Nghiên cứu tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của TAND theo định hướng Nghị quyết 49-NQ/TW và Hiến pháp 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGUYỄN VĂN CƢỜNG
NGHIÊN CỨU TIẾP TỤC ĐỔI MỚI TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG
CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN THEO ĐỊNH HƢỚNG
NGHỊ QUYẾT 49-NQ/TW VÀ HIẾN PHÁP 2013
Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số: 60 38 01 02
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. TÔ VĂN HÒA
HÀ NỘI - 2014
Nghiên cứu tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của TAND theo định hướng Nghị quyết 49-NQ/TW và Hiến pháp 2013
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được
ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN ............................... 29
3.1. Những điểm mới về vị trí, chức năng của Tòa án nhân dân trong bộ
máy nhà nƣớc ................................................................................................. 30
3.2. Những điểm mới về nhiệm vụ, vai trò và cơ cấu tổ chức của Tòa án
nhân dân .......................................................................................................... 30
3.3. Những điểm mới về hoạt động của Tòa án nhân dân ....................... 32
3.4. Quy định của Hiến pháp sửa đổi về Thẩm phán Tòa án nhân dân tối
cao và Thẩm phán .......................................................................................... 36
Nghiên cứu tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của TAND theo định hướng Nghị quyết 49-NQ/TW và Hiến pháp 2013
CHƢƠNG 4: MỤC TIÊU, YÊU CẦU, QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP TIẾP
TỤC ĐỔI MỚI HỆ THỐNG TÒA ÁN THEO ĐỊNH HƢỚNG CẢI CÁCH
TƢ PHÁP VÀ HIẾN PHÁP 2013 ................................................................... 38
4.1. Mục tiêu, yêu cầu, quan điểm đổi mới hệ thống toà án theo định
hƣớng cải cách tƣ pháp và Hiến pháp 2013 ................................................ 38
4.1.1. Mục tiêu ............................................................................................ 38
4.1.2. Yêu cầu, quan điểm .......................................................................... 40
4.2. Giải pháp đổi mới hệ thống toà án theo định hƣớng cải cách tƣ pháp
................................................................................................................ 43
4.2.1. Về mô hình tổ chức hệ thống tòa án nhân dân ................................. 44
4.2.2. Về nhiệm vụ, thẩm quyền của hệ thống tòa án................................. 49
4.2.3. Về cơ chế bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng và sự giám sát của cơ
quan dân cử đối với hệ thống toà án ............................................................ 54
4.2.4. Về cơ chế bảo đảm nguyên tắc độc lập xét xử ................................. 56
4.2.5. Các giải pháp cụ thể cần thực hiện ngay trong thời gian tới .......... 59
KẾT LUẬN ........................................................................................................ 65
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................ 67
2.2.Nhiệm vụ: Để thực hiện được mục tiêu trên, đề tài cần đạt được các
nhiệm vụ cụ thể sau:
- Thứ nhất, phân tích, đánh giá chủ trương, đường lối của Đảng về đổi mới
hệ thống toà án Việt Nam theo định hướng cải cách tư pháp, nhất là những nội
dung được đề cập trong Nghị quyết 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về Chiến lược
cải cách tư pháp đến năm 2020; phân tích các nguyên tắc cơ bản về tổ chức và
hoạt động của tòa án với ý nghĩa là các yếu tố ảnh hưởng, chi phối tới việc đổi
mới hệ thống toà án Việt Nam.
- Thứ hai, đánh giá ưu, khuyết điểm của hệ thống toà án hiện nay đối chiếu
với các nguyên tắc Hiến định về tổ chức bộ máy nhà nước cũng như các nguyên
tắc đặc thù về tổ chức và hoạt động của hệ thống toà án.
- Thứ ba, đề xuất, luận chứng các yêu cầu, giải pháp và kiến nghị đổi mới
hệ thống toà án đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay.
3. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu vấn đề hệ thống toà án nhân dân ở Việt Nam,
không nghiên cứu về hệ thống toà án quân sự. Về mặt không gian, đề tài tập
trung nghiên cứu về hệ thống tòa án nhân dân trong quá trình cải cách, đổi mới
theo định hướng cải cách tư pháp, Hiến pháp 2013 và thực trạng của hệ thống
tòa án nhân dân trong giai đoạn hiện nay.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
2
Nghiên cứu tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của TAND theo định hướng Nghị quyết 49-NQ/TW và Hiến pháp 2013
Đề tài dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật lịch sử, chủ nghĩa
duy vật biện chứng; chủ nghĩa Mác- Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước
và pháp luật, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về cải cách tư pháp và
đổi mới hệ thống tổ chức toà án. Đề tài chú trọng sử dụng phương pháp phân
tích so sánh để đánh giá thực trạng ưu, khuyết điểm của hệ thống toà án Việt
Tòa án có chức năng chủ yếu là xét xử để bảo đảm công lý, bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức và Nhà nước. Cũng giống như hệ thống
tòa án nói chung trên thế giới, hệ thống Tòa án nhân dân của Việt Nam có thể
được xem xét dưới các góc độ hiện đại như sau:
- Thứ nhất, hệ thống toà án với tư cách là một thể thống nhất: Với tư cách
là một thể thống nhất, hệ thống toà án được giao chức năng xét xử các tranh
chấp giữa người dân với nhau hoặc giữa người dân với cơ quan nhà nước. Có
nhiều cách thức để giải quyết các tranh chấp khác nhau, nhất là các tranh chấp
không mang tính chất hình sự và các bên trong tranh chấp có thể không chọn toà
án là cơ quan phán xử đầu tiên. Họ có thể gặp gỡ nhau để thoả thuận về một
biện pháp giải quyết được chấp nhận bởi cả hai bên; hay họ có thể yêu cầu một
bên thứ ba, ví dụ như trọng tài hoặc hoà giải viên để giúp họ giải quyết tranh
chấp. Tuy nhiên, khi cách thức giải quyết bằng con đường nhà nước được lựa
chọn thì toà án chính là cơ quan nhà nước được giao quyền xét xử vụ việc. Phán
quyết của toà án đối với vụ việc được bảo đảm bằng sự cưỡng chế của nhà nước.
Điều này chính là đặc trưng của hoạt động xét xử của toà án và là yếu tố phân
biệt giữa hệ thống toà án với hai nhánh quyền lực lập pháp và hành pháp.
- Thứ hai, hệ thống toà án với ý nghĩa là một hệ thống xét xử nhiều cấp: Hệ
thống toà án ở bất kỳ nước nào trên thế giới cũng đều là một hệ thống xét xử bao
gồm các toà án được thành lập ở nhiều cấp xét xử khác nhau và có những thẩm
quyền xét xử khác nhau. Thực tiễn cho thấy, về cấp xét xử, hệ thống toà án ở các
quốc gia, cho dù là theo mô hình liên bang hay nhất thể, đều được chia theo
chiều dọc thành hai cấp sơ thẩm và phúc thẩm. Cấp sơ thẩm gồm nhiều toà án
4
Nghiên cứu tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của TAND theo định hướng Nghị quyết 49-NQ/TW và Hiến pháp 2013
xét xử vụ việc lần đầu tiên hoặc lại từ đầu. Cấp phúc thẩm bao gồm các toà xét
xử các vụ án đã được xử ở cấp sơ thẩm nhưng bị kháng cáo. Ở một số nước, một
Nghiên cứu tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của TAND theo định hướng Nghị quyết 49-NQ/TW và Hiến pháp 2013
bộ máy nhà nước và vai trò quan trọng đối với xã hội. Vị trí, vai trò đó thể hiện
ở một số khía cạnh sau.
Thứ nhất, tòa án bảo đảm công lý được thi hành trong xã hội. Từ góc độ
khoa học pháp lý, công lý là sự công bằng mà pháp luật đem lại cho tất cả mọi
người trong xã hội. Công lý tức là khi bị tranh chấp hoặc vướng vào vòng lao lý,
sự công bằng đó được thi hành đối với tất cả mọi người. Tòa án, với chức năng
xét xử, là cơ quan cuối cùng trong bộ máy nhà nước đưa ra sự phán quyết về
đúng, sai, về mức độ vi phạm và chế tài tương ứng. Vì vậy, tòa án là nơi mà
người dân trông chờ công lý đến với mình, là nơi cho thấy sự hiện diện của công
lý và bảo đảm công lý được thi hành.
Thứ hai, hệ thống tòa án bảo vệ quyền con người, quyền cơ bản của công
dân. Quyền con người, quyền công dân đã được hiến định và là những bảo đảm
pháp lý tối thiểu cho người dân sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam. Đây là những
quyền pháp lý cơ bản nhất, tối thiểu nhất, đem lại sự an toàn pháp lý cho người
dân trong mọi trường hợp. Trong thực tiễn, các quyền cơ bản này có thể bị xâm
phạm bởi bất kỳ chủ thể nào, kể cả các cơ quan nhà nước. Trong trường hợp các
quyền này bị vi phạm thì với chức năng xét xử của mình tòa án sẽ là cơ quan
phán xử về những vi phạm đó, qua đó bảo vệ quyền con người, quyền cơ bản
của công dân và bảo đảm an toàn pháp lý cho mọi người dân trong xã hội.
1.2.
Chủ trƣơng đổi mới tổ chức và hoạt động của tòa án nhân dân
kể từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986)
Trong những năm qua, vị trí của hệ thống toà án chưa được đánh giá đúng
mức trong thiết chế quyền lực nhà nước; trong phân công và phối hợp giữa các
cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư
pháp. Tổ chức và hoạt động của hệ thống toà án chưa theo kịp sự phát triển và
đến trước Hội nghị Trung ương 8 lần 9, năm 2002
Quan điểm của Đảng về đổi mới tổ chức và hoạt động của Toà án nhân dân
trong thời kỳ đổi mới thể hiện ngay từ các văn kiện ban hành sau Đại hội Đảng
Toàn quốc lần VII. Có thể kể đến các văn kiện tiêu biểu như: Nghị quyết Hội
nghị Trung ương VII lần 3 và Nghị quyết Hội nghị Trung ương VII lần thứ 8;
Chỉ thị số 29-CT/TW ngày 8-11-1993 của Ban Bí thư về "Tăng cường sự lãnh
đạo của Đảng đối với các cơ quan bảo vệ pháp luật"; Chỉ thị số 34 – TC/TW
ngày 18-3-1994 của Ban Bí thư về "Sự lãnh đạo của Đảng đối với việc tuyển
7
Nghiên cứu tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của TAND theo định hướng Nghị quyết 49-NQ/TW và Hiến pháp 2013
chọn, bổ nhiệm Thẩm phán Toà án nhân dân, Thẩm phán Toà án quân sự các
cấp"; Chỉ thị số 52-CT/TW ngày 16-3-2000 của Bộ Chính trị về "Phạm vi trách
nhiệm, quyền hạn giữa cấp uỷ Đảng với Đảng uỷ Công an, Ban Cán sự đảng
Viện Kiểm sát nhân dân, Ban Cán sự đảng Toà án nhân dân trong công tác bảo
vệ Đảng và xử lý tội phạm liên quan đến cán bộ, đảng viên"; Chỉ thị số 53 –
CT/TW của Bộ Chính trị ngày 21-3-2000 về "Một số công việc cấp bách của các
cơ quan tư pháp cần thực hiện trong năm 2000".
Nghị quyết Trung ương 8 khoá VII, ngày 23-1-1995 xác định phương
hướng đổi mới tổ chức và hoạt động của toà án nhân dân là: "Trên cơ sở kiện
toàn tổ chức và cán bộ, nghiên cứu tăng thẩm quyền xét xử cho toà án nhân dân
cấp quận, huyện theo hướng việc xét xử sơ thẩm được thực hiện chủ yếu ở toà
án cấp này. Toà án cấp tỉnh chủ yểu xét xử phúc thẩm. Toà án nhân dân Tối cao
chủ yếu xét xử giám đốc thẩm, tổng kết kinh nghiệm xét xử, hướng dẫn toà án
các địa phương thực hiện xét xử thống nhất theo pháp luật. Hạn chế việc xét xử
sơ thẩm đồng thời chung thẩm. Nghiên cứu tiếp tục thành lập các toà chuyên
môn. Tổng kết thực tiễn công tác quản lý toà án địa phương, xác định rõ trách
nhiệm và quan hệ phối hợp trong việc quản lý các toà án địa phương về tổ chức
nâng cao tiêu chuẩn, năng lực, trách nhiệm công tác đối với những người làm
công tác xét xử".
Giai đoạn này, do đặc thù tình hình đất nước là thời kỳ đổi mới quá độ từ
chế độ bao cấp sang cơ chế thị trường, bước đầu của công cuộc đổi mới nên
Đảng phải tập trung vào việc ổn định tình hình kinh tế - xã hội, ổn định sản xuất,
ổn định đời sống vật chất và văn hóa, tăng cường hiệu lực của tổ chức quản lý,
lập lại trật tự, kỉ cương và thực hiện công bằng xã hội, phát triển sản xuất; tạo ra
chuyển biến tốt về mặt xã hội; bảo đảm nhu cấu củng cố quốc phòng và an ninh.
Do đó, chủ trương cải cách tư pháp được thể hiện tại các văn kiện chung, chưa
được cụ thể hóa bằng các văn bản riêng biệt. Đảng chú trọng tới sắp xếp lại tổ
chức của hệ thống tòa án, phân định lại thẩm quyền giữa Tòa án nhân dân và
Viện kiểm sát nhân dân, kiện toàn lại đội ngũ cán bộ để phù hợp với đường lối
đổi mới đất nước.
1.2.2. Giai đoạn từ Hội nghị Trung ương 8 lần 9 đến tháng 6 năm 2005
9
Nghiên cứu tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của TAND theo định hướng Nghị quyết 49-NQ/TW và Hiến pháp 2013
Tiếp tục chủ trương coi việc đổi mới tổ chức và hoạt động của hệ thống
Tòa án là trọng tâm, để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với việc cải cách
tư pháp, ngày 2 tháng 1 năm 2002, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 08NQ/TW về "Một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới " đề
ra một trong những nhiệm vụ quan trọng của cải cách tư pháp là: "Tiếp tục cụ
thể hoá và thực hiện những chủ trương về cải cách tổ chức và đổi mới hoạt động
các cơ quan tư pháp đã được đề ra trong Nghị quyết Trung ương 8 (khoá VII),
Nghị quyết Trung ương 3, Nghị quyết Trung ương 7 (khoá VIII) và Nghị quyết
Đại hội Đảng lần thứ IX". Nghị quyết nêu rõ:
“Khi xét xử, các toà án phải bảo đảm cho mọi công dân đều bình đẳng
trước pháp luật, thực sự dân chủ, khách quan; thẩm phán và hội thẩm độc lập và
chỉ tuân theo pháp luật; việc phán quyết của toà án phải căn cứ chủ yếu vào kết
những cán bộ có năng lực, trình độ chuyên môn cao và phẩm chất chính trị vững
vàng cho ngành Toà án; phát hiện và xử lý kỷ luật nghiêm minh đối với những
cán bộ, đảng viên có sai phạm công tác trong ngành Toà án, phân định hai cấp
xét xử là tiền đề quan trọng cho việc đổi mới tổ chức và hoạt động của hệ thống
Tòa án về sau. Tuy nhiên đường lối còn khá tản mạn, chủ yếu tập trung đề ra
giải pháp giải quyết những vấn đề bức xúc, những bất cập nổi cộm mang tính vụ
việc mà thiếu đi các giải pháp mang tính chiến lược và tổng thể.
1.2.3. Giai đoạn từ sau Hội nghị Trung ương 8 lần 9 đến ngày 2 tháng 6
năm 2005 đến nay
Sau khi Nghị quyết 08-NQ/TW của Bộ Chính trị được triển khai trên thực
tế được gần 4 năm, ngày 2-6-2005, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 49NQ/TW "Về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020". Đây có thể nói là văn
bản đầu tiên của Đảng đề cập tới vấn đề cải cách tư pháp với tầm nhìn chiến
lược mang tính hệ thống. Trong tổng thể chiến lược cải cách tư pháp nói chung,
Nghị quyết 49 đề ra nhiệm vụ đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân
dân với mục tiêu “xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ,
nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự
Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; hoạt động tư pháp mà trọng tâm là hoạt
động xét xử được tiến hành có hiệu quả và hiệu lực cao”. Bên cạnh đó Nghị
quyết đề ra phương hướng: "Tổ chức các cơ quan tư pháp và các chế định bổ trợ
tư pháp hợp lý, khoa học, hiện đại về cơ cầu tổ chức và điều kiện, phương tiện
11
Nghiên cứu tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của TAND theo định hướng Nghị quyết 49-NQ/TW và Hiến pháp 2013
làm việc; trong đó xác định Toà án có vị trí trung tâm và xét xử là hoạt động
trọng tâm; xã hội hóa mạnh mẽ hoạt động bổ trợ tư pháp". Nghị quyết xác định
nhiệm vụ của Tòa án các cấp như sau: "Tổ chức hệ thống Toà án theo thẩm
quyền xét xử, không phụ thuộc vào đơn vị hành chính, gồm: Toà án sơ thẩm khu
vực được tổ chức ở một hoặc một số đơn vị hành chính cấp huyện; Toà án phúc
Nghiên cứu tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của TAND theo định hướng Nghị quyết 49-NQ/TW và Hiến pháp 2013
án về thành lập các Toà án và các vấn đề có liên quan đến tổ chức và hoạt động
của các Tòa án theo tinh thần cải cách tư pháp.
Thực hiện Thông báo số 02-TB/CCTP ngày 30 tháng 12 năm 2011 của Ban
Chỉ đạo cải cách tư pháp Trung ương về việc phân công trách nhiệm chuẩn bị
các đề án, báo cáo trình Ban Chỉ đạo cải cách tư pháp Trung ương giai đoạn
2012-2016, Tòa án nhân dân tối cao đã xây dựng Đề án chi tiết về “Đổi mới tổ
chức và hoạt động của Toà án nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân cấp cao, Tòa
án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và Tòa án nhân dân sơ thẩm”
để cụ thể hoá các quan điểm, chủ trương của Đảng và Hiến pháp năm 2013, tạo
cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc xác định và giải quyết các vấn đề còn tồn tại,
bất cập trong mô hình tổ chức của các Tòa án hiện nay.
Có thể nói, cho đến nay, chủ trương, chính sách cải cách hệ thống tòa án
nhân dân của Việt Nam theo định hướng Chiến lược cải cách tư pháp được thực
hiện khá nhất quán, thể hiện ở môt số định hướng lớn sau:
* Định hướng đổi mới về tổ chức:
Nghiên cứu, hoàn thiện cơ cấu tổ chức Tòa án các cấp, xây dựng đội ngũ
cán bộ, công chức ngành tòa án nhân dân trong sạch vững mạnh.
Tăng cường đầy đủ và từng bước hiện địa về cơ sở vật chất cho Tòa án
các cấp để đáp ứng yêu cầu công tác giải quyết, xét xử các vụ án.
Nghiên cứu xây dựng mô hình Tòa án nhân dân 4 cấp không phụ thuộc
vào các đơn vị hành chính.
* Định hướng đổi mới hoạt động:
Tiếp tục nâng cao chất lượng giải quyết xét xử các loại vụ án, chú trọng
làm tốt việc tranh tụng tại phiên tòa, xét xử nghiêm minh các vụ án về tham
nhũng, làm tốt công tác hòa giải trong quá trình giải quyết các vụ việc dân sự.
Xây dựng cơ chế và thực hiện tốt các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác giải
đổi mới tổ chức, hoạt động của các Tòa án nhân dân là nhất quán, phù hợp với
nguyên lý chung của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây
dựng Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, với nội dung xuyên
suốt, trọng tâm là: Bảo đảm cải cách tổ chức và hoạt động của Tòa án là trọng
tâm của cải cách tư pháp; đổi mới tổ chức của các Tòa án theo thẩm quyền xét
xử, xây dựng mô hình Tòa án 04 cấp không gắn với tổ chức hành chính; nâng
15
Nghiên cứu tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của TAND theo định hướng Nghị quyết 49-NQ/TW và Hiến pháp 2013
cao chất lượng hoạt động bao gồm tăng cường tranh tụng, bảo đảm nguyên tắc
hai cấp xét xử, tăng cường năng lực cán bộ. Cùng với các quy định của Hiến
pháp năm 2013, các quan điểm chủ trương của Đảng là cơ sở pháp lý quan
trọng cho việc tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của hệ thống tòa án nhân
dân Việt Nam.
16
Nghiên cứu tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của TAND theo định hướng Nghị quyết 49-NQ/TW và Hiến pháp 2013
CHƢƠNG 2
TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN SAU 8
NĂM THỰC HIỆN CHIẾN LƢỢC CẢI CÁCH TƢ PHÁP
Quá trình triển khai thực hiện các nhiệm vụ cải cách tư pháp theo tinh thần
Nghị quyết 49-NQ/TW cho thấy, các nội dung cải cách tư pháp về cơ bản đã
được triển khai thực hiện nghiêm túc. Việc xây dựng hoàn thiện thể chế theo
Nghị quyết 49 đã thực hiện mọt bước về hình sự, dân sự và tố tụng tư pháp cũng
quân sự cấp quân khu và 17 Tòa án quân sự khu vực.
Tại Nghị quyết số 473a/NQ-UBTVQH13 ngày 28/3/2012 của Uỷ ban
thường vụ Quốc hội về tổng biên chế và số lượng Thẩm phán của Toà án nhân
dân và Toà án quân sự các cấp đã bổ sung cho các Toà án nhân dân địa phương
đến năm 2013 là 1.713 biên chế, theo đó tổng số biên chế của các Toà án nhân
dân cho các năm 2013-2014 là 15.237 người, gồm: Tổng biên chế của Toà án
nhân dân tối cao là 722 người, trong đó có 120 Thẩm phán Toà án nhân dân tối
cao; tổng biên chế của Toà án nhân dân cấp tỉnh là 4.088 người, trong đó có
1.170 Thẩm phán trung cấp; tổng biên chế của Toà án nhân dân cấp huyện là
10.427 người, trong đó có 4.865 Thẩm phán trung cấp và Thẩm phán sơ cấp.
Sau 8 năm, việc triển khai thực hiện những nội dung Nghị quyết 49NQ/TW của Bộ Chính trị về cải cách tư pháp đã góp phần làm sáng tỏ nhiều nội
dung thiết thực liên quan tới việc hoàn thiện tổ chức, bộ máy, chức năng, nhiệm
vụ của Tòa án các cấp và tạo ra những chuyển biến rõ rệt trong kết quả hoạt
động của Tòa án. Bỏ thẩm quyền xét xử sơ chung thẩm để đảm bảo thực hiện
nguyên tắc 2 cấp xét xử; tăng thẩm quyền xét xử sơ thẩm cho tòa án nhân dân
cấp huyện; tăng cường và nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên tòa; mở
rộng thẩm quyền xét xử của tòa án đối với các khiếu kiện hành chính, đổi mới
thủ tục giải quyết các khiếu kiện hành chính tại tòa án. Tòa án nhân dân được
xác định có vị trí trung tâm của hoạt động tư pháp, cơ quan thực hiện quyền tư
pháp; quy định bổ nhiệm thẩm phán theo ngạch sơ cấp, trung cấp thay cho việc
bổ nhiệm theo cấp hành chính; áp dụng chính sách tiền lương và phụ cấp nghề,
phụ cấp thâm niên cho các chức danh tư pháp ở tòa án; thực hiện lộ trình đổi
mới về tổ chức hệ thống tòa án quân sự theo hướng giảm bớt đầu mối các tòa
quân sự khu vực và quân, binh chủng; tổ chức, hoạt động của tòa án nhân dân
từng bước được hoàn thiện, chất lượng xét xử được nâng lên, hạn chế việc xét
xử oan, sai. Tòa án nhân dân tối cao đã tập trung nhiều hơn cho công tác tổng
18
đã quan tâm điều động, bổ sung cán bộ; các đơn vị có số lượng án tăng nhiều thì
được bổ sung thêm từ 2 đến 3 Thẩm phán và cán bộ; tăng cường công tác đào
19
Nghiên cứu tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của TAND theo định hướng Nghị quyết 49-NQ/TW và Hiến pháp 2013
tạo, bồi dưỡng các chức danh tư pháp của ngành Tòa án; công tác đào tạo, bồi
dưỡng được quan tâm, tăng cường; xây dựng được cơ sở vật chất cho Trường
đào tạo cán bộ Tòa án (chuẩn bị được nâng cấp thành Học viện Tòa án) khang
trang. Thông qua việc thực hiện thẩm quyền xét xử mới, tinh thần trách nhiệm
và trình độ chuyên môn nghiệp vụ của các cơ quan tiến hành tố tụng cấp huyện
nói chung và cán bộ, Thẩm phán, Hội thẩm Tòa án nhân dân cấp huyện nói riêng
được nâng lên một bước.
Một số nhiệm vụ như: phân định rõ thẩm quyền quản lý hành chính với
trách nhiệm, quyền hạn tư pháp trong hoạt động tố tụng tư pháp…; đổi mới tổ
chức phiên tòa xét xử, xác định rõ hơn vị trí, quyền hạn và trách nhiệm của
người tiến hành tố tụng, đảm bảo công khai, dân chủ, nghiêm minh; đổi mới mô
hình tố tụng, nhằm nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa đang được Tòa
án nhân dân tối cao và các cơ quan, tổ chức có liên quan phối hợp nghiên cứu
xây dựng đề án.
Căn cứ Kết luận 79-KL/TW của Bộ chính trị, Tòa án nhân dân tối cao đã
hướng dẫn các Tòa án địa phương xây dựng Đề án thành lập Tòa án nhân dân sơ
thẩm khu vực ở địa phương mình, trong đó hướng dẫn cụ thể về các tiêu chí
thành lập, mô hình cơ cấu tổ chức, quy mô trụ sở làm việc… để các Tòa án địa
phương dự kiến số lượng các Tòa án nhân dân sơ thẩm khu vực, cũng như địa
điểm đặt trụ sở cho các Tòa án này. Trong quá trình triển khai thực hiện, Tòa án
nhân dân tối cao đã phân công trách nhiệm trong ban lãnh đạo để khảo sát, nắm
bắt tình hình tại các địa phương.
Bên cạnh những thành tựu, không thể không kể đến những hạn chế trong