TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KHOA HỌC CHÍNH TRỊ
----- ----
LUẬN VĂN TỒT NGHIỆP ĐẠI HỌC
PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA NÔNG DÂN TRONG
SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
Chuyên ngành: Sư phạm Giáo dục công dân
Mã ngành: 52140204
Sinh viên thực hiện:
ĐOÀN NGỌC ĐẦY
MSSV: 6055346
Giáo viên hướng dẫn:
Th.S. NGUYỄN ĐẠI THẮNG
CẦN THƠ – tháng 05/2009
1
MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN
MỞ ĐẦU .............................................................................................................1
1. Tính cấp thiết của đề tài ...................................................................................1
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài ...................................................2
3.2.3. Tăng cường nguồn vốn, khoa học – kĩ thuật cho nông nghiệp:.................. 45
3.2.4. Phát triển công nghiệp nhỏ và vừa ở nông thôn:........................................ 47
3.2.5. Tổ chức thực hiện tốt liên kết giữa nhà nước với nông dân: ...................... 47
3.2.6. Khuyến khích phát triển các thành phần kinh tế vào nông nghiệp: ............ 49
3.2.7. Nâng cao đời sống nhân dân: .................................................................... 49
3.2.8. Củng cố, xây dựng và nâng cao chất lượng đảng viên ở nông thôn ........... 50
KẾT LUẬN........................................................................................................ 51
TÀI LIỆU THAM KHẢO
3
LỜI CẢM ƠN
Hoàn thành tốt luận văn tốt nghiệp là nhiệm vụ quan trọng của mỗi sinh viên
trước khi rời khỏi giảng đường Đại học. Để hoàn thành tốt luận văn này ngoài sự cố
gắng của bản thân tôi, thì sự hướng dẫn tận tình của qúy thầy cô là vô cùng quan
trọng.
Để đạt được kết quả như hôm nay, trước tiên tôi xin chân thành gửi lời cảm
ơn đến qúy thầy cô Bộ môn Triết học, Khoa khoa học Chính trị đặc biệt là thầy
Nguyễn Đại Thắng đã hướng dẫn tôi nhiệt tình trong suốt thời gian qua. Đồng thời
gửi lời cảm ơn chân thành đến các bạn lớp Sư phạm Giáo dục công dân K31 đã giúp
tôi hoàn thành tốt luận văn của mình. Cuối cùng em xin kính chúc quý thầy cô cùng
toàn thể các bạn luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ, nhiều sức khỏe và luôn gặt hái thành
công trên mọi lĩnh vực.
Dù có nhiều cố gắng nhưng do kiến còn hạn chế nên luận văn chắc chắn sẽ
không tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong sự đóng góp và bổ sung của quý thầy
cô để luận văn tôi được hoàn thiện hơn. Tôi xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên: Đoàn Ngọc Đầy
4
đại hội IX của Đảng chỉ rõ: “ Phát huy vai trò của giai cấp công nhân trong sự
nghiệp đổi mới, tập trung chỉ đạo vào các nguồn lực cần thiết cho công nghiệp hóa,
5
hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, thực hiện tốt chính sách về ruộng đất, phát
triển nông nghiệp toàn diện, tiêu thụ nông sản hàng hóa, bảo hiểm sản xuất và bảo
hiểm xã hội, phát huy lợi thế từng vùng, giúp đỡ vùng khó khăn, phân bố dân cư
theo quy hoạch, phát triển ngành nghề, giải quyết việc làm và xóa đói, giảm nghèo,
cải thiện đời sống, nâng cao dân trí, xây dựng nông thôn mới”.
Vị trí chiến lược, vai trò trọng yếu và đóng góp to lớn của nông nghiệp, nông
dân, nông thôn đối với sự phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa nói
chung, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế nói riêng.
Phải coi việc hỗ trợ nông nghiệp, nông dân, nông thôn về thực chất là sự đầu tư trở
lại của xã hội cho nông dân, nhằm bù đắp những cống hiến mà nông dân đã góp cho
sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Nông dân là chủ thể và là lực lượng nồng cốt, chủ công của sản xuất nông
nghiệp và kinh tế nông thôn. Muốn phát triển sản xuất nông nghiệp, kinh tế nông
thôn phải khơi dậy, phát huy được tính tích cực, năng động, sáng tạo của nông dân,
phải đem lại lợi ích thật sự cho họ, tức là phải đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn.
Con người có vai trò to lớn không những trong đời sống kinh tế, mà còn trong mọi
lĩnh vực hoạt động khác. Bởi vậy quan tâm nâng cao chất lượng con người, không
chỉ với tư cách là một người sản xuất, mà còn với tư cách là một công dân trong xã
hội, một cá nhân trong tập thể, một thành viên trong cộng đồng nhân loại, một con
người có trí tuệ và trách nhiệm trước thiên nhiên.
Với tầm quan trọng đó tôi đã chọn đề tài “ Phát huy vai trò của nông dân
trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn ở nước ta
hiện nay”.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài:
chương, 8 tiết.
7
NỘI DUNG
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA NÔNG DÂN
TRONG SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN
1.1.
Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về nông dân:
Định nghĩa nông dân:
Theo cách hiểu thông thường thì nông dân là “người lao động sống bằng
nghề làm ruộng”.
Theo từ điển chính trị vắn tắt thì “nông dân là một giai cấp trong xã hội.
Dưới chế độ phong kiến và tư bản, giai cấp nông dân là toàn thể những người sản
xuất nhỏ trong nông nghiệp, kinh doanh cá thể bằng tư liệu sản xuất của riêng mình
và bằng lực lượng của gia đình mình”.
Theo từ điển Chủ nghĩa cộng sản khoa học thì “Nông dân – một giai cấp
chuyên sản xuất những sản phẩm nông nghiệp trên cơ sở sở hữu tư nhân hoặc sở
hữu hợp tác xã về tư liệu sản xuất và tham gia sản xuất bằng lao động của chính
mình. Là giai cấp xã hội đặt biệt, giai cấp nông dân hình thành trong quá trình tan rã
của chế độ công xã nguyên thủy và quá trình phát triển của chế độ tư hữu về tư liệu
sản xuất và tồn tại cho tới khi xây dựng xong chủ nghĩa cộng sản. Bản chất xã hội
và vị trí của nông dân trong xã hội là do phương thức sản xuất thống trị quy định và
được thay đổi cùng với sự thay đổi của hình thái kinh tế - xã hội và của các giai
đoạn đang phát triển của nó. Trong hình thái tiền Xã hội chủ nghĩa, nông dân bao
V.I. Lênin là người đầu tiên nêu ra lý luận về chuyển biến cách mạng dân
chủ tư sản thành cách mạng xã hội chủ nghĩa và khẳng định vai trò lãnh đạo của
giai cấp công nhân đối với cuộc cách mạng đó. Đồng thời, ông cũng vạch ra mục
tiêu, nội dung của liên minh công nông trong các giai đoạn khác nhau. Ông vạch rõ,
lúc đầu giai cấp vô sản liên minh với toàn bộ giai cấp nông dân, trung lập hóa giai
cấp tư sản để thực hiện cách mạng dân chủ dân chủ mà mục đích là lật đổ chế độ
Nga hoàng, thiết lập nền cộng hòa dân chủ, thực hiện ngày làm việc 8 giờ, thủ tiêu
chế độ chiếm hữu ruộng đất của địa chủ. [11, tr.20].
Trước cách mạng tháng Mười Nga năm 1917, V.I. Lênin đã bàn đến vấn đề
Nông dân và ruộng đất trong nhiều tác phẩm và bài viết. Sau cách mạng tháng
Mười, V.I. Lênin viết “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề ruộng đất”.
9
V.I. Lênin đã phân tích tỉ mỉ đặc điểm của các tầng lớp nông dân khác nhau trong
các nước tư bản, và đã vạch ra các sách lược cần thiết áp dụng trong cách mạng vô
sản và khi cách mạng thắng lợi. Lần đầu tiên V.I. Lênin nêu luận điểm chủ nghĩa tư
bản là kẻ thù chung của giai cấp công nhân và nông dân. Quần chúng lao động nông
thôn có thể giải phóng khỏi tình trạng bóc lột khi liên minh với giai cấp vô sản, toàn
tâm toàn ý ủng hộ cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản nhằm đánh đổ ách áp bức của
địa chủ và tư bản. V.I. Lênin tiên đoán: “Giai cấp vô sản chỉ trở thành một giai cấp
thật sự cách mạng, hành động một cách thật sự theo tinh thần của Chủ nghĩa xã hội,
khi nó tỏ ra và hành động với tư cách là đội tiền phong của tất cả những người lao
động và những người bị bóc lột, với tư cách là lãnh tụ của họ trong cuộc đấu tranh
lật đổ bọn bóc lột”. Và từ đó V.I. Lênin nêu ra tư tưởng cơ bản trong chính sách
nông dân của quốc tế cộng sản:
- Thứ nhất, các tầng lớp trong nông dân mà giai cấp công nhân phải dựa vào
đoàn kết và kết thành liên minh với họ là: công nhân nông nghiệp sống bằng lao
động làm thuê trong các xí nghiệp nông nghiệp tư bản chủ nghĩa; những người bán
mọi sự bóc lột”2. [12, tr. 22].
Việc chuyển sang chính sách kinh tế mới NEP bắt đầu bằng việc thay chính
sách trưng thu lương thực bằng thuế lương thực. V.I. Lênin nói: “Thực chất của
chính sách kinh tế mới là sự liên minh giữa giai cấp vô sản và nông dân”.
Đúng như V.I. Lênin đã dự đoán “thuế lương thực sẽ giúp vào việc cải thiện
nền kinh tế nông dân, làm cho nông dân yên tâm và hăng hái sản xuất hơn”. V.I.
Lênin coi: “đó chính là mục tiêu chủ yếu”. [11, tr. 22].
Chính sách kinh tế mới là chương trình cải cách kinh tế diễn ra tại Liên Xô
từ năm 1921 đến năm 1929. Trong cuộc nội chiến (1917-1921), V.I. Lênin thông
qua Cộng sản thời chiến, bắt buộc giải tán các bất động sản ruộng đất và sự cưỡng
ép tịch thu thặng dư nông nghiệp. Cuộc nổi loạn Kronstadt là dấu hiệu cho Cuộc
chiến tranh chủ nghĩa cộng sản không được dân chúng ủng hộ ở vùng nông thôn:
tháng Ba 1921, vào thời điểm cuối của cuộc nội chiến, các thủy thủ bị vỡ mộng, các
nông dân ban đầu từng là những người ủng hộ tích cực của Bolshevik thời chính
phủ lâm thời, nổi loạn chống chính quyền mới. Mặc dù Hồng quân, dưới sự chỉ huy
của Leon Trotsky, vượt qua biển Baltic băng giá và nhanh chóng tiêu diệt cuộc nổi
loạn nhưng dấu hiệu về sự bất mãn ngày càng lớn đã buộc chính quyền dưới sự lãnh
đạo của V.I. Lênin phải tạo điều kiện thuận lợi cho một liên minh rộng lớn của tầng
lớp lao động và nông dân (80% dân số), mặc dù các bè phái cánh tả trong đảng
11
thích một chính quyền được đại diện và có lợi ích dành riêng cho giai cấp vô sản
hơn. [15].
Tháng Ba, Đảng cộng sản Nga tiến hành Đại hội X. V.I. Lênin tuyên bố
chấm dứt chủ nghĩa cộng sản thời chiến và thành lập Chính sách kinh tế mới (NEP),
theo đó nhà nước cho phép một số thị trường giới hạn được tồn tại. Công việc kinh
doanh tư nhân nhỏ được cho phép và các hạn chế về hoạt động chính trị được nới
lỏng một chút. Tuy nhiên, sự thay đổi to lớn nhất liên quan tới vấn đề thặng dư
kinh tế, chính trị và xã hội, biểu hiện tập trung nhất trên năm vấn đề cơ bản, đó là:
- Thực hiện chế độ thu thuế lương thực, cho phép tự do buôn bán lúa mì, coi
thương nghiệp là mắt xích chủ yếu, là hình thức cơ bản của các mối liên hệ kinh
tế giữa công nghiệp với nền nông nghiệp hàng hoá, giữa thành thị với nông thôn,
và sự liên minh giai cấp về kinh tế giữa công nhân với nông dân;
- Áp dụng những hình thức khác nhau của chủ nghĩa tư bản nhà nước, coi
đó là mắt xích trung gian để xây dựng chủ nghĩa xã hội;
- Sử dụng các các quan hệ hàng hoá - tiền tệ, thực hiện khuyến khích lợi ích
vật chất và tinh thần đối với mọi người lao động, khai thác mọi nguồn lực để phát
triển lực lượng sản xuất, củng cố và hoàn thiện quan hệ sản xuất mới;
- Thực hiện kế hoạch điện khí hoá nước Nga, coi đó như một trong những
điều kiện tiên quyết cho sự ra đời của chế độ xã hội chủ nghĩa;
- Củng cố Chính quyền Xô viết, tăng cường vai trò của quản lý, kết hợp
chặt chẽ các biện pháp hành chính, tổ chức và kinh tế; thực hiện chế độ kiểm kê
kiểm soát của nhà nước chuyên chính vô sản đối với đời sống kinh tế - xã hội,
trên cơ sở liên minh kinh tế để tăng cường củng cố liên minh công nông về chính
trị.
Xét một cách tổng quát, NEP chính là sự thực hiện những nguyên lý của
chủ nghĩa Mác về cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa trong điều kiện của một nước
tiểu nông, ở đó những quan hệ kinh tế tư sản tuy đã hình thành nhưng chưa đạt
đến độ chín muồi để chiến thắng các quan hệ kinh tế cũ, các quan hệ kinh tế của
nền sản xuất tiểu nông còn chiếm đại bộ phận trong nền sản xuất xã hội. Muốn
thực hiện tư tưởng xoá bỏ chế độ tư hữu với tính cách là "chế độ sở hữu cổ
truyền" không thể "tiến công trực diện", phải có cách làm khác. Theo cách diễn
đạt của V.I. Lê-nin, đó là "thực hiện những bước lùi cần thiết". Bước lùi đó chính
13
là việc thiết lập một hệ thống sở hữu hợp quy luật làm cơ sở cho các thành phần
Điều kỳ diệu là, sau hơn 3 năm thực hiện NEP, nước Nga Xô viết đã thoát
khỏi khủng hoảng, thành quả của cách mạng được giữ vững, công cuộc xây dựng
đất nước theo những yêu cầu của các quy luật khách quan mà NEP đã thể nghiệm
thành công, được tiếp tục triển khai với tính cách là một chiến lược phát triển. Đã
85 năm trôi qua kể từ mùa xuân năm 1921, NEP của V.I. Lê-nin vẫn nóng hổi tính
thời sự, bởi nó đã được vận dụng sáng tạo và thành công ở Việt Nam và một số
nước khác. Đối với những đảng mác-xít chân chính, NEP thực sự là một chính
sách mà giá trị của nó vượt giới hạn về thời gian và không gian - một giá trị mang
tính thời đại. [14].
1.2.
Quan điểm của Hồ Chí Minh về nông dân và vai trò của nông dân:
Xuất phát từ đặc điểm nước ta và phong trào nông dân, Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã tiếp thu và vận dụng sáng tạo học thuyết Mác - Lênin về vấn đề nông dân
và liên minh công nông trong điều kiện nước ta. Năm 1925, trong cuốn “Đường
cách mệnh”, Người viết: “Công nông là gốc cách mệnh”, “công nông là chủ cách
mệnh”. Khi Đảng Cộng Việt Nam thành lập, trong cương lĩnh đầu tiên do Người
khởi thảo: “Đảng phải thu phục cho được đại đa số dân cày nghèo, phải hết sức lãnh
đạo cho dân cày nghèo để làm thổ địa cách mạng, đánh trúc bọn đại địa chủ và
phong kiến”. Còn “Phú nông, trung tiểu địa chủ và tư bản An Nam mà chưa rõ mặt
phản cách mạng thì phải lợi dụng, ít ra cũng làm cho họ đứng trung lập”.1 [16].
Trong đường lối cải cách ruộng đất (1953), Người chỉ rõ: “Dựa hẳn vào bần
cố nông, đoàn kết chặt chẽ với trung nông, liên hiệp với phú nông, tiêu diệt chế độ
bóc lột phong kiến từng bước và có phân biệt, phát triển sản xuất, đẩy mạnh kháng
chiến”2. Trong thời kỳ vận động nông dân vào con đường hợp tác xã Hồ chủ tịch
nêu rõ đường lối giai cấp của Đảng ở nông thôn là “dựa hẳn vào bần nông và trung
nông lớp dưới, đoàn kết chặt chẽ với trung nông”3. Hồ Chí Minh luôn đánh giá
nông dân là một lực lượng cách mạng to lớn không chỉ trong cách mạng dân tộc dân
phương thức sản xuất Châu Á. Đồng thời toàn bộ lịch sử dựng nước và giữ nước
của dân tộc Việt Nam luôn gắn bó chặt chẽ với những cuộc đấu tranh chống xâm
lược. Yêu cầu của việc tự bảo vệ trước nguy cơ thôn tính và đồng hóa đã buộc mọi
thành viên phải cố kết với nhau. Tính cộng đồng vì thế rất mạnh mẽ. Lịch sử dựng
nước và giữ nước của cha ông truyền cho con cháu tính cảnh giác, chống cự lại
trước bất kỳ sự xâm phạm nào. Mặt khác, tinh thần cộng đồng đó đã được bổ sung
và làm sâu sắc thêm bởi những công xã nông thôn được tổ chức trên cơ sở những
quan hệ huyết thống và chế độ sở hữu công cộng về ruộng đất. Mô tả nguyên tắc sở
16
hữu công cộng và chủ nghĩa bình quân về ruộng đất – đặc trưng cơ bản của phương
thức sản xuất châu Á, Hồ Chí Minh viết: “Người châu Á tuy bị người phương Tây
coi là lạc hậu – vẫn hiểu rõ hơn hết sự cần thiết phải cải cách toàn bộ xã hội hiện
tại”. Và đây là lý do: Gần 5000 năm trước đây, Hoàng đế (2679 trước C.N) đã áp
dụng chế độ tỉnh điền: ông chia đất đai trồng trọt theo hai đường dọc và hai đường
ngang. Như vậy sẽ có 9 phần bằng nhau. Người cày ruộng được lĩnh mỗi người một
phần trong 8 miếng, miếng ở giữa tất cả đều cùng làm và sản phẩm được sử dụng
vào việc công ích.
Sự sâu sắc của Hồ Chí Minh về phương thức sản xuất châu Á là ở chổ Người
chỉ rõ bản chất và hậu quả của chế độ công điền công thổ, chế độ bình quân với
công xã nông thôn tồn tại trong lòng chế độ phong kiến Việt Nam đã làm cho cuộc
đấu tranh giai cấp ở đây không gay go và quyết liệt như ở phương Tây. Trong “Báo
cáo về Bắc kỳ, Trung kỳ và Nam kỳ” năm 1924, Người viết: “ Cho nên nếu nông
dân gần như chẳng có gì thì địa chủ cũng không có vốn liếng gì lớn. Nếu nông dân
chỉ sống bằng cái tối thiểu cần thiết thì đời sống của địa chủ cũng chẳng có gì là xa
hoa. Nếu thợ thuyền không biết mình bị bóc lột bao nhiêu thì chủ lại không hề biết
công cụ để bóc lột của họ là máy móc, người thì chẳng có công đoàn, kẻ thì chẳng
có tờrớt, người thì nhẫn nhục chịu số phận của mình, kẻ thì vừa phải trong sự tham
đó quân đội mà tuyệt đại đa số là nông dân mặc áo lính, giữ vai trò quyết định.
Nhiệm vụ “người cày có ruộng” thực hiện rãi ra trong kháng chiến là một quyết
sách đúng đắn và sáng tạo của Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam.
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, vấn đề giải phóng nhân dân cần được đặt ra
trên cả ba phương diện: nông dân phải được sống trong môi trường xã hội tốt đẹp,
đồng thời phải được đáp ứng những đòi hỏi vật chất ngày càng cao. Ở Việt Nam –
một nước thuộc địa, nửa phong kiến, một nước nông nghiệp kém phát triển sau cách
mạng tháng Tám năm 1945, việc giải phóng nhân dân không tách rời và không nằm
ngoài công cuộc giải phóng dân tộc và giải phóng xã hội. Phương châm của Hồ Chí
Minh “đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”. Số lượng đông đảo giai cấp nông dân là
nguồn nhân lực dồi dào của công cuộc dựng nước và giữ nước:
-
Tăng gia sản xuất để nuôi bộ đội, nuôi công nhân cũng chính là nông dân
- Công việc tiêu khổ kháng chiến, công việc sửa chữa đường sá, giao thông
vận tải phần lớn do nông dân.
18
Như Hồ Chí Minh đã khái quát “nông dân là một lực lượng rất to lớn của dân
tộc. Muốn kháng chiến kiến quốc thành công, muốn độc lập thống nhất thật sự ắt
phải dựa vào lực lượng của nông dân”.
Theo Hồ Chí Minh: Đồng bào nông dân sẵn có lực lượng to lớn, sẵn có lòng
nồng nàn yêu nước, sẵn có chí khí kiên quyết đấu tranh và hi sinh”.
Từ ba yếu tố trên tổng hợp thành chất cách mạng của giai cấp nông dân Việt
Nam. Song do những đặc điểm và bản chất giai cấp mà nông dân với số lượng và
chất lượng ấy vẫn không thể làm một cuộc cách mạng để tự giải phóng mình. Giai
cấp tư sản ở một số nước Châu Âu đã biết lợi dụng nông dân, lôi kéo họ tham gia
mác xít về vai trò của quần chúng trong cách mạng. Không dừng lại ở việc xác định
vai trò lực lượng cách mạng chung chung, Hồ Chí Minh còn chỉ rõ, giai cấp nông
dân Việt Nam trong cuộc cách mạng dân chủ mới, đánh đổ phong kiến, do giai cấp
công nhân lãnh đạo giữ vị trí “chủ cách mạng”, “gốc cách mạng”, và “động lực cách
mạng”. Bởi lẽ, “vì áp bức mà sinh ra cách mạng, cho nên ai mà bị áp bức càng nặng
thì lòng cách mạng càng bền, chí cách mạng càng quyết”. Nông dân bị nhiều tròng
áp bức, nông dân là lực lượng đông nhất, chiếm hơn 95% dân cư. Khi đã được giác
ngộ, nông dân gan gốc, dũng cảm có quyết tâm cao: “Nếu thua thì chỉ mất một cái
kiếp khổ, nếu được thì được cả thế giới”, “ thà chết tự do còn sống làm nô lệ”.
Hồ Chí Minh luôn nhìn giai cấp nông dân trong mối quan hệ khăng khít với
giai cấp công nhân trong công cuộc giải phóng. Người khẳng định: “ Chỉ có giai cấp
công nhân lãnh đạo thì nông dân mới được giải phóng”. Cũng chỉ có thắt chặt liên
minh với nông dân thì giai cấp nông dân mới lãnh đạo cách mạng đến thắng lợi. Từ
đó, ta thấy sức mạnh của nông dân được chứng minh qua hai cuộc kháng chiến
chống Pháp và kháng chiến chống Mỹ.
Trong sự nghiệp đổi mới, mục tiêu “ người cày có ruộng” được thực hiện
dưới hình thức giao quyền sử dụng ruộng đất cho nông dân đã tạo ra lực lượng sản
xuất mới trong nông nghiệp, góp phần phát triển kinh tế Việt Nam.
Cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, một nước khi bước vào thời
kỳ quá độ với đặc trưng kinh tế chủ yếu là sản xuất nhỏ; một nước mà tính chất
của nền kinh tế tiểu nông còn tiểu nông hơn cả nước Nga năm 1921; một nước mà
khi cách mạng xã hội chủ nghĩa diễn ra với những điều kiện bên trong và quốc tế
vừa có nhiều khác biệt, vừa có nhiều điểm tương đồng, lại vừa có điểm phức tạp
hơn so với nước Nga Xô viết sau nội chiến. Những gì diễn ra sau năm 1975 và
đỉnh điểm là những năm đầu thập kỷ 80 của thế kỷ trước, vừa khẳng định những
20
nét đặc thù của cách mạng Việt Nam đòi hỏi cần có nhận thức lý luận để vận dụng
luận lý luận và các kinh nghiệm chỉ đạo thực tiễn. Đây chính là biện pháp khả thi
hiện nay để củng cố liên minh công nông về kinh tế.
Thứ hai, bằng những biện pháp tích cực và cụ thể đẩy mạnh hơn nữa quá
trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn; đổi mới chính sách
thu hút đầu tư để gọi được nhiều vốn FDI cho lĩnh vực này. Thực hiện tốt việc áp
dụng hình thức chủ nghĩa tư bản nhà nước vào nông nghiệp, nông thôn chính là
con đường ngắn nhất và cũng hiệu quả nhất để đảm bảo tính bền vững cả về kinh
tế và chính trị mối quan hệ giữa công nghiệp và nông nghiệp, giữa thành thị và
nông thôn.
Thứ ba, thực hiện những giải pháp quyết liệt và mang tính đột phá hơn
trong xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Phải có những biện pháp
mang tính cơ bản hơn để tẩy trừ tệ quan liêu, nạn tham nhũng từ gốc. Vì sự trong
sạch của bộ máy nhà nước và đời sống xã hội, đồng thời để đẩy nhanh chiến lược
phát triển, nếu cần thiết, không loại trừ việc dùng những biện pháp mạnh tay và
kiên quyết mang tính phổ biến hơn hiện nay. Những tư tưởng của V.I. Lê-nin từ
NEP đòi hỏi quy tụ lòng dân bằng con đường pháp trị là biện pháp cần được gia
tăng hơn nữa, để cùng với các biện pháp giáo dục, kiểm kê kiểm soát, thanh tra,
kiểm tra giám sát của hệ thống chính trị và nhân dân trong việc xây dựng Nhà
nước của dân, do dân và vì dân không có tệ quan liêu và nạn tham nhũng. [14].
1.3.
Vai trò của nông dân trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa:
Nông dân nước ta là giai cấp đông đảo nhất, là lực lượng to lớn nhất đã xây
đắp nên lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước. Trong suốt quá trình cách
mạng, giai cấp nông dân nước ta luôn luôn một lòng son sắc theo Đảng, nêu cao
tinh thần yêu nước, truyền thống lao động cần cù, thông minh, sáng tạo, vượt qua
khó khăn thách thức, góp phần to lớn cùng toàn dân hoàn thành vẻ vang sự nghiệp
đấu tranh giải phóng dân tộc, giành độc lập, tự do, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước
Đảng ta luôn đặt nông nghiệp, nông dân, nông thôn ở vị trí chiến lược quan trọng,
coi đó là cơ sở và lực lượng để phát triển kinh tế - xã hội bền vững, ổn định chính
trị, bảo đảm an ninh, quốc phòng; giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc và bảo
vệ môi trường sinh thái.
Quyết tâm chính trị của Đảng và Nhà nước trong việc phát triển nông
nghiệp, nông dân và nông thôn được thể hiện trong suốt quá trình cách mạng Việt
Nam và trong những thập niên gần đây. Đặc biệt là Nghị quyết Đại hội X của Đảng
23
đã nhấn mạnh: “ Tạo chuyển biến mạnh mẽ trong sản xuất nông nghiệp, kinh tế
nông thôn và nâng cao đời sống nông dân”. Bởi vì, “hiện nay và trong những năm
tới vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn có tầm chiến lược đặc biệt quan
trọng”2. Vì vậy “phải luôn luôn coi trọng đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
nông nghiệp, nông thôn hướng tới xây dựng một nền nông nghiệp hàng hóa lớn, đa
dạng, phát triển nhanh và bền vững, có năng suất, chất lượng và khả năng cạnh
tranh cao” 3. [2,tr.18].
Nghị quyết Hội nghị lần thứ VII Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X)
"Về nông nghiệp, nông dân, nông thôn" đã xác định:
Nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp công
nghiệp – hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là cơ sở và lực lượng quan
trọng để phát triển kinh tế - xã hội bền vững; giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm an
ninh, quốc phòng; giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, bảo vệ môi trường
sinh thái của đất nước... Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn là
một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa
đất nước. Giải quyết vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn là nhiệm vụ của cả
hệ thống chính trị và toàn xã hội, nhằm đạt đến mục tiêu không ngừng nâng cao đời
sống vật chất, tinh thần của dân cư nông thôn, nâng cao trình độ sản xuất của nông
dân ngang bằng với các nước tiên tiến trong khu vực và đủ bản lĩnh chính trị, đóng