lệnh số 159/SL với những quy định cụ thể thừa nhận
nguyên tắc tự do hôn nhân. Trong đó có tự do giá thú và tự do ly hôn, xóa bỏ sự bất
bình đẳng về duyên cớ ly hôn, bảo vệ người phụ nữ có thai và thai nhi khi ly hôn,
cũng như quyền lợi của con chưa thành niên khi cha mẹ ly hôn. Theo đó, để bảo vệ
quyền lợi của con chưa thành niên: “Tòa án sẽ căn cứ vào quyền lợi của các con vị
thành niên để ấn định việc trông nom, nuôi nấng và dạy dỗ chúng” (Điều 6). Đây là
điểm tiến bộ khi nhà làm luật đã quan tâm, bảo đảm quyền lợi cho người phụ nữ và
con chưa thành niên khi ly hôn.
Có thể nói các quy định về ly hôn giai đoạn này đã góp phần xóa bỏ chế độ
hôn nhân và gia đình phong kiến lạc hậu, giải phóng phụ nữ thoát khỏi sự ràng buộc,
khắt khe, không tôn trọng cũng như bảo đảm quyền lợi chính đáng của họ; bước đầu
quyền lợi của phụ nữ và con chưa thành niên khi cha mẹ ly hôn được bảo vệ.
1.4.4. Thời kỳ từ năm 1954 đến năm 1975
Năm 1954, cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi, đất nước ta tạm thời bị
chia cắt làm hai miền với hai chế độ chính trị khác biệt. Do đó pháp luật về hôn
nhân và gia đình thời kỳ này có những quy định riêng của mỗi miền:
Miền Bắc: Hiến pháp năm 1959 ra đời, ghi nhận quyền bình đẳng nam nữ về
mọi mặt: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và gia đình, tạo cơ sở pháp lý cho việc
ban hành một đạo luật mới về hôn nhân và gia đình. Trên cơ sở đó Luật Hôn nhân
và gia đình năm 1959 ban hành ngày 29/12/1959 dành một chương quy định về ly
hôn với những quy định khác hẳn với pháp luật trước kia.
Về quan hệ nhân thân: Sau khi phán quyết ly hôn của Tòa án có hiệu lực
pháp luật, quan hệ vợ chồng sẽ chấm dứt trước pháp luật (Điều 25, Điều 26).

phải cấp dưỡng cho người kia, hay người không có lỗi đương nhiên được nuôi con
dưới 16 tuổi,…


17

Nhìn chung, pháp luật hôn nhân và gia đình ở miền Nam thời kỳ này ra đời
trong hoàn cảnh đất nước có chiến tranh, các phong tục tập quán lạc hậu vẫn còn
tồn tại và nó là công cụ để bảo vệ của chính quyền phản động tay sai. Vì vậy, các
quy định pháp luật điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình do chính quyền Ngụy
Sài Gòn ban hành thời kỳ này đều bảo vệ quyền lợi của người gia trưởng, thực hiện
nguyên tắc bất bình đẳng giữa vợ chồng, có sự phân biệt giữa các con nhằm bảo vệ
Nhà nước phản động mị dân, đi ngược lại với lợi ích của nhân dân ta.
1.4.5 Thời kỳ 1975 đến nay
Năm 1975 cuộc kháng chiến chống Mỹ thắng lợi, giải phóng miền Nam,
thống nhất đất nước. Cách mạng nước ta chuyển sang giai đoạn mới – giai đoạn cả
nước giành độc lập, thống nhất và tiến lên Chủ nghĩa xã hội. Hiến pháp năm 1980
được ban hành ghi nhận các nguyên tắc về chế độ hôn nhân và gia đình (Điều
38,47,63 và Điều 64), trên cơ sở đó, Nhà nước ta ban hành Luật Hôn nhân và gia
đình năm 1986.
Các quy định về ly hôn của Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 về cơ bản vẫn
dựa trên những quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 như bảo vệ quyền
lợi của người phụ nữ và con chưa thành niên, cấp dưỡng giữa vợ chồng…nhưng có bổ
sung thêm nhiều quy định mới về việc chia tài sản khi ly hôn (Điều 42), về cấp dưỡng
giữa vợ, chồng (Điều 43) và lần đầu tiên đưa ra quy định bảo vệ quyền lợi của con đã
thành niên nhưng không có khả năng lao động (Điều 20),…
Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 đã góp phần xây dựng và củng cố quan
hệ gia đình, có những quy định mới, tiến bộ đảm bảo được quyền và lợi ích hợp
pháp của vợ, chồng và các con khi ly hôn, đặc biệt là vợ và các con. Tuy nhiên, sau
hơn 10 năm thực hiện, cùng với sự phát triển kinh tế xã hội, các quan hệ xã hội mới

Hôn nhân và gia đình năm 2014 ra đời, thay thế cho Luật Hôn nhân và gia đình năm
2000. Các quy định về ly hôn trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 theo đó
mà cũng có những sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với tình hình thực tiễn nhằm bảo
đảm tối đa quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, chồng và các con khi ly hôn.


19

Chương 2
THỰC TRẠNG LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH HIỆN HÀNH
VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN, LỢI ÍCH HỢP PHÁP CỦA VỢ,
CHỒNG VÀ CÁC CON KHI LY HÔN
2.1. Thực trạng quy định Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 về bảo
đảm quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, chồng khi ly hôn
a. Về quyền yêu cầu ly hôn
Theo quy định tại khoản 1 Điều 51 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 thì
“Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Toà án giải quyết việc ly hôn”.
Điều này được kế thừa theo khoản 1 Điều 85 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000.
Tuy nhiên Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 có thêm quy định mới so với Luật
Hôn nhân và Gia đình năm 2000 tại khoản 2 Điều 51: "Cha, mẹ, người thân thích
khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh
tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của
mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm
ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ". Như vậy, quy
định mới này của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 đã bảo đảm tốt hơn quyền,
lợi ích hợp pháp của vợ, chồng trong một số trường hợp đặc biệt mà họ không thể
tự mình thực hiện quyền yêu cầu ly hôn.
Tại khoản 3, Điều 51 quy định về việc hạn chế quyền yêu cầu ly hôn của
người chồng “Trong trường hợp vợ có thai hoặc đang nuôi con dưới mười hai
tháng tuổi thì chồng không có quyền yêu cầu xin ly hôn”. Điều này cũng được kế

sinh từ khi kết hôn và gắn bó trong suốt thời kỳ hôn nhân sẽ đương nhiên mất đi.
Như vậy, quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng chỉ tồn tại và được pháp luật bảo vệ
khi họ là vợ chồng hợp pháp của nhau. Nên sau khi ly hôn, các quyền và nghĩa vụ
nhân thân giữa vợ chồng sẽ chấm dứt. Họ không còn bị ràng buộc với nhau về quan
hệ nhân thân của vợ chồng.
c. Về chia tài sản của vợ, chồng
-

Các nguyên tắc và căn cứ chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn

+

Nguyên tắc: Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 (Điều 59) ghi nhận

nguyên tắc bình đẳng, tự nguyện, tự định đoạt của vợ chồng; bảo vệ lợi ích chính



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status