BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ TIỆP
HỢP ĐỒNG MÔI GIỚI THƯƠNG MẠI THEO
PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH
Chuyên ngành: LUẬT KINH TẾ
Mã số: 60.38.0107
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. NGUYỄN THỊ YẾN
HÀ NỘI - 2014
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài luận văn, em đã nhận được rất nhiều sự
giúp đỡ, tạo điều kiện của các thầy cô trong Ban Giám hiệu, Khoa Luật Kinh
tế và Khoa sau đại học Trường Đại học Luật Hà Nội. Em xin bảy tỏ sự cảm
ơn chân thành về sự giúp đỡ đó.
Em xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc tới cô giáo TS. Nguyễn Thị Yến,
người đã trực tiếp hướng dẫn và chỉ bảo em hoàn thành luận văn này.
Em xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp và Ban Giám
hiệu Trường Trung cấp Luật Thái Nguyên đã động viên, khuyến khích, tạo
2.1.1. Bên môi giới ..................................................................... 24
2.1.2. Bên được môi giới ............................................................ 30
2.2. Đối tượng của hợp đồng môi giới thương mại ......................... 31
2.3. Nội dung của hợp đồng môi giới thương mại ........................... 32
2.4. Hình thức của hợp đồng môi giới thương mại .......................... 45
2.5. Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng môi giới thương mại ........ 46
2.6. Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng môi giới thương mại ......... 48
2.7. Giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng mô giới thương mại
................................................................................................................. 49
2.8. Chấm dứt hợp đồng môi giới thương mại ................................ 49
CHƯƠNG 3 ................................................................................................ 52
PHƯƠNG HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN, NÂNG
CAO HIỆU QUẢ THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG MÔI GIỚI
THƯƠNG MẠI .......................................................................................... 52
3.1. Phương hướng hoàn thiện pháp luật về hợp đồng môi giới
thương mại ............................................................................................... 52
3.2. Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về hợp đồng môi giới
thương mại ............................................................................................... 58
3.3. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về hợp
đồng môi giới thương mại. ....................................................................... 63
KẾT LUẬN ................................................................................................. 67
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................... 68
DANH MỤC VĂN BẢN PHÁP LUẬT ..................................................... 69
1
MỞ ĐẦU
bên tham gia giao kết hợp đồng, hình thức của hợp đồng ... Nhìn chung,
những quy định này đã tạo điều kiện cho các bên trong việc xác lập và thực
hiện các hợp đồng môi giới trong từng lĩnh vực cụ thể.
Tuy nhiên, quá trình triển khai áp dụng các quy định của pháp luật hiện
hành về hợp đồng môi giới thương mại cho thấy các quy định về hợp đồng
môi giới thương mại còn chưa đầy đủ, bộc lộ nhiều mâu thuẫn, chồng chéo,
nhiều quy định còn chưa cụ thể dẫn đến khó khăn cho việc áp dụng và ảnh
hưởng đến sự phát triển của hoạt động môi giới thương mại nói chung và việc
thực hiện quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia hợp đồng môi giới thương
mại nói riêng.
Trước yêu cầu phát triển của nền kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế và
thực trạng pháp luật điều chỉnh về hợp đồng môi giới thương mại ở Việt Nam
hiện nay, việc nghiên cứu các quy định chung của pháp luật Việt Nam hiện
hành về hợp đồng môi giới thương mại trên cơ sở phân tích, đánh giá các quy
định của pháp luật chuyên ngành về một số hợp đồng môi giới đặc thù là cần
thiết và có ý nghĩa về mặt lý luận và thực tiễn.
2. Tình hình nghiên cứu
Trong khoa học pháp lý, pháp luật điều chỉnh hợp đồng môi giới
thương mại chưa được nghiên cứu nhiều. Các vấn đề pháp lý về hợp đồng
môi giới thương mại mới chỉ được đề cập trong giáo trình Luật Thương mại
của một số cơ sở đào tạo Luật: Trường Đại học Luật Hà Nội, Khoa Luật
Trường Đại học quốc gia. Tuy nhiên, những tài liệu này mới chỉ dừng lại ở
việc nghiên cứu các quy định chung nhất của pháp luật về hoạt động môi giới
thương mại, trong đó có đề cập đến nội dung về hợp đồng môi giới thương
mại, chưa có sự nghiên cứu sâu sắc về mặt lý luận cũng như những bất cập
của pháp luật hiện hành về vấn đề này.
3
tổng quát các vấn đề lý luận và thực tiễn về pháp luật điều chỉnh hợp đồng
môi giới thương mại theo quy định của pháp luật hiện hành.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu nhằm làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và
thực tiễn về hợp đồng môi giới thương mại, trên cơ sở đó đề xuất một số giải
pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện pháp luật về hợp đồng môi giới thương mại.
Với mục đích nêu trên, luận văn thực hiện các nhiệm vụ chủ yếu sau:
- Làm rõ khái niệm, đặc điểm, vai trò của hoạt động môi giới thương
mại; tìm hiểu khái niệm, đặc điểm về hợp đồng môi giới thương mại và pháp
luật điều chỉnh hợp đồng môi giới thương mại.
- Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật điều chỉnh hợp đồng môi giới
thương mại;
- Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về hợp đồng môi giới
thương mại và một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện các hợp
đồng môi giới thương mại.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Để đạt được mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra, luận văn nghiên
cứu các quy định của pháp luật về hợp đồng môi giới thương mại trong LTM
2005 và một số văn bản pháp luật chuyên ngành về hợp đồng môi giới trong
từng lĩnh vực cụ thể, đồng thời có tham khảo và so sánh quy định về hợp
đồng môi giới thương mại của một số nước trên thế giới.
LTM 2005 đã mở rộng phạm vi môi giới thương mại, bao gồm tất cả
các hoạt động môi giới nhằm mục đích sinh lợi như môi giới bất động sản,
môi giới chứng khoán, môi giới bảo hiểm, môi giới mua bán hàng hóa, môi
giới hàng hải ... Vì vậy, pháp luật điều chỉnh hợp đồng môi giới thương mại
rộng và được quy định trong nhiều văn bản pháp luật chuyên ngành. Trong
phạm vi luận văn thạc sỹ luật học, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu những nội
5
6
Chương 2: Thực trạng pháp luật điều chỉnh hợp đồng môi giới thương
mại ở Việt Nam.
Chương 3: Phương hướng và một số giải pháp hoàn thiện và nâng cao
hiệu quả thực thi pháp luật về hợp đồng môi giới thương mại.
7
CHƯƠNG 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ MÔI GIỚI THƯƠNG MẠI,
HỢP ĐỒNG MÔI GIỚI THƯƠNG MẠI VÀ PHÁP LUẬT VỀ
HỢP ĐỒNG MÔI GIỚI THƯƠNG MẠI
1.1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của môi giới thương mại
1.1.1. Khái niệm môi giới thương mại
Môi giới thương mại là một trong các phương thức giao dịch qua trung
gian, được hình thành cùng với sự phát triển của hoạt động thương mại, do
nhu cầu của thương nhân và dần phát triển thành một nghề kinh doanh chuyên
nghiệp trên nhiều lĩnh vực: môi giới chứng khoán, môi giới bất động sản, môi
giới mua bán hàng hóa, môi giới hàng hải ... Nghề môi giới được hình thành
khá sớm trong lịch sử nền kinh tế. Có thể thấy, tiền thân của nghề môi giới tài
chính là nghề thợ vàng, nghề đổi tiền, sau đó tới các hoạt động đầu tư bất
động sản, đầu tư và kinh doanh chứng khoán. Hoạt động môi giới bảo hiểm
đầu tiên ra đời có liên quan đến các rủi ro hàng hải và bắt đầu từ nghiệp vụ
bảo hiểm các rủi ro từ các thảm họa thiên nhiên của hoạt động hàng hải. Nghề
môi giới thuê tầu ra đời đầu tiên ở nước Anh, từ thế kỷ XVII, dần vượt ra khỏi
phạm vi của nước Anh và phát triển ngày càng mạnh mẽ tại các quốc gia hàng
hải hoặc kinh doanh dịch vụ hàng hải... Trong hoạt động thương mại quốc tế,
lúc đầu, người môi giới chỉ đơn thuần là người phiên dịch, sau đó họ đóng vai
tiếp xúc, đàm phán và thiết lập các quan hệ để hưởng thù lao”. Luật Thương
mại năm 2005 định nghĩa: “Môi giới thương mại là hoạt động thương mại,
theo đó một thương nhân làm trung gian (gọi là bên môi giới) cho các bên
mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ (gọi là bên được môi giới) trong việc
đàm phán, giao kết hợp đồng, mua bán hàng hóa, dịch vụ và được hưởng thù
lao theo hợp đồng môi giới” (Điều 150).
9
Tuy LTM 2005 không đưa ra khái niệm thương mại nhưng hiện nay
khái niệm này được hiểu theo nghĩa rộng, theo Luật mẫu của UNCITRAL về
trọng tài thương mại: “Thuật ngữ “thương mại” cần được giải thích theo nghĩa
rộng liên quan đến tất cả các vấn đề phát sinh từ các quan hệ có bản chất
thương mại, dù là quan hệ hợp đồng hoặc không phải là quan hệ hợp đồng.
Những quan hệ có bản chất thương mại bao gồm, nhưng không giới hạn bởi
các giao dịch sau: giao dịch thương mại để cung cấp hoặc trao đổi hàng hóa,
dịch vụ; thỏa thuận phân phối, đại diện hoặc đại lý thương mại; hoa hồng;
thuê mua, xây dựng công trình; tư vấn, kỹ thuật; li – xăng; đầu tư; tài chính;
ngân hàng; bảo hiểm; thỏa thuận thăm dò hoặc khai thác; liên doanh và các
hình thức hợp tác công nghiệp hoặc kinh doanh khác; vận tải hàng hóa hoặc
hành khách bằng đường hàng không, đường biển, đường sắt hoặc đường bộ”.
Trong khi đó, thương mại theo cách hiểu thông qua các hiệp định của WTO
bao gồm thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ, thương mại liên quan đến
đầu tư, thương mại liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ. Pháp luật Việt Nam
không đưa ra khái niệm “thương mại” nhưng đưa ra khái niệm “hoạt động
thương mại” theo đó: “hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích
sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến
thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác” (khoản 11 Điều 3
LTM 2005).
nhằm kết nối các bên tiếp xúc, đàm phán và xác lập các giao dịch.
Cũng giống như các hình thức trung gian thương mại khác, môi giới
thương mại là hành vi cung ứng dịch vụ thương mại theo phương thức trung
gian. Người môi giới được thuê để thực hiện các hoạt động giúp các bên được
môi giới giao kết hợp đồng với nhau.
Hoạt động môi giới thương mại trước tiên là một hoạt động cung ứng
dịch vụ thương mại, vì vậy chủ thể của hoạt động này cũng bao gồm hai bên
là bên thực hiện dịch vụ (bên môi giới) và bên có nhu cầu sử dụng dịch vụ
11
(bên được môi giới). Cũng giống như các hoạt động trung gian thương mại
khác, trong hoạt động môi giới thương mại có sự xuất hiện của bên thứ ba
nhưng bên môi giới chỉ có chức năng kết nối giữa bên được môi giới với bên
thứ ba trong việc đàm phán, ký kết hợp đồng chứ không trực tiếp tham gia
vào việc giao kết và thực hiện hợp đồng với bên thứ ba.
Thứ hai, hoạt động môi giới thương mại có nội dung và phạm vi rộng.
Hoạt động môi giới thương mại là hoạt động thương mại của thương
nhân nhằm mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận. Theo quy định của pháp luật Việt
Nam hiện hành cũng như pháp luật của nhiều nước trên thế giới, khái niệm
thương mại được hiểu theo nghĩa rộng (như đã phân tích ở mục 1.1.1). Vì vậy
nội dung và phạm vi của hoạt động môi giới thương mại theo quy định của
pháp luật hiện hành cũng rộng và phong phú. Nếu Luật Thương mại năm
1997 quy định thương nhân chỉ thực hiện hoạt động môi giới trong lĩnh vực
mua bán hàng hóa hoặc có liên quan đến mua bán hàng hóa thì LTM 2005 đã
mở rộng phạm vi môi giới thương mại sang tất cả các lĩnh vực thương mại
bao gồm mua bán hàng hóa, các dịch vụ thương mại như: môi giới trong lĩnh
vực bảo hiểm, bất động sản, chứng khoán ...
Thứ ba, trong hoạt động môi giới thương mại, bên môi giới phải có tư
hình”.
Thứ năm, hoạt động môi giới thương mại được thực hiện bởi những
người có năng lực, trình độ và kinh nghiệm liên quan đến lĩnh vực môi giới.
Pháp luật Việt Nam cũng như pháp luật các nước trên thế giới đều quy
định điều kiện của thương nhân kinh doanh dịch vụ môi giới thương mại.
Trong đó, điều kiện được xem là quan trọng và quyết định đến kết quả của
hoạt động môi giới là điều kiện về đội ngũ nhân viên thực hiện hoạt động môi
giới. Để hoạt động môi giới mang tính chuyên nghiệp và hiệu quả, đa số các
lĩnh vực môi giới có tính chất phức tạp, pháp luật đều quy định người thực
13
hiện hoạt động môi giới phải có chứng chỉ hành nghề môi giới. Điều đó có
nghĩa là chủ thể thực hiện hoạt động môi giới phải đạt được những yêu cầu
nhất định về trình độ, năng lực và hiểu biết liên quan đến lĩnh vực được môi
giới. Chính vì thế, hoạt động môi giới thương mại đã dần trở thành một nghề
mang tính chuyên môn cao trong xã hội.
1.1.3. Vai trò của hoạt động môi giới thương mại đối với thương
nhân và nền kinh tế
Môi giới thương mại là cầu nối giữa sản xuất và tiêu dùng sản phẩm,
dịch vụ. Hoạt động môi giới thương mại chuyên nghiệp, hiệu quả sẽ giúp cho
việc trao đổi, mua bán và tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ của nhà đầu tư trở lên
thuận tiện và đơn giản hơn, đồng thời thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế
và cải thiện môi trường kinh doanh. Vai trò của môi giới thương mại được thể
hiện trên những khía cạnh sau:
Thứ nhất, hoạt động môi giới thương mại giúp các thương nhân trong
việc phân phối, tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ một cách có hiệu quả.
Phân phối, tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ là khâu quan trọng trong quá
trình đầu tư của thương nhân. Sau quá trình sản xuất, việc đưa hàng hóa, dịch
trình chuyên môn hóa lao động và tăng hiệu quả trong sản xuất, kinh doanh.
Khi sử dụng dịch vụ môi giới, các nhà sản xuất sẽ tập trung vào hoạt động sản
xuất, kinh doanh mà không bị phân tán các nguồn lực cho khâu cung ứng và
phân phối dịch vụ trên thị trường, do vậy, hiệu quả sản xuất, kinh doanh sẽ
được nâng cao hơn.
Thứ hai, hoạt động môi giới thương mại tạo điều kiện thuận lợi cho
khách hàng được tiếp cận với hàng hóa, dịch vụ trên thị trường một cách tốt
nhất.
Những nhà môi giới chuyên nghiệp sẽ giới thiệu đến người tiêu dùng
các hàng hóa, dịch vụ phù hợp với nhu cầu và khả năng tài chính của người
tiêu dùng, đặc biệt là trong những lĩnh vực mà đại đa số hiểu biết của người
15
tiêu dùng còn rất hạn chế (chứng khoán, bất động sản ...). Người môi giới sẽ
tư vấn cho khách hàng những điều tốt nhất trong lĩnh vực phân phối hàng hóa,
dịch vụ. Ví dụ, trong lĩnh vực bất động sản, các thông tin về thị trường bất
động sản được người môi giới cung cấp một chính xác, trung thực và đầy đủ
sẽ giúp khách hàng phòng tránh được rủi ro và đảm bảo an toàn về mặt pháp
lý khi tham gia xác lập giao dịch về bất động sản, nhất là khi đối tượng của
các giao dịch liên quan đến bất động sản thường là các tài sản có giá trị lớn;
hay trong lĩnh vực môi giới bảo hiểm, người môi giới sẽ tư vấn giúp khách
hàng đánh giá những rủi ro của khách hàng, phân tích những rủi ro cần phải
bảo hiểm, giúp khách hàng lựa chọn các doanh nghiệp bảo hiểm có đầy đủ
khả năng cung cấp những sản phẩm bảo hiểm, những dịch vụ bảo hiểm phù
hợp theo yêu cầu của khách hàng. Doanh nghiệp môi giới bảo hiểm cũng
đồng thời giúp người tham gia thực hiện đàm phán với các doanh nghiệp bảo
hiểm để có thể thu xếp được những điều kiện, điều khoản, mức phí bảo hiểm
đáp ứng được yêu cầu của khách hàng; trong hoạt động môi giới chứng
đồng môi giới. Chúng ta có thể đi từ những đặc tính cơ bản của hợp đồng môi
giới để làm rõ sáng tỏ khái niệm hợp đồng môi giới.
Một là, hợp đồng môi giới thương mại trước hết là hợp đồng thương
mại. Hợp đồng là một khái niệm xuất hiện khá lâu và cũng có khá nhiều khái
niệm về hợp đồng. Ví dụ, Bộ Luật Thương mại thống nhất của Hoa Kỳ quy
định “Hợp đồng là sự tổng hợp các nghĩa vụ pháp lý phát sinh từ sự thỏa
thuận của các bên”, Luật Hợp đồng năm 1999 của Trung Quốc quy định “Hợp
đồng là sự thỏa thuận về việc xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân
sự giữa các chủ thể bình đẳng, tự nhiên của các tổ chức” [4].
LTM 2005 không đưa ra khái niệm hợp đồng thương mại nhưng căn cứ
vào khái niệm hoạt động thương mại (khoản 1 Điều 3 LTM năm 2005) và
khái niệm hợp đồng dân sự (Điều 388 BLDS năm 2005) có thể hiểu hợp đồng
thương mại là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm
17
dứt các quyền và nghĩa vụ trong việc thực hiện hoạt động thương mại với mục
đích sinh lợi.
Hợp đồng môi giới thương mại là hợp đồng thương mại. Vì vậy, hợp
đồng môi giới thương mại cũng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập,
thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ trong việc thực hiện hoạt động môi giới
thương mại. Mặc dù được quy định ở nhiều văn bản pháp luật chuyên ngành
khác nhau nhưng bản chất của hợp đồng môi giới thương mại đều thể hiện ở
mục đích cuối cùng là sinh lợi.
Hai là, hợp đồng môi giới thương mại là hợp đồng cung ứng dịch vụ.
Nếu như đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa là hàng hóa – các sản
phẩm hữu hình thì đối tượng của hợp đồng cung ứng dịch vụ là dịch vụ - các
sản phẩm vô hình, “là những thứ mà khi đem bán không thể rơi vào chân bạn”
[7, tr.6].
động môi giới thương mại theo các văn bản pháp luật chuyên ngành. Bên môi
giới không nhất thiết phải đăng ký kinh doanh cùng ngành nghề với ngành
nghề kinh doanh của bên được môi giới. Pháp luật hiện hành không quy định
bên được môi giới bắt buộc phải là thương nhân. Khi giao kết và thực hiện
hợp đồng môi giới thương mại, bên môi giới sử dụng danh nghĩa của chính
mình.
Thứ hai, đối tượng của hợp đồng môi giới là công việc môi giới nhằm
kết nối các mối quan hệ giữa các bên với nhau, mục đích cuối cùng là giúp
các bên đi đến ký kết hợp đồng. Công việc môi giới trong từng lĩnh vực môi
giới có sự khác nhau phụ thuộc vào nội dung của từng hoạt động môi giới cụ
thể và theo thỏa thuận của các bên trong hợp đồng môi giới. Các công việc
môi giới theo hợp đồng có thể là tư vấn, tìm kiếm, giới thiệu khách hàng; giúp
khách hàng đàm phán, soạn thảo hợp đồng với bên thứ ba; giúp khách hàng
thực hiện một số giao dịch theo yêu cầu và vì lợi ích của họ... Vì đối tượng
19
của hợp đồng môi giới là dịch vụ môi giới nên khi thực hiện hợp đồng, bên
môi giới cung cấp dịch vụ nhưng không chuyển giao quyền sở hữu dịch vụ
cho bên được môi giới. Đặc điểm này khác so với hợp đồng mua bán hàng
hóa, khi thực hiện hợp đồng, bên bán hàng chuyển giao quyền sở hữu hàng
hóa cho bên mua.
Thứ ba, mục đích mà bên môi giới hướng tới trong hợp đồng là một
khoản thù lao dịch vụ. LTM 2005 quy định bên môi giới sẽ được hưởng thù
lao môi giới khi thực hiện việc chắp nối các giao dịch thành công. Mục đích
mà bên được môi giới hướng tới trong hợp đồng môi giới là một cơ hội giao
kết hợp đồng với bên thứ ba, qua đó cũng hướng tới mục tiêu tìm kiếm lợi
nhuận trong trường hợp bên được môi giới là thương nhân.
Thứ tư, nội dung của hợp đồng môi giới là tổng hợp các điều khoản quy
Ở Việt Nam, pháp luật hiện hành điều chỉnh hợp đồng môi giới thương
mại được đề cập trong nhiều văn bản như: BLDS 2005, LTM 2005, Luật
Chứng khoán năm 2006, sửa đổi, bổ sung năm 2010, Luật Kinh doanh bất
động sản năm 2006, Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2001, sửa đổi, bổ sung
năm 2010, Bộ luật hàng hải năm 2005 ... và trong rất nhiều văn bản dưới luật.
Các văn bản này đã tạo nên một hệ thống pháp luật tương đối hoàn chỉnh quy
định về hợp đồng môi giới thương mại. Ngoài ra, quan hệ hợp đồng môi giới
thương mại có thể còn chịu sự điều chỉnh của pháp luật nước ngoài, tập quán
quốc tế và các điều ước quốc tế trong trường hợp ít nhất một bên là cá nhân
hoặc tổ chức nước ngoài thỏa thuận lựa chọn. Chẳng hạn, Bộ luật hàng hải
năm 2005 quy định “các bên tham gia trong hợp đồng liên quan đến hoạt
động hàng hải mà trong đó có ít nhất một bên là tổ chức hoặc cá nhân nước
ngoài thì có quyền thỏa thuận áp dụng luật nước ngoài hoặc tập quán hàng hải
quốc tế trong các quan hệ hợp đồng ...”. Hay Luật Chứng khoán năm 2006
quy định “Trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam là thành viên có quy định khác với quy định của Luật này thì áp dụng
21
theo quy định của điều ước quốc tế”. Như vậy, nguồn luật điều chỉnh hợp
đồng môi giới thương mại bao gồm: các văn bản pháp luật quốc gia, tập quán
thương mại quốc tế và các điều ước quốc tế. Nguyên tắc xác định thứ bậc văn
bản pháp luật áp dụng điều chỉnh các hoạt động thương mại nói chung và hợp
đồng môi giới thương mại nói riêng được quy định tại Điều 4, Điều 5 của
LTM 2005. Theo đó, mọi hoạt động thương mại phải tuân theo LTM và các
văn bản pháp luật có liên quan, hoạt động thương mại đặc thù được quy định
trong luật khác thì áp dụng quy định của luật đó, hoạt động thương mại không
được quy định trong LTM và trong các luật khác thì áp dụng quy định của
BLDS. Trong trường hợp, quy định của LTM và văn bản pháp luật nước