BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGUYỄN TỐ QUYÊN
NGUYÊN TẮC ĐẢNG LÃNH ĐẠO TRONG
HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC
Chuyên ngành: LUẬT HÀNH CHÍNH – LUẬT HIẾN PHÁP
Mã số: 60380102
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. TRẦN THỊ HIỀN
HÀ NỘI - 2014
LỜI CAM ĐOAN
Đề tài “Nguyên tắc Đảng lãnh đạo trong quản lý hành chính nhà
nước” là công trình khoa học của tác giả Nguyễn Tố Quyên. Đây là công
trình khoa độc lập, trước khi nghiên cứu đề tài này không có đề tài nào trùng
lặp, không sao chép các đề tài khác.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm với lời cam đoan trên.
Hà Nội, tháng 6 năm 2014
Tác giả luận văn
Nguyễn Tố Quyên
Tổ chức cơ sở đảng
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU…………………………………………………………………
1
1.Lý do lựa chọn đề tài………………………………………………..
1
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu………………………………..…
3
3. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu…………….…………………….…. 3
4. Phương pháp nghiên cứu…………………………………………...
3
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài…………………………..... 4
6. Tổng quan đề tài…………………………………………………….
4
Chương I. CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA NGUYÊN TẮC ĐẢNG LÃNH
ĐẠO TRONG QUẢN LÍ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC ………………
1.1
22
1.3.1 Đảm bảo pháp lí …………………………………….………….
22
1.3.2 Đảm bảo xã hội ……………………………………….………..
24
Chương II. NỘI
DUNG NGUYÊN TẮC ĐẢNG
LÃNH
ĐẠO
TRONG QUẢN LÍ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC ……………………
27
2.1 Pháp luật hiện hành ghi nhận về nguyên tắc Đảng lãnh đạo trong
quản lí hành chính nhà nước…………………………………………….. 27
2.2 Tuân thủ các hình thức lãnh của Đảng đối với quản lí hành
chính nhà nước……………………………………………………………. 32
2.2.1 Tuân thủ đường lối, chính sách của Đảng về phát triển kinh tế, 32
văn hóa, xã hội trong các lĩnh vực quản lí hành chính nhà nước ……….….
57
3.2.1 Đổi mới tổ chức Đảng……………………………………………. 58
3.2.2 Đổi mới bộ máy cơ quan hành chính nhà nước……………..….
60
3.3. Đổi mới quản lý cán bộ, công chức, đảng viên……………………
64
3.4. Tăng cường kiểm tra, giám sát ……………………………………
67
KẾT LUẬN………………………………………………………………
69
1
MỞ ĐẦU
1.Lý do lựa chọn đề tài
Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, cách mạng tháng tám đã thắng
lợi và nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã ra đời. Qua thực tiễn lịch sử đã chỉ
rõ, sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là hạt nhân của mọi thắng lợi
trong đấu tranh giành độc lập, trong công cuộc đổi mới xây dựng đất nước,
tạo lập nên vị thế mới của nước Việt Nam trong cộng đồng quốc tế. Sự hình
lãnh đạo và sức chiến đấu cũng như bản lĩnh cầm quyền của Đảng. Trong
lãnh đạo nhà nước, cũng như hoạt động quản lý hành chính nhà nước Đảng
phải tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo với những bước đi thích
hợp, phù hợp với đặc điểm của bộ máy hành chính nhà nước. Đảng lãnh đạo,
chứ Đảng không chỉ đạo công việc cụ thể, phải chỉ rõ phạm vi và nội dung
lãnh đạo, bao gồm những vấn đề gì và đến mức độ nào.
Hiện nay đất nước ta đang thực hiện công cuộc đổi mới dưới sự lãnh
đạo của Đảng, từng bước đưa nền kinh tế trở thành nước công nghiệp hiện đại
hóa. Đồng thời, từng bước đổi mới hoạt động hệ thống chính trị phù hợp với
giai đoạn phát triển hiện nay. Công cuộc đổi mới đó nhằm đảm bảo sự lãnh
đạo của Đảng đối với nhà nước và toàn xã hội. Công cuộc đổi mới đó cũng
nhằm xây dựng và tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước, trong đó có quản lý
hành chính nhà nước. Đảng đã không ngừng tìm tòi đổi mới nội dung và
phương thức lãnh đạo của Đảng đối với quản lý hành chính nhà nước để bộ
máy cơ quan hành chính nhà nước thực hiện tốt hơn các chức năng, góp phần
thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển, tạo dựng và củng cố niềm tin của nhân
dân vào sự lãnh đạo của Đảng đối với xã hội.
Để thấy rõ vai trò lãnh đạo của Đảng, những đảm bảo pháp lý sự lãnh
đạo của Đảng trong quản lý hành chính nhà nước, việc nghiên cứu và vận
dụng có hiệu quả nguyên tắc Đảng lãnh đạo trong quản lý hành chính nhà
nước có ý nghĩa rất quan trọng trong giai đoạn hiện nay, nghiên cứu này càng
nổi bật tính thời sự khi hiện nay khi Đảng ta đang lãnh đạo công cuộc đổi
3
mới. Từ những lý do trên tác giả lựa chọn nghiên cứu đề tài “ Nguyên tắc
Đảng lãnh đạo trong quản lý hành chính nhà nước” .
2. Đối tượng và giới hạn nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những quan điểm, nội dung của
pháp luật hiện hành có liên quan ở nước ta; Cương lĩnh 1991, 2011, những
khoa học, các tác giả đi trước thông qua các công trình đã nghiên cứu trước.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Đề tài góp phần làm rõ tính tất yếu khách quan của nguyên tắc đảng
lãnh đạo trong quản lý hành chính nhà nước ta, góp phần làm phong phú thêm
lý luận về nguyên tắc hoạt động quản lý hành chính nhà nước. Đóng góp một
số đề xuất, biện pháp đảm bảo nguyên tắc đảng lãnh đạo quản lý hành chính
nhà nước và xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta, phù
hợp với yêu cầu đổi mới và hội nhập quốc tế.
Bên cạnh đó, các luận cứ, đánh giá, đề xuất trong đề tài có giá trị tham
khảo tốt trong thực tiễn công tác học tập, nghiên cứu về nhà nước, pháp luật
và hệ thống chính trị nói chung.
6.Tổng quan nghiên cứu của đề tài
Nguyên tắc Đảng lãnh đạo trong quản lý nhà nước là vấn đề lý luận của
hệ thống chính trị và trong quản lý hành chính nhà nước xã hội chủ nghĩa.
Việc thực hiện nguyên tắc trong thực tiễn quản lý nhà nước ở nước ta trong
nhiều năm qua đã đặt ra cho các nhà khoa học những nội dung cần nghiên cứu
dưới các góc độ khác nhau.
Bài viết của các tác giả: TS Trần Minh Tuấn trong góp ý sửa đổi Hiến
pháp 1992 “Vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và Xã hội”
www.xaydungdang.org.vn; “Nội dung và Phương thức lãnh đạo của Đảng
đối với Quốc hội ở nước ta hiện nay” PGS.TS Trần Ngọc Đường, Tạp chí
Nghiên cứu Lập pháp số 2.2005 tr.13; “Đảng lãnh đạo Nhà nước và vấn đề
hiến định vai trò lãnh đạo của Đảng trong Hiến pháp” PGS.TS Nguyễn Hữu
Đổng, Tạp chí Xây dựng Đảng số 9.2013 tr.8. “ Sự lãnh đạo của Đảng đối
5
với nhà nước pháp quyền” Thang Văn Phúc www.tapchicongsan.org.vn
(2007); “Đổi mới tổ chức bộ máy Nhà nước đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà
nước pháp quyền nền kinh tế thị trường” TS. Phạm Tấn Thu
Những công trình nghiên cứu trong thời gian qua được các nhà nghiên
cứu luật học, triết học, chính trị học chủ yếu tập trung khai thác, bàn về các
khía cạnh khác nhau trong vai trò lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước; những
vấn đề chủ yếu để xây dựng nhà nước dân chủ, nhà nước pháp quyền; những
lý luận tổng quan trong quản lý nhà nước. Đã phần nào nêu bật được những
thành tựu, làm rõ những hạn chế, nguyên nhân và rút ra những kinh nghiệm từ
quá trình lãnh đạo, khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng nói chung và với
nền hành chính nói riêng. Các tác giả cũng đã đưa ra được những luận cứ
khoa học và thực tiễn thể chế hóa sự lãnh đạo của Đảng và đổi mới phương
thức lãnh đạo của Đảng trong quản lý nhà nước, quản lý xã hội.
Những nghiên cứu trên đã tập hợp khối lượng tư liệu có giá trị về nhiều
mặt, song chưa có công trình nghiên cứu luật học nào về nguyên tắc Đảng
lãnh đạo trong quản lý hành chính nhà nước, đây vẫn còn là vấn đề thu hút
những nhà nghiên cứu luật học khám phá. Trên cơ sở kế thừa những thành tựu
của các tác giả đi trước, tác giả của đề tài tiếp thu và tiếp tục khai thác nghiên
cứu với mong muốn nghiên cứu này đóng góp được phần nào đó vào tư liệu
nghiên cứu luật học.
7
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA NGUYÊN TẮC ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
LÃNH ĐẠO QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC
1.1 Đảng chính trị và vai trò của đảng đối với nhà nước và xã hội
1.1.1 Đảng và sự tồn tại của Đảng chính trị trong xã hội có nhà nước
Cho đến nay có rất nhiều quan niệm khác nhau về đảng chính trị, trong
đó đáng chú ý là hai quan niệm cơ bản: Thứ nhất, quan điểm của các học giả
tư sản. Thứ hai, quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin. Các học giả tư sản cho
rằng : Đảng là một tổ chức chính trị của những người tự nguyện, có chung
với quyền tồn tại của các nhóm khác nhau trong xã hội, quyền các nhóm được
kiểm soát, chi phối lãnh đạo và hạn chế quyền của đảng cầm quyền. Các đảng
chính trị hoạt động có tổ chức, luôn tìm kiếm sự ủng hộ từ dân chúng. Đảng
chính trị bao giờ cũng mang bản chất giai cấp. Đảng chính trị luôn đại diện
cho hệ tư tưởng, quyền lực và lợi ích của giai cấp nhất định. Không thể có
đảng chính trị nào là phi giai cấp, là siêu giai cấp. Đây là một tổ chức chính trị
phản ánh lợi ích của giai cấp, của tầng lớp xã hội, nó liên kết, lãnh đạo những
người đại diện tích cực nhất của tầng lớp hay xã hội đó để cùng thực hiện đạt
những mục tiêu và lý tưởng nhất định. Hình thức tiền thân của Đảng chính trị
là các nhóm chính trị, các câu lạc bộ chính trị… Mục tiêu của các đảng chính
trị là hướng tới lãnh đạo, điều hành chính quyền nhà nước, tổ chức cho giai
cấp và các lực lượng ngoài giai cấp tiến hành đấu tranh theo đường lối chính
trị của mình. Đây là vấn đề có tính khách quan.
Trong xã hội hiện đại, Đảng chính trị là một nhân tố hết sức quan trọng
trong hệ thống chính trị, có vai trò là một trong những thành phần cơ bản của
chế độ chính trị, của xã hội công dân hiện đại, có ảnh hưởng lớn đến đời sống
chính trị, từ cơ cấu tổ chức đến sự vận hành của hệ thống chính trị.
Đảng chính trị trong xã hội có nhà nước mục đích thực hiện việc lãnh
đạo, điều hành chính quyền Nhà nước, tổ chức giai cấp và các lực lượng
chính trị để đấu tranh chính trị. Bảo vệ lợi ích của đất nước, đảm bảo quyền
của công dân. Chính vì vậy, sự tồn tại của một Đảng chính trị gắn với cuộc
9
đấu tranh giành chính quyền, thỏa mãn những lợi ích của giai cấp, đạt được
mục tiêu cuối cùng là trở thành Đảng cầm quyền, và đương nhiên, thành lập
Chính phủ để thể hiện ý chí thống trị xã hội của giai cấp mình. Nhiệm vụ chủ
yếu của các Đảng chính trị là trở thành Đảng cầm quyền. Muốn như thế thì
trước hết Đảng chính trị phải có vai trò tổ chức để vạch ra “ý chí chung”,
trong đó hệ thống hóa những khuynh hướng, lập trường chính trị khác nhau,
khách quan của lịch sử, thì đảng đó sẽ kết hợp tốt giữa lợi ích giai cấp với lợi
ích dân tộc. Khi đó, đảng sẽ ở vị trí trung tâm, trở thành động lực to lớn thúc
đẩy dân tộc tiến lên phù hợp quy luật tiến hóa của nhân loại. Những Đảng có
xu hướng tiến bộ thì luôn tham gia tích cực vào đời sống chính trị của đất
nước, thể hiện qua việc bảo vệ lợi ích của đất nước, của dân tộc. Đảng chính
trị là thành phần cơ bản của các chế độ chính trị và xã hội công dân.
1.1.2 Đảng Cộng sản Việt Nam và vai trò của Đảng cầm quyền
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời năm 1930, là đội tiên phong của giai
cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của cả
dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân
dân lao động và dân tộc. Mục đích của Đảng là xây dựng nước Việt Nam hoà
bình, độc lập, dân giầu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh,
thực hiện thành công chủ nghĩa xã hội và cuối cùng là chủ nghĩa cộng sản.
Đảng Cộng sản Việt Nam là một tổ chức chặt chẽ, thống nhất ý chí và
hành động, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản, thực hiện tập
thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, đồng thời thực hiện các nguyên tắc: tự phê
bình và phê bình; đoàn kết trên cơ sở Cương lĩnh chính trị và Điều lệ Đảng;
gắn bó mật thiết với nhân dân; Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và
pháp luật.
Từ khi thành lập đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn là đội tiên
phong, lãnh tụ chính trị của giai cấp công nhân và toàn thể dân tộc Việt Nam,
là người lãnh đạo và tổ chức mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Việc
thừa nhận, khẳng định Đảng cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà
nước và xã hội là sự thừa nhận một thực tế, khẳng định một tất yếu lịch sử
trong đời sống chính trị nước ta. Điều này đã được lý luận về chính đảng cũng
11
như thực tế lịch sử dân tộc và cách mạng nước ta minh chứng. Đảng cộng sản
Việt Nam ra đời và lãnh đạo cách mạng là một tất yếu khách quan, là đòi hỏi
thực hiện cương lĩnh chính trị, chủ trương, đường lối của mình. Đảng không
làm thay công việc của Nhà nước. Do vậy để đảm đương sứ mệnh cầm quyền,
Đảng phải chăm lo xây dựng, củng cố bộ máy nhà nước, bảo đảm cho bộ máy
nhà nước thực hiện đúng các chức năng, nhiệm vụ theo luật định.
Năng lực cầm quyền của Đảng được xác định bởi năng lực xây dựng và
quyết định đường lối chính trị; năng lực của đội ngũ cán bộ, đảng viên được
Đảng giới thiệu để bầu cử (bổ nhiệm) vào các vị trí lãnh đạo, quản lý trong bộ
máy nhà nước và bởi năng lực kiểm tra, giám sát việc thực hiện đường lối
chính trị của Đảng trong hoạt động nhà nước. Đảng gắn bó mật thiết với nhân
dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, dựa vào nhân dân để
xây dựng Đảng, chịu sự giám sát của nhân dân, hoạt động trong khuôn khổ
Hiến pháp và pháp luật.
Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam được Hiến pháp ghi
nhận xuất phát từ điều kiện hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam là nhà nước xã hội
chủ nghĩa. Ở nhà nước tư sản không quy định vai trò lãnh đạo của Đảng chính
trị trong Hiến pháp. Đặc trưng của các nước tư sản là đa nguyên chính trị. Các
đảng và các nhóm chính trị thúc đẩy việc thể hiện ý kiến thông qua biểu
quyết, được tự do thành lập và thực hiện hoạt động của mình.Các Đảng chính
trị tranh giành quyền lực và trở thành Đảng cầm quyền thông qua con đường
tuyển cử và đấu tranh ở Quốc hội. Đây là con đường cơ bản để đưa một Đảng
chính trị ở nhà nước tư sản trở thành Đảng cầm quyền. Việc xuất hiện và phát
triển của các Đảng chính trị ở các nước tư sản thường gắn liền với sự xuất
hiện và phát triển của Quốc hội và các hoạt động bầu cử. Thông qua các Nghị
sĩ là thành viên của mình mà Đảng gây ảnh hưởng đối với các quyết định của
Nhà nước, của Chính phủ nhằm mang lại lợi ích cho nhóm, giai cấp mà nó đại
diện. Tuy nhiên, các đảng phái chính trị phải tuân theo nguyên tắc chung của
pháp luật, phải tôn trọng các nguyên tắc về chủ quyền quốc gia và dân chủ.
Pháp luật nhà nước tư sản qui định chặt chẽ phương thức cạnh tranh
chính trị để xem xét về tính hợp pháp của sự cạnh tranh vị trí cầm quyền, xây
14
Xuất phát từ bản chất của chế độ chính trị, từ thực tiễn xây dựng nhà
nước xã hội chủ nghĩa, trong hoạt động quản lý nhà nước ở Việt Nam có
những nguyên tắc chung trong quản lý nhà nước XHCN, chiếm vai trò quan
trọng và mang tính xuyên suốt trong hoạt động chấp hành và điều hành của bộ
máy quản lý hành chính nhà nước là nguyên tắc Đảng lãnh đạo hoạt động
quản lý hành chính nhà nước.
Sự lãnh đạo của Đảng được xác định là một nguyên tắc đối với hoạt
động quản lí hành chính nhà nước. Điều đó, đòi hỏi toàn bộ hoạt động của
nền hành chính quốc gia phải tuyệt đối tuân thủ các hình thức lãnh đạo của
Đảng. Mọi hành vi không tuân thủ sự lãnh đạo của Đảng trong quản lí hành
chính nhà nước đều bị xử lí theo điều lệ Đảng và pháp luật của Nhà nước.
Đảng lãnh đạo quản lý hành chính nhà nước trước hết bằng việc đề ra đường
lối, chủ trương, chính sách. Đảng lãnh đạo thông qua công tác tổ chức và cán
bộ. Đảng đào tạo, lựa chọn, giới thiệu cán bộ cho cơ quan quản lý hành chính
nhà nước, lãnh đạo việc sắp xếp, bố trí cán bộ. Đảng chỉ đạo, kiểm tra việc
thực hện các nghị quyết Đảng cũng như pháp luật của nhà nước trong hoạt
động quản lý hành chính nhà nước. Việc quy định Đảng lãnh đạo Nhà nước
không chỉ là tư tưởng xuyên suốt, nhất quán để khẳng định vị trí, vai trò độc
tôn lãnh đạo của Đảng, mà còn là một nguyên tắc bất di bất dịch của cách
mạng Việt Nam, phù hợp với thể chế chính trị - xã hội mà Việt Nam đã lựa
chọn. Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với quản lý Nhà nước
xuất phát từ xu thế khách quan của sự phát triển nước ta, từ nguyện vọng,
khát vọng của nhân dân, của toàn xã hội có độc lập tự do hạnh phúc, phát
triển theo con đường xã hội chủ nghĩa. Bằng phương pháp, cách thức của
mình, Đảng quản lý nhà nước, đồng thời vừa lãnh đạo mọi tổ chức và hoạt
động của chính quyền đối với toàn bộ hệ thống các thiết chế, thể chế và hoạt
động của Nhà nước. Đảng vừa nắm giữ, triển khai thực hiện quyền lực chính
lợi ích của quần chúng lao động, trở thành công cụ để huy động, tập hợp sức
mạnh to lớn của nhân dân nhằm bảo vệ nền tự do, độc lập của Tổ quốc, góp
phần quyết định cho thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và
kiến thiết đất nước. Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, Nhà nước cách
16
mạng trở thành chỗ dựa tin cậy của nhân dân, được nhân dân tin tưởng, bảo
vệ, xây dựng.
Đảng đã khởi xướng công cuộc đổi mới đất nước mà khâu đột phá là
đổi mới tư duy kinh tế. Cùng với đổi mới kinh tế và trên cơ sở đổi mới kinh
tế, Đảng ta đã tiến hành đổi mới hệ thống chính trị, cải cách tổ chức và
phương thức hoạt động của Nhà nước, đổi mới phương thức lãnh đạo của
Đảng đối với Nhà nước, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Dưới sự lãnh đạo của
Đảng, "Chúng ta đã từng bước xây dựng được nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa; xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa với Nhà
nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; xây dựng nền văn
hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; xây dựng khối đoàn kết toàn dân tộc mà
nền tảng là liên minh công nhân - nông dân - trí thức; xây dựng nền quốc
phòng toàn dân và an ninh nhân dân với lực lượng vũ trang nhân dân cách
mạng chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, ngày càng đủ mạnh để bảo vệ
Tổ quốc và cuộc sống yên lành của nhân dân; xây dựng một nền ngoại giao
độc lập tự chủ, rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa với tinh thần Việt Nam
sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế phấn
đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển, không ngừng mở rộng các quan hệ đối
ngoại, nâng cao uy tín, vị thế của nước ta trên trường quốc tế"1. Những thành
tựu to lớn đó gắn chặt với vai trò lãnh đạo của Đảng đối với quản lý Nhà nước
- công cụ làm chủ của nhân dân lao động.
Trải qua 69 năm xây dựng và phát triển, dưới sự lãnh đạo của Đảng,
Truyền thống đoàn kết, yêu nước của dân tộc Việt Nam: là nét nổi bật
trong đời sống văn hoá tinh thần của người Việt, là di sản quý báu của dân tộc
được hình thành rất sớm. Dân tộc Việt Nam đã trải qua nhiều cuộc đấu tranh
chống giặc ngoại xâm. Trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm nhân dân Việt
Nam đã đoàn kết nhất trí đồng lòng vượt qua gian khổ, hy sinh, phát huy tài
năng, trí tuệ, chiến đấu dũng cảm giành thắng lợi cuối cùng. Cũng trong chiến
đấu chống ngoại xâm lòng yêu nước trở nên trong sáng chân thành và cao
thượng hơn bao giờ hết. "Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một
truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng,
thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to
18
lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước
và lũ cướp nước"2
Cốt lõi của các giá trị truyền thống Việt Nam bắt nguồn từ nền tảng của
dân tộc, từ truyền thống hàng nghìn năm kiên trì chịu đựng gian khổ, khó
khăn và vượt qua một cách oanh liệt các tác động khắc nghiệt khác nhau của
tự nhiên và xã hội. Tinh thần yêu nước là giá trị cơ bản trong hệ giá trị truyền
thống của dân tộc Việt Nam ta..
Tình yêu đất nước, tình đoàn kết không phải là tình cảm bẩm sinh, mà
là sản phẩm của sự phát triển lịch sử, gắn liền với đất nước. Tình yêu đất
nước, tình đoàn kết không chỉ gắn liền với quá trình xây dựng đất nước, nó
còn được thể hiện rõ hơn trong quá trình bảo vệ đất nước. Trên thế giới, hầu
như dân tộc nào cũng phải trải qua quá trình bảo vệ đất nước, chống xâm
lăng. Nhưng có lẽ không dân tộc nào lại phải trải qua quá trình giải phóng dân
tộc, bảo vệ Tổ quốc nhiều và đặc biệt như ở Việt Nam. Không có một dân tộc
nào trên thế giới lại phải chịu nhiều cuộc chiến tranh như vậy và với những kẻ
thù mạnh hơn rất nhiều. Chính tinh thần yêu nước nồng nàn, tình đoàn kết đã
giúp dân tộc ta vượt qua mọi khó khăn, chiến thắng mọi thế lực xâm lược.
c.Bản chất dân chủ, tiến bộ của Đảng
Đảng Cộng sản Việt Nam đã tỏ rõ bản lĩnh chính trị và năng lực lãnh
đạo toàn dân tộc tiến hành sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Độc lập
dân tộc gắn liền với tự do, ấm no, hạnh phúc của nhân dân, đó là mục tiêu
phấn đấu của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nói như Hồ Chí Minh thì ngoài lợi
ích của Tổ quốc, lợi ích của dân tộc, của nhân dân, Đảng Cộng sản Việt Nam
không có lợi ích nào khác. Làm cho mọi người được ấm no, tự do, hạnh phúc,
làm cho đất nước giàu mạnh, đó là thông điệp của Đảng Cộng sản Việt Nam
và của Hồ Chí Minh khi nhấn mạnh những nội dung cơ bản của chủ nghĩa xã
hội ở Việt Nam.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, nhân dân Việt Nam đã đạt được
những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử. Mặc dù gặp rất nhiều khó khăn,
trở ngại, đất nước Việt Nam là một đất nước ổn định chính trị, có nền kinh tế
tăng trưởng khá, đời sống của nhân dân về cơ bản đã được cải thiện nhiều,
20
v.v. Đó là những điều đã được nhân dân thừa nhận, được rất nhiều quốc gia,
tổ chức xã hội và nhiều người trên thế giới thừa nhận.
Đảng Cộng sản Việt Nam làm tốt sứ mệnh của mình do dân tộc giao
phó, xứng đáng là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời xứng
đáng là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại
biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân
tộc. Điều đó cũng đúng như Hồ Chí Minh đã đánh giá về Đảng Cộng sản Việt
Nam trong dịp Đảng tròn 30 tuổi: Đảng là đạo đức, là văn minh, là hạnh phúc,
là hoà bình, ấm no.
Đảng phát huy trí tuệ của toàn dân tộc, nắm bắt thời cơ, vượt qua thách
thức; Đảng là người tổ chức, tập hợp sức mạnh trí tuệ của toàn dân, là tổ chức
tiêu biểu cho tinh hoa của dân tộc. Đảng Cộng sản Việt Nam là tổ chức tiêu
biểu cho khối đại kết toàn dân tộc, biết kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức