Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do người chưa thành niên gây ra theo pháp luật Việt Nam - Pdf 48

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

NINH THÚY NGỌC

TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI
NGOÀI HỢP ĐỒNG DO NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN
GÂY RA THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM

Chuyên ngành: Luật Dân sự và Tố tụng dân sự
Mã số: 60380103

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS. TS. TRẦN THỊ HUỆ

HÀ NỘI - 2015


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do tôi thực hiện. Các số liệu, ví
dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo chính xác và trung thực. Các kết luận nghiên
cứu được trình bày trong luận văn chưa từng được công bố ở các nghiên cứu khác.
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình.

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Ninh Thúy Ngọc

ra

........................................................................................................................18

2.1.1. Có thiệt hại xảy ra ........................................................................................19
2.1.2 Có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại .........................................................20


2.1.3 Phải có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại xảy ra và hành vi trái pháp
luật

.................................................................................................................23

2.1.4 Người gây thiệt hại có lỗi .............................................................................25
2.2. Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người chưa thành niên .....26
2.2.1 Người chưa thành niên dưới 15 tuổi gây thiệt hại.........................................26
2.2.2 Người chưa thành niên từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi gây thiệt hại .......32
2.2.3 Trường hợp người chưa thành niên có người giám hộ, gây thiệt hại .................34
2.3. Nguyên tắc bồi thường thiệt hại, xác định thiệt hại và mức bồi thường thiệt hại ............ 36
2.3.1 Nguyên tắc bồi thường thiệt hại ....................................................................36
2.3.2 Xác định thiệt hại ..........................................................................................40
2.3.3 Mức bồi thường thiệt hại ...............................................................................46
2.4. Những trường hợp loại trừ, giảm trách nhiệm bồi thường thiệt hại..................48
2.4.1 Trường hợp loại trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại ..................................49
2.4.2 Trường hợp giảm trách nhiệm bồi thường thiệt hại .....................................52
Chương 3: THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG HOÀN THIỆN PHÁP
LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM BỒ THƯỜNG THỆT HẠI DO NGƯỜI CHƯA
THÀNH NIÊN GÂY THIỆT ...................................................................................... 54
3.1. Những thuận lợi để hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do
người chưa thành niên gây ra ....................................................................................54

trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy, giết người”. Trước tình hình vi phạm
pháp luật của người chưa thành niên như vậy, một vấn đề được đặt ra là bên cạnh việc
người chưa thành niên có thể phải chịu truy cứu trách nhiệm hình sự thì về mặt dân sự,
các trường hợp người chưa thành niên gây thiệt hại sẽ được giải quyết như thế nào?
Chủ thể nào sẽ phải chịu trách nhiệm bồi thường? Chính những boăn khoăn này đã
khơi dậy cho tác giả sự hứng thú để tìm hiểu những thắc mắc đó. Tham khảo các công
trình nghiên cứu, thì hoặc các tác giả lại có hướng nghiên cứu chung về chế định trách
nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, hoặc đối với các công trình nghiên cứu
phạm vi hẹp hơn khoanh vùng xung quanh vấn đề bồi thường thiệt hại của người chưa
thành niên mới chỉ dừng lại ở nghiên cứu một khía cạnh nhỏ của vấn đề, hoặc nếu
nghiên cứu tổng thể về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người chưa thành niên gây
thiệt hại thì mới chỉ dừng lại ở khái quát các quy định của pháp luật. Các công trình
nghiên cứu chưa cho câu trả lời thỏa mãn các thắc mắc, các vấn đề mà bản thân tác giả
quan tâm. Để giải đáp được những thắc mắc, tác giả phải đi từ gốc là nghiên cứu các
quy định của pháp luật, thực tế áp dụng các quy định ấy để tự tìm câu trả lời cho bản
thân trước tình hình đáng báo động của xã hội về suy nghĩ, xử xự của một lớp thế hệ
trẻ chưa thành niên đối với những người xung quanh và xã hội.


2

Chính vì vậy tác giả đã quyết định lựa chọn đề tài “Trách nhiệm bồi thường
thiệt hại ngoài hợp đồng do người chưa thành niên gây ra theo pháp luật Việt
Nam” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Dưới góc độ khoa học pháp lý, đã có rất nhiều những công trình nghiên cứu về
các vấn đề, nội dung thuộc lĩnh vực trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
Xuất phát từ nhu cầu công việc, sự quan tâm hứng thú của bản thân đối với một nội
dung nhất định trong chế định,… mà các nhà nghiên đã chọn cho mình những đề tài
nghiên cứu khác nhau.

nghiên cứu, Bộ luật dân sự năm 2005 vẫn đang được áp dụng và chưa có sự sửa đổi,
chính vì vậy mà khi nghiên cứu lẽ dĩ nhiên công trình chưa so sánh và tham khảo với
Dự thảo Bộ luật dân sự sửa đổi.
3. Phạm vi nghiên cứu đề tài
Luận văn sẽ chỉ nghiên cứu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người chưa
thành niên gây ra trong phạm vi các quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại
ngoài hợp đồng của Bộ luật dân sự hiện hành và các văn bản hướng dẫn thi hành.
4. Phương pháp nghiên cứu đề tài
Các phương pháp cụ thể được thực hiện để nghiên cứu đề tài bao gồm: phương
pháp phân tích, phương pháp chứng minh, phương pháp so sánh. Từ những quy định
chung và quy định riêng qua phân tích để đi đến những lập luận cho từng trường hợp,
trong quá trình phân tích có so sánh các quy định của pháp luật hiện hành với các quy
định đã tồn tại trong hệ thống pháp luật trước đây để đưa ra các đánh giá và nhận xét.
Trong khi nghiên cứu, tìm hiểu và tiến hành luận văn, sẽ cố gắng về mặt quy
định pháp luật sẽ liện hệ, tham khảo với Dự thảo bộ luật dân sự sửa đổi và tham khảo
một số vụ việc bồi thường thiệt hại do người chưa thành niên gây thiệt hại trên thực tế.
5. Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
Mục đích:
- Làm rõ cơ sở lý luận về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người chưa thành
niên gây ra. Trên cơ sở đó, luận văn nghiên cứu và phát hiện những quy định bất cập, thiếu
khuyết, chưa cụ thể. Một mặt góp phần hoàn chỉnh lý luận khoa học đối với quy định của
pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người chưa thành niên gây ra, từ lý luận
khoa học hoàn chỉnh sẽ giúp cho việc thi hành và áp dụng luật đạt hiệu quả.
- Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về trách
nhiệm bồi thường thiệt hại do người chưa thành niên gây ra ở tại Việt Nam dưới hai
góc độ là điều chỉnh pháp luật và áp dụng pháp luật.
Nhiệm vụ
Để đạt được mục đích trên đây thì đề tài phải thực hiện được các nhiệm vụ:
Làm rõ khái niệm, đặc điểm của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp
đồng do người chưa thành niên gây thiệt hại. Đồng thời phân tích các quy định của

Để hiểu rõ thế nào là trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người chưa thành niên
gây thiệt hại, cần phải hiểu được các khái niệm người chưa thành niên, bồi thường
thiệt hại và trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Từ đó mới có thể đưa ra được cách hiểu
đúng đắn về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người chưa thành niên gây thiệt hại.
1.1.1.1. Khái niệm người chưa thành niên
“Sinh, lão, bệnh, tử” là quy luật của tự nhiên mà con người phải tuân theo.
Cuộc đời của mỗi người đều trải qua các giai đoạn được sinh ra, trưởng thành, già nua
và chết đi. Tương ứng với mỗi giai đoạn phát triển của một người sẽ có những thuật
ngữ khác nhau để chỉ từng giai đoạn đó. Thuật ngữ người chưa thành niên là để chỉ
con người ở một giai đoạn nhất định.
Xét về mặt khoa học y học, khái niệm người chưa thành niên để chỉ nhóm đối
tượng chưa phát triển hoàn toàn về thể chất cũng như tâm sinh lý. Trong nhóm đối
tượng này có thể chia nhỏ ra thành nhiều nhóm đối tượng có đặc điểm về thể chất gần
giống nhau hơn: trẻ em và vị thành niên. Trẻ em để chỉ nhóm những đối tượng chưa
phát triển nhất về thể chất và tâm sinh lý. Trẻ em mới đang trong giai đoạn phát triển
về thể chất như thay đổi rõ nét về chiều cao, cân nặng, các hệ cơ quan trong cơ thể dần
hoàn thiện và hoạt động tốt hơn. Về tâm sinh lý, trẻ em đang trong giai đoạn học hỏi
hình thành và định hình tính cách. Quá trình phát triển của trẻ em trải qua các thời kỳ:
sơ sinh, bú mẹ, trước khi đi học, đi học và tuổi dậy thì. Ở mỗi thời kỳ, trẻ em có đặc
điểm về thể chất cũng như tâm sinh lý đặc trưng khác nhau.
Sau giai đoạn được gọi là trẻ em, con người trải qua giai đoạn vị thành niên.
“Vị thành niên” là khái niệm xuất hiện nhiều trong đời sống hàng ngày của xã hội Việt
Nam. Xét về mặt từ ngữ, “vị thành niên” là từ hán việt được ghép bởi hai tổ hợp từ là
“vị” và “thành niên”. Âm Hán Việt “vị” có nghĩa là thiếu, là chưa đầy đủ. Do đó, dịch
từ âm Hán Việt ra thì “vị thành niên” cũng có nghĩa là chưa thành niên. Tuy nhiên
trong đời sống hàng ngày, vị thành niên thường được dùng để chỉ nhóm người đã phát
triển gần hoàn thiện về thể chất và tâm lý. Ở nhóm đối tượng này, về mặt thể chất có


6

Ở một số Quốc Gia trên thế giới, độ tuổi làm mốc xác định một người được coi
là thành niên hay chưa cũng khác nhau. Phần lớn các quốc gia lấy mốc 18 tuổi để xác
định một người được coi là đã thành niên. Cũng có một số Quốc gia căn cứ vào tình
hình kinh tế- xã hội, môi trường sống của quốc gia mình, sự phát triển thực tế của dân
số mà có quy định về độ tuổi thành niên khác. Chẳng hạn ở Nhật Bản, theo Luật về


7

người chưa thành niên số 168 ngày 15/07/1948 và đã được sửa đổi qua các năm 1949,
1950, 1951, 1951, 1952, 1953, 1954, 1985, 1987, 1997, 1999 và năm 2000 thì người
chưa thành niên là người chưa đủ 20 tuổi. Hay một số Quốc gia như Cuba và Scotland
lại quy định tuổi thành niên là 16 tuổi. Ở Hàn Quốc và hai tiểu bang của Hoa Kỳ là
Alabama và Nebraska lại quy định tuổi thành niên là 19 tuổi [9].
Theo quy định của pháp luật Việt Nam, tại Điều 18 của Bộ luật dân sự năm
2005 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Khóa XI, kỳ họp thứ
7 thông qua ngày 14 tháng 06 năm 2005 (Bộ luật dân sự năm 2005) quy định: “Người
từ đủ mười tám tuổi trở lên là người thành niên. Người chưa đủ mười tám tuổi là
người chưa thành niên”. Cũng theo quy định của pháp luật, người chưa thành niên sẽ
không có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, chưa được tự mình xác lập các giao dịch dân
sự như đối với người đã thành niên, ngoài ra người chưa thành niên cũng bị hạn chế
một số quyền công dân như chưa được bầu cử cũng như chưa được ứng cử vào Quốc
hội và Hội đồng nhân dân.
Bên cạnh đó, Điều 1 Luật Bảo vệ, chăn sóc và giáo dục trẻ em số
25/2004/QH11 được Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua
ngày 15/06/2004 quy định: “Trẻ em quy định trong luật này là công dân Việt Nam
dưới 16 tuổi”. Vậy, theo quy định của pháp luật Việt Nam, người chưa thành niên là
người dưới 18 tuổi, trẻ em thuộc nhóm người chưa thành niên và dưới 16 tuổi.
Tóm lại, quan điểm cơ bản của chúng ta sẽ là: Người chưa thành niên là người
dưới 18 tuổi, chưa phát triển hoàn thiện về thể chất và tinh thần, chưa có đầy đủ các

gây thiệt hại cho người khác thì người đã gây thiệt hại do lỗi của mình phải bồi
thường thiệt hại”. Điều 1383 Bộ luật dân sự Pháp cũng quy định: “Mỗi người phải
chịu trách nhiệm về thiệt hại do mình gây ra, không những do hành vi mà còn do sự
cẩu thả hoặc không thận trọng” [5].
Điều 416 Bộ luật dân sự Nhật Bản thì lại có quy định: “Yêu cầu bồi thường
thiệt hại sẽ có giá trị đối với việc không thực hiện trái vụ. Trái chủ có quyền được bồi
thường cả những thiệt hại xảy ra trong những tình huống đặc biệt, nếu các bên biết
trước hoặc phải biết trước những tình huống đó” [4].
Bộ luật dân sự và thương mại Thái Lan lại có quy định tại Điều 420 như sau:
“Một người cố tình hay vô tình làm tổn thương một cách trái pháp luật đến đời sống
thân thể, sức khỏe, tự do, tài sản hoặc bất kỳ quyền nào của người khác thì bị coi là
phạm một hành vi sai trái và có nghĩa vụ bồi thường tổn thương đó” [6].
Tại Việt Nam, trong Bộ luật dân sự năm 2005, trách nhiệm bồi thường thiệt hại
ngoài hợp đồng được quy định tại chương XXI của Bộ luật. Điều 604 của Bộ luật dân
sự năm 2005 khẳng định: “Người nào do lỗi cố ý hoặc vô ý xâm phạm đến tính mạng,
sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá
nhân, xâm phạm đến danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc các chủ thể khác mà
gây thiệt hại thì phải bồi thường”[17].
Từ các quy định của một số quốc gia trên thế giới đều được hiểu là một người
khi gây thiệt hại cho người khác thì giữa người gây thiệt hại và người bị thiệt hại phát
sinh quan hệ pháp luật mà người gây thiệt hại phải bồi thường cho người bị thiệt hại


9

(gọi là trách nhiệm bồi thường thiệt hại), các quy định kể trên đều hướng tới nguyên
tắc: Người gây thiệt hại phải bồi thường thiệt hại.
Như vậy, theo quan niệm pháp lý của hầu hết các quốc gia trên thế giới nói
chung và của Việt Nam nói riêng, trách nhiệm bồi thường thiệt hại là trách nhiệm dân
sự mang tính tài sản áp dụng cho người gây thiệt hại khi người đó có hành vi vi phạm


10

chưa thành niên gây thiệt hại, hậu quả bất lợi về tài sản đấy sẽ do người chưa thành
niên gánh chịu nếu người chưa thành niên có tài sản riêng và từ đủ mười lăm tuổi,
hoặc cha mẹ của người chưa thành niên phải chịu hậu quả bất lợi về tài sản trong
trường hợp con chưa thành niên dưới mười lăm tuổi, trong một số trường hợp cụ thể
khác, tùy thuộc theo từng điều kiện hoàn cảnh nhất định, chủ thể chịu hậu quả bất lợi
về tài sản khi người chưa thành niên gây thiệt hại có thể không phải là bản thân người
chưa thành niên hay cha mẹ người chưa thành niên mà lại là người đang có trách
nhiệm quản lý, giám hộ,… người chưa thành niên đó.
Sở dĩ nói trách nhiệm bồi thường thiệt hại luôn đem đến một hậu quả bất lợi về
tài sản cho người gây thiệt hại (nói chung) bởi lẽ, khi một người gây ra tổn thất cho
người khác thì tổn thất đó phải tính toán được bằng tiền hoặc phải được pháp luật quy
định là một đại lượng vật chất nhất định để làm căn cứ thực hiện được việc bồi thường,
nếu thiệt hại không thể xác định hay quy định thành một đại lượng vật chất nhất định
thì việc bồi thường không thể thực hiện được. Bên cạnh đó, mặc dù những thiệt hại có
thể về tinh thần, không thể tính toán quy đổi thành tiền được nhưng cũng sẽ được pháp
luật quy định một mức xác định để bảo đảm cả những tổn thất về tinh thần mà người
bị thiệt hại đã phải gánh chịu sẽ được bù đắp.
Thứ tư, về mức bồi thường: về nguyên tắc khi người nào đó gây thiệt hại thì sẽ
phải bồi thường toàn bộ thiệt hại xảy ra. Mức bồi thường thiệt hại chỉ có thể được
giảm trong một số trường hợp đặc biệt đã được pháp luật quy định. Một trong số
những trường hợp đó là người gây thiệt hại có lỗi vô ý và thiệt hại xảy ra quá lớn so
với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của người có trách nhiệm bồi thường.
Bên cạnh các đặc điểm chung nhất của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài
hợp đồng, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người chưa thành niên gây ra còn có đặc
điểm riêng thể hiện ở đặc điểm thứ năm về chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường.
Thứ năm, về chủ thể chịu trách nhiệm: về nguyên tắc chung, trách nhiệm bồi
thường thiệt hại ngoài hợp đồng sẽ được áp dụng cho chủ thể có hành vi gây thiệt hại.

hại cho người bị thiệt hại theo đúng quy định của pháp luật. Nhưng bên cạnh đó, có
không ít những trường hợp người chưa thành niên đã gây thiệt hại. Xét ở góc độ quy
định của pháp luật thì người chưa thành niên chưa có năng lực hành vi dân sự đầy đủ
nên chưa thể tham gia vào một số quan hệ pháp luật dân sự nhất định cũng như chịu
trách nhiệm về hành vi của chính mình. Xét ở góc độ khoa học xã hội, thể chất và tâm
sinh lý của người chưa thành niên chưa phát triển toàn diện, họ chưa thể suy nghĩ chín
chắn, ý thức được hậu quả có thể xảy ra bởi những hành vi của mình. Nhưng không có
nghĩa những hành vi vi phạm pháp luật, gây thiệt hại của người chưa thành niên có thể
đương nhiên xảy ra mà không phải gánh chịu hậu quả pháp lý nào cũng như không có
một chủ thể nào phải chịu trách nhiệm pháp lý. Tuy nhiên hướng giải quyết cho những
trường hợp này sẽ thế nào? Để giải quyết vấn đề này, chế định bồi thường thiệt hại do
người chưa thành niên gây ra đã có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo cơ sở pháp lý để
cơ quan nhà nước có thẩm quyền có thể giải quyết được các vụ việc người chưa thành
niên gây thiệt hại hoặc các bên chủ thể có liên quan căn cứ quy định của pháp luật mà
tự thỏa thuận đưa ra phương hướng giải quyết tranh chấp hợp lý.
Thứ hai, vì chưa hoàn toàn ý thức được hết hậu quả hành vi của mình gây ra mà
trong những trường hợp người chưa thành niên gây thiệt hại có khi hậu quả xảy ra vô
cùng to lớn, thậm chí hậu quả còn nặng nề hơn cả trường hợp người đã thành niên gây


12

thiệt hại. Những thiệt hại xảy ra đã để lại hậu quả đau lòng cho nạn nhân và có khi còn
cho cả gia đình của nạn nhân, nhà nước và xã hội. Việc bồi thường toàn bộ những thiệt
hại vật chất đã xảy ra và bù đắp phần nào những tổn thất về tinh thần cho người bị
thiệt hại, gia đình người thiệt hại ngay cả trong trường hợp người chưa thành niên gây
ra là hoàn toàn cần thiết. Vì vậy, quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do
người chưa thành niên gây thiệt hại sẽ đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của
người bị thiệt hại ngay cả trong trường hợp người gây thiệt hại chưa đủ năng lực hành
vi dân sự cũng như không có khả năng bồi thường.

1.3.

Lược sử quy định của pháp luật Việt Nam về năng lực chịu trách nhiệm bồi

thường thiệt hại do người chưa thành niên gây ra
Không phải ngay từ khi mới hình thành, quy định về trách nhiệm bồi thường
thiệt hại do người chưa thành niên gây thiệt hại đã phát triển mà theo tiến trình của lịch
sử, nó cũng trải qua các giai đoạn manh nha xuất hiện, hình thành, cũng có khi tạm
thời bị lãng quên rồi lại phát triển.
1.3.1. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người chưa thành niên gây ra theo quy
định của Luật Hồng Đức
Luật Hồng Đức hay còn gọi là Quốc Triều hình luật được coi là đỉnh cao của
pháp luật với những giá trị đặc sắc gắn với thời đại Lê sơ ở thế kỷ XV - thời kỳ huy
hoàng của chế độ phong kiến Việt Nam. Sở dĩ được đánh giá là đỉnh cao pháp luật thời
kỳ phong kiến bởi theo các nhà sử học và luật học trong và ngoài nước thì Quốc triều
hình luật đã có những thành tựu phát triển rực rỡ không những vượt xa so với các triều
đại trước đó như Lý, Trần mà còn so với cả bộ luật được biên soạn vào đầu thế kỉ XIX
- Hoàng Việt luật lệ do vua Gia Long ban hành năm 1812, dù cùng chịu ảnh hưởng
lớn của pháp luật phong kiến Trung Quốc nhưng lại mang đậm bản sắc văn hóa Việt
Nam [15].
Dưới góc độ của khoa học luật chuyên ngành hiện đại, Quốc Triều hình luật
được đánh giá như là một bộ luật tổng hợp, tiêu biểu cho hệ thống pháp luật thời nhà
Lê bao gồm các quy định của nhiều ngành luật: Luật hành chính, Luật hình sự và tố
tụng hình sự, Luật dân sự, Luật hôn nhân và gia đình, Luật đất đai.
Tìm hiểu sâu hơn vào lĩnh vực dân sự trong Quốc triều hình luật, luật đã cơ bản
quy định về chế định sở hữu, trách nhiệm dân sự, khế ước và sở hữu [15]. Về trách
nhiệm bồi thường thiệt hại, Quốc triều hình luật thường quy định gắn liền với trách
nhiệm hình sự. Ngoài việc áp dụng các hình phạt cụ thể tùy từng trường hợp, người
gây thiệt hại còn phải bồi thường thiệt hại cho người bị xâm phạm. Đặc biệt, trong bộ
luật có quy định về trách nhiệm của cha mẹ khi con gây thiệt hại. Điều 457 Quốc triều

luật dân, việc dân, ruộng và nhà ở; quyển 7 quy định luật dân về cưới gả và quyển 8
quy định luật dân về thương khố, nộp thuế, cho vay, tiền bạc, chợ, cửa hàng [16]. Tìm
hiểu các quy định của hộ luật không thấy có quy định về bồi thường thiệt hại tài sản
của nhân dân, mà chỉ quy định các vấn đề chung nhất trong đời sống của nhân dân.
Chính vì vậy mà trong giai đoạn lưu hành và áp dụng Luật Gia Long, các quy
định về bồi thường thiệt hại của người chưa thành niên đã không có điều kiện để hình
thành và phát triển thêm một bậc mới so với thời kỳ của Luật Hồng Đức.
1.3.3. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người chưa thành niên gây ra theo quy
định của các Bộ Dân luật.
Năm 1858 thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta và năm 1884 Pháp đã đặt
ách thống trị trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Sau khi thống trị nước ta, thực dân pháp đã
ban hành ra các bộ luật dựa trên bộ luật Napoleon nhưng có điều chỉnh cho phù hợp
với điều kiện kinh tế- xã hội và chính trị ở Việt Nam. Tại miền Bắc, Bộ dân luật Bắc
Kỳ được ban hành vào ngày 01/04/1931 và Bộ Hoàng Việt Trung kỳ hộ luật (Dân luật
Trung kỳ) được ban hành áp dụng cho miền Trung vào ngày 31/10/1936.


15

Do được xây dựng dựa trên nền tảng là bộ luật Napoleon của Pháp nên về kỹ
thuật lập pháp các bộ dân luật đã có những điểm tiến bộ nhất định. Cả hai bộ dân luật
đều có quy định về chế định bồi thường thiệt hại, rõ ràng thành hai phần về trách
nhiệm dân sự theo hợp đồng và trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Đối
với trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, Bộ dân luật đã có những quy
định cụ thể về nguyên tắc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Điều 711 Dân
luật Bắc Kỳ và Điều 763 Dân luật Trung Kỳ quy định: “Người ta phải chịu trách
nhiệm không những tổn hại tự mình làm ra mà cả về sự tổn hại do những người mà
mình phải bảo lãnh hay những vật mà mình phải trông coi nữa…” [10]. Phần quy định
này cho thấy không những một người gây thiệt hại thì phải tự bồi thường, họ nếu là
người giám hộ (bảo lĩnh) còn có trách nhiệm bồi thường thay cho người được giám hộ

Riêng người vị thành niên nào vào khoảng 16 tuổi, đã có sức lao động sản xuất,
có công việc làm, phần nào đã hiểu được ý nghĩa hành vi dân sự của mình, tuy chưa
hiểu biết đầy đủ, nên họ đã có một phần năng lực hành vi dân sự. Do đó phải chịu
trách nhiệm bồi thường thiệt hại do họ gây ra bằng thu nhập hay tài sản của họ. Nếu
họ bồi thường không đủ thì cha mẹ (hay người giám hộ) phải bù phần còn thiếu”.
Ở giai đoạn này, pháp luật đã bắt đầu có những quy định cụ thể hơn về trách
nhiệm bồi thường thiệt hại của người chưa thành niên. Tuy nhiên, pháp luật mới chỉ
dừng lại quy định trách nhiệm của một nhóm đối tượng hẹp hơn thuộc nhóm người
chưa thành niên- đó là người vị thành niên. Mặc dù vậy, quy định của pháp luật cũng
cho thấy nhà nước đã có những quan tâm cụ thể và có quy định pháp luật riêng để điều
chỉnh nhóm đối tượng đặc biệt này.
Theo tiến trình thời gian, pháp luật Việt Nam cũng dần hoàn thiện và có
những quy định cụ thể hơn về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người chưa thành
niên gây thiệt hại. Ngày 20/01/1988 Hội đồng thẩm phán đã ra Nghị quyết số 01/NQHĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật hôn nhân và gia đình, trong đó có
quy định về trách nhiệm bồi thường thệt hại do người chưa thành niên gây ra. Trên
tinh thần áp dụng luật Hôn nhân và gia đình, căn cứ vào trách nhiệm, vai trò của cha
mẹ đối với con cái mà đặc biệt là đối với con chưa thành niên, Điểm b Mục 4 của Nghị
quyết quy định: “ b. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật của
con chưa thành niên gây ra (Điều 25).
Xuất phát từ yêu cầu là phải bảo đảm quyền lợi của người bị thiệt hại và trách nhiệm
của cha mẹ là phải giáo dục, quản lý con chưa thành niên, nên trách nhiệm bồi thường
thiệt hại do hành vi trái pháp luật của con chưa thành niên gây ra như sau:
- Về nguyên tắc, cha mẹ chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp
luật của con dưới 16 tuổi gây ra. Tuy nhiên, nếu con có tài sản riêng mà cha mẹ không
có khả năng bồi thường đầy đủ hoặc không có khả năng bồi thường thì lấy tài sản của
con để bồi thường cho đủ.
- Con chưa thành niên từ 16 đến 18 tuổi mà có tài sản riêng thì phải bồi thường thiệt
hại do hành vi trái pháp luật của mình gây ra bằng tài sản riêng. Nếu tài sản riêng
của con không đủ để bồi thường hoặc không có tài sản riêng thì cha mẹ phải bồi
thường cho đủ…

thiệt hại mà có tài sản riêng thì dùng tài sản riêng đó để bồi thường, nếu tài sản riêng
không đủ để thực hiện nghĩa vụ thì cha mẹ phải bồi thường phần còn thiếu.
Nếu người chưa thành niên có người giám hộ thì người giám hộ dùng tài sản
của người chưa thành niên để bồi thường, nếu không có tài sản hoặc tài sản không đủ
để bồi thường thì người giám hộ phải lấy tài sản của mình để bồi thường trừ trường
hợp chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ.
Nếu người chưa thành niên gây thiệt hại trong thời gian học ở trường học, thì
trường học phải bồi thường trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.


18

Chương 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ
TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO NGƯỜI CHƯA THÀNH
NIÊN GÂY THIỆT HẠI
2.1.

Căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người chưa thành niên
gây ra
Mục đích của việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là

để chủ thể đã gây ra thiệt hại phải chịu những hậu quả bất lợi về tài sản, đồng thời bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị thiệt hại. Chính vì lẽ đó mà Điều 604 Bộ
luật dân sự năm 2005 đã khẳng định: “Người nào do lỗi cố ý hoặc vô ý xâm phạm tính
mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp của cá
nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây
thiệt hại thì phải bồi thường”.
Để đảm bảo sự công bằng, quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đều được bảo
vệ, trách nhiệm bồi thường thiệt hại không thể xác định một cách tùy tiện, vô căn cứ.
Theo quy định tại Mục 1 Phần I Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP của Hội đồng

nhiệm bồi thường thiệt hại có phát sinh hay không. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại
sẽ chỉ phát sinh trên cơ sở đã có thiệt hại xảy ra.
Trước đây, trong pháp luật dân sự của nước ta, cụ thể tại Thông tư số 173/UBTP
có hướng dẫn thế nào được coi là thiệt hại làm căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi
thường thiệt hại. Theo đó, tại tiểu mục 1 Mục A Phần II của Thông tư đã quy định
thiệt hại được hiểu “Đó là thiệt hại về vật chất, biểu hiện cụ thể là thiệt hại về tài sản,
hoặc là những chi phí và những thu nhập bị giảm sút hay bị mất do có sự thiệt hại về
tính mạng, sức khoẻ đưa đến. Thiệt hại ấy phải thực sự đã xảy ra và có thể tính toán
được.
Tuy nhiên, đối với loại thiệt hại như: hoa màu sắp được thu hoạch một cách
tương đối chắc chắn mà bị làm hư hỏng, hay súc vật sắp đến ngày đẻ mà bị làm chết,
thì có thể xem xét thiệt hại một cách thích đáng”.
Tuy nhiên, trong xã hội ngày càng phát triển như hiện nay, không những giá trị
về vật chất được coi trọng mà những giá trị về tinh thần của con người cũng ngày càng
được xem trọng và lưu ý bảo vệ hơn. Trên tinh thần tiếp thu các quy định của văn bản
pháp luật cũ quy định thiệt hại bao gồm thiệt hại về vật chất, văn bản pháp luật hiện
hành đã mở rộng thêm phạm vi thiệt hại làm căn cứ để phát sinh trách nhiệm bồi
thường thiệt hại bao gồm cả thiệt hại về tinh thần. Cụ thể tại tiểu mục 1.1 mục 1 Phần I
của Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP quy định: “Thiệt hại bao gồm thiệt hại về vật
chất và thiệt hại do tổn thất về tinh thần.
a) Thiệt hại về vật chất bao gồm: thiệt hại do tài sản bị xâm phạm quy
định tại Điều 608 BLDS; thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm quy định tại khoản 1 Điều
609 BLDS; thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm quy định tại khoản 1 Điều 610 BLDS;
thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm quy định tại khoản 1 Điều 611
BLDS.


20

b) Thiệt hại do tổn thất về tinh thần của cá nhân được hiểu là do sức khoẻ, danh

trong giai đoạn kiến thiết và chi viện cho miền nam trong cuộc cuộc đấu tranh thống
nhất đất nước, đã có Thông tư số 173/UBTP tại tiểu mục 2 mục A phần II quy định về
hành vi trái pháp luật, theo đó, “Hành vi trái pháp luật có thể là một việc phạm pháp
về hình sự, một vi phạm pháp luật về dân sự, một vi phạm đường lối, chính sách của
Đảng và Nhà nước, hoặc một vi phạm quy tắc sinh hoạt xã hội”. Có thể thấy: quy định
về hành vi được coi là trái pháp luật thiên về dạng liệt kê, mặc dù nằm trong văn bản


21

pháp luật dân sự nhưng những phạm pháp về hình sự, hành chính cũng được liệt kê
trong quy định này. Sở dĩ như vậy bởi đây là giai đoạn đất nước vẫn đang tập trung
vào thống nhất và xây dựng đất nước, người dân theo nếp sống của các quy tắc chung
trong xã hội và trong sự định hướng từ các chính sách của Đảng và Nhà nước.
Trong pháp luật dân sự hiện hành, hành vi trái pháp luật đã được quy định lại,
thay thế cho các văn bản pháp luật điều chỉnh cùng vấn đề trước đây. Cụ thể, tại tiểu
mục 1.2 mục 1 phần I của Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP quy định: “Hành vi trái
pháp luật là những xử sự cụ thể của con người được thể hiện thông qua hành động
hoặc không hành động trái với các quy định của pháp luật”. So với quy định trước đây
của Thông tư số 173/UBTP ngày 23/03/1972, quy định của pháp luật hiện hành đã
ngắn gọn hơn, giải thích mang tính chất khái quát hơn là liệt kê.
Từ quy định cho thấy “hành vi trái pháp luật” sẽ có hai đặc điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, hành vi trái pháp luật phải do con người thực hiện, không thể được
thực hiện bởi một chủ thể không phải là con người. Bởi pháp luật được hình thành, xây
dựng trong xã hội loài người và áp dụng cho con người.
Khi lặp luận như vậy, không ít người sẽ phản bác rằng: như vậy trong trường hợp
tổ chức, pháp nhân có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại cho chủ thể khác thì không
phải bồi thường vì tổ chức, pháp nhân không phải là con người nên không thỏa mãn
điều kiện hành vi trái pháp luật được quy định tại tiểu mục 1.2 mục 1 Phần 1 của Nghị
quyết số 03/2006/NQ-HĐTP nói trên, vì vậy không đủ căn cứ phát sinh trách nhiệm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status