BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGUYỄN KHÁNH VÂN
PHÂN BIỆT CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU VỚI CÁC
VI PHẠM TRONG GIAO DỊCH DÂN SỰ VỀ TÀI SẢN
Chuyên ngành: Luật Hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số: 60 38 01 04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. NGUYỄN VĂN HƢƠNG
HÀ NỘI - 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, không trùng với
bất kỳ một công trình nghiên cứu nào đã đƣợc công bố trƣớc đó, mọi trích dẫn trong
bài viết đều đƣợc chú thích và dẫn nguồn rõ ràng, đầy đủ.
Hà Nội, ngày 22 tháng 5 năm 2014
Người viết luận văn
Nguyễn Khánh Vân
hữu khác………………………………………………………………
62
3.2. Kiến nghị xây dựng văn bản giải thích pháp luật và nâng cao hiệu lực
thực thi pháp luật hình sự về các tội xâm phạm sở hữu ………………………. 64
KẾT LUẬN……………………………………………………………………. 68
1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Các tội xâm phạm sở hữu và các vi phạm trong giao dịch dân sự về tài sản
trong nhiều trƣờng hợp có sự tƣơng đồng, xuất phát từ sự tƣơng đồng này nên
trong thực tiễn áp dụng pháp luật, khi biểu hiện cụ thể của những dấu hiệu khác
nhau cơ bản giữa chúng không đƣợc làm rõ sẽ dẫn đến việc lựa chọn sai quy
phạm pháp luật để xử lý các hành vi vi phạm mà trong một số sách báo thƣờng
gọi là “hình sự hóa dân sự” hoặc “dân sự hóa hình sự”, thực chất đó là tình trạng
áp dụng luật hình sự để xử lý các vi phạm trong giao dịch dân sự về tài sản hoặc
giải quyết các vụ việc có dấu hiệu của các tội xâm phạm sở hữu bằng pháp luật
dân sự. Việc làm đó gây ra oan, sai hoặc bỏ lọt tội phạm. Tình trạng trên còn
xuất phát từ một số bất cập của Bộ luật hình sự (BLHS) hiện hành về các tội xâm
phạm sở hữu. Vì vậy, việc nghiên cứu để làm rõ những dấu hiệu khác nhau cơ
bản giữa hai loại hành vi vi phạm nói trên đồng thời hoàn thiện quy định của
BLHS về các tội xâm phạm sở hữu là việc làm mang tính cấp thiết.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Là một vấn đề đƣợc dƣ luận xã hội đặc biệt quan tâm nên việc phân biệt
giữa các tội xâm phạm sở hữu với các vi phạm trong giao dịch dân sự về tài sản
đã đƣợc nhiều học giả nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau.
PGS. TS. Nguyễn Ngọc Chí (Trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm
phạm sở hữu, luận án tiến sĩ luật học), TS. Phạm Quang Huy (Ranh giới giữa tội
nghiên cứu hiện tƣợng “hình sự hoá giao dịch dân sự, kinh tế” (với nghĩa là sự
lạm dụng pháp luật hình sự để xử lý những vi phạm trong giao dịch dân sự, kinh
3
tế), trong đó chủ yếu là “hình sự hóa” giao dịch kinh tế, nhƣng có thể nói những
tài liệu trên đã đƣa ra đƣợc những kết quả nghiên cứu có ý nghĩa trong việc phân
biệt các tội xâm phạm sở hữu với các vi phạm trong giao dịch dân sự về tài sản.
Trên cơ sở phân tích toàn diện những trƣờng hợp có sự tƣơng đồng giữa
các tội xâm phạm sở hữu và các vi phạm trong giao dịch dân sự về tài sản, từ đó
làm rõ những dấu hiệu khác nhau cơ bản giữa chúng - cách tiếp cận mới của luận
văn này đã làm rõ đƣợc sự khác biệt giữa các tội xâm phạm sở hữu với các vi
phạm trong giao dịch dân sự về tài sản một cách toàn diện. Qua đó, luận văn đã
có những đề xuất khắc phục các bất cập của luật hình sự có liên quan đến việc
phân biệt các vi phạm pháp luật nêu trên.
3. Phạm vi nghiên cứu đề tài:
Đề tài đƣợc nghiên cứu dƣới góc độ luật hình sự, trên cơ sở phân tích
những trƣờng hợp có sự tƣơng đồng giữa các tội xâm phạm sở hữu và các vi
phạm trong giao dịch dân sự về tài sản, rút ra những dấu hiệu khác nhau cơ bản
giữa chúng và làm rõ những dấu hiệu đó, đó là nội dung chính của việc phân biệt
các tội xâm phạm sở hữu với các vi phạm trong giao dịch dân sự về tài sản.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu đề tài
Trên cơ sở phƣơng pháp luận duy vật biện chứng, trong quá trình nghiên
cứu luận văn, tác giả đã sử dụng một số phƣơng pháp nghiên cứu cơ bản sau đây:
- Phƣơng pháp bình luận;
- Phƣơng pháp so sánh luật học;
- Phƣơng pháp phân tích;
- Phƣơng pháp tổng hợp…
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÂN BIỆT CÁC TỘI
XÂM PHẠM SỞ HỮU VỚI CÁC VI PHẠM TRONG GIAO DỊCH DÂN SỰ
VỀ TÀI SẢN
1.1.
Cơ sở lý luận
Quan hệ sở hữu là quan hệ xã hội chịu sự điều chỉnh của pháp luật dân sự
nhƣng đồng thời cũng là khách thể đƣợc pháp luật hình sự bảo vệ. Là những
hành vi vi phạm pháp luật xâm hại đến quan hệ sở hữu nên giữa các tội xâm
phạm sở hữu và các vi phạm trong giao dịch dân sự về tài sản có những điểm
tƣơng đồng nhất định. Xuất phát từ những điểm tƣơng đồng đó, trong những
trƣờng hợp sự khác nhau giữa các tội xâm phạm sở hữu với các vi phạm trong
giao dịch dân sự về tài sản chƣa đƣợc làm rõ, có thể dẫn đến sự nhầm lẫn giữa
hai loại vi phạm pháp luật này.
Vi phạm pháp luật là hành vi trái pháp luật, có lỗi do chủ thể có năng lực
trách nhiệm pháp lý thực hiện, xâm hại các quan hệ xã hội được pháp luật bảo
vệ [7; 211]. Các vi phạm pháp luật đều có tính nguy hiểm cho xã hội. Tính nguy
hiểm cho xã hội của hành vi vi phạm thể hiện ở 4 yếu tố cấu thành: Khách thể,
mặt khách quan, mặt chủ quan, chủ thể. Dựa trên tính nguy hiểm cho xã hội, các
vi phạm pháp luật đƣợc phân loại thành tội phạm (vi phạm pháp luật hình sự) và
các vi phạm pháp luật khác (trong đó có vi phạm dân sự); Trong đó, tội phạm là
vi phạm có tính nguy hiểm đáng kể cho xã hội, các vi phạm pháp luật khác là
những vi phạm có tính nguy hiểm cho xã hội không đáng kể.
Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi, trái pháp luật hình sự
và phải chịu hình phạt [9; 42]. Tội phạm có các đặc điểm:
6
đoạt là hành vi cố ý chuyển dịch trái pháp luật tài sản đang thuộc sự quản lý của
chủ tài sản thành tài sản của mình; hành vi có dấu hiệu chiếm đoạt có đặc điểm:
là hành vi làm mất hẳn khả năng thực hiện quyền sở hữu của chủ tài sản và tạo
khả năng đó cho chủ thể hành vi, đƣợc thực hiện đối với tài sản đang trong sự
chiếm hữu, quản lý của chủ tài sản và với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi có dấu hiệu
chiếm đoạt là hành vi khách quan ở 8 trong số 13 tội xâm phạm sở hữu. Trong
đó, ở các tội “cƣớp tài sản”, “bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản”, “cƣỡng đoạt tài
sản”, hành vi có dấu hiệu chiếm đoạt đồng thời xâm phạm đến cả quan hệ nhân
thân và quan hệ sở hữu, nên cấu thành tội phạm ở những tội này là cấu thành
hình thức, hậu quả không phải là dấu hiệu bắt buộc ở những tội này. Ở tội “cƣớp
giật tài sản”, hành vi chiếm đoạt ngoài xâm phạm đến quan hệ sở hữu còn xâm
phạm đến hoặc đe dọa xâm phạm đến quan hệ nhân thân nên cấu thành ở tội này
cũng là cấu thành hình thức. Ở các tội “công nhiên chiếm đoạt tài sản”, “trộm
cắp tài sản”, “lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài
sản”, hành vi chiếm đoạt chỉ xâm phạm đến quan hệ sở hữu, nên để hành vi có
dấu hiệu chiếm đoạt ở những tội này thể hiện đầy đủ tính chất nguy hiểm đáng
kể cho xã hội, thì dấu hiệu hậu quả và quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả
là dấu hiệu bắt buộc, tài sản bị chiếm đoạt (hoặc bị đe dọa chiếm đoạt) phải có
8
giá trị theo luật định thì hành vi mới cấu thành tội phạm; trong trƣờng hợp tài sản
bị chiếm đoạt không đủ giá trị theo luật định thì dấu hiệu chủ thể có nhân thân
xấu (đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội
chiếm đoạt tài sản, chƣa đƣợc xóa án tích) có thể bổ sung cho dấu hiệu hậu quả
để hành vi chiếm đoạt cấu thành tội phạm; nhƣ vậy, cấu thành tội phạm ở những
tội này là cấu thành vật chất. Lỗi ở các tội này đều phải là lỗi cố ý trực tiếp và
chủ thể là chủ thể thƣờng.
Thứ hai: Hành vi sử dụng trái phép tài sản. Hành vi sử dụng trái phép tài
hệ sở hữu với mục đích tƣ lợi, nhƣng khác với hành vi có dấu hiệu chiếm đoạt,
hành vi chiếm giữ trái phép tài sản tác động đến tài sản đã thoát li khỏi sự chiếm
hữu của chủ sở hữu hoặc tài sản chƣa có chủ sở hữu. Nên nếu không xét đến các
dấu hiệu khác của CTTP thì hành vi chiếm giữ trái phép tài sản có tính nguy
hiểm cho xã hội không cao bằng hành vi có dấu hiệu chiếm đoạt. Để hành vi
chiếm giữ trái phép tài sản có tính nguy hiểm đáng kể cho xã hội thì cần có thêm
dấu hiệu khác: Tài sản bị chiếm giữ trái phép phải có giá trị từ 10 triệu đồng trở
lên hoặc là cổ vật hoặc vật có giá trị lịch sử, văn hóa. Lỗi ở tội này là lỗi cố ý
trực tiếp: Ngƣời phạm tội biết tài sản đang có không phải là tài sản của mình và
biết mình có nghĩa vụ phải trả lại hoặc giao nộp tài sản cho chủ sở hữu, ngƣời
quản lý hợp pháp hoặc cơ quan có trách nhiệm nhƣng không thực hiện nghĩa vụ
đó vì mong muốn biến tài sản đó thành tài sản của mình. Ngoài dấu hiệu lỗi, thái
độ cố tình là một dấu hiệu bắt buộc khác thuộc mặt chủ quan của tội này, đó là
thái độ cƣơng quyết, dứt khoát không chịu giao nộp hoặc không chịu trả lại tài
sản mặc dù đã đƣợc chủ tài sản hoặc cơ quan có trách nhiệm yêu cầu đƣợc nhận
lại tài sản đó theo quy định của pháp luật. Chủ thể của tội này là chủ thể thƣờng.
10
Thứ tư: Hành vi hủy hoại, làm hƣ hỏng, làm mất mát, làm lãng phí tài
sản. Hành vi hủy hoại tài sản là hành vi làm cho tài sản mất giá trị sử dụng ở
mức độ không còn hoặc khó có khả năng khôi phục lại đƣợc, hành vi này đƣợc
thực hiện với lỗi cố ý, và là hành vi khách quan của tội “hủy hoại tài sản”. Hành
vi làm hƣ hỏng tài sản là hành vi làm giá trị sử dụng của tài sản bị mất ở mức độ
còn điều kiện khôi phục lại đƣợc, hành vi này có thể đƣợc thực hiện với lỗi cố ý
(là hành vi khách quan của tội “cố ý làm hƣ hỏng tài sản”) hoặc lỗi vô ý (hành vi
khách quan của tội “thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của
Nhà nƣớc” hoặc tội “vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản”). Hành vi làm
mất mát hoặc làm lãng phí tài sản là những hành vi làm mất toàn bộ hoặc một
giữa vi phạm dân sự và tội phạm.
Theo Điều 121 Bộ luật dân sự (BLDS) 2005, “Giao dịch dân sự là hợp
đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt
quyền, nghĩa vụ dân sự. Giao dịch dân sự về tài sản là những giao dịch dân sự có
đối tƣợng là tài sản, bao gồm các giao dịch: Mua bán, trao đổi, vay, thuê, mƣợn,
vận chuyển, gia công, sửa chữa, gửi giữ, bảo vệ… tài sản; bảo hiểm; hứa thƣởng
và thi có giải. Trong các giao dịch đó, các bên trong giao dịch có các nghĩa vụ:
- Thanh toán (gồm cả phần lãi nếu có).
- Giao tài sản.
- Trả lại tài sản.
- Bảo quản tài sản.
- Sử dụng tài sản đúng công dụng và đúng mục đích đã thỏa thuận.
12
- Bảo hành tài sản trong hợp đồng mua bán tài sản có bảo hành.
- Bảo đảm giá trị sử dụng của tài sản thuê và bảo đảm quyền sử dụng tài
sản của bên thuê trong hợp đồng thuê tài sản.
- Cung cấp kịp thời các thông tin cần thiết theo luật định.
- Mua bảo hiểm trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật (trong
hợp đồng vận chuyển tài sản) và thanh toán các chi phí hợp lý phát sinh trong
quá trình thực hiện giao dịch theo luật định.
- Giữ bí mật các thông tin về quy trình gia công và sản phẩm gia công
trong hợp đồng gia công tài sản.
- Thực hiện các biện pháp phòng ngừa thiệt hại (nghĩa vụ của bên đƣợc
bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm).
…
Vi phạm trong giao dịch dân sự về tài sản là một dạng của vi phạm dân sự.
Đó là những hành vi vi phạm nghĩa vụ trong giao dịch dân sự về tài sản. Bao
vi phạm trong giao dịch dân sự về tài sản là tính nguy hiểm cho xã hội của vi
phạm. Thể hiện ở chỗ: Những hành vi vi phạm trong giao dịch dân sự về tài sản
là những hành vi có tính nguy hiểm không đáng kể cho xã hội, chỉ khi những
hành vi đó có thêm những dấu hiệu làm tăng mức độ nguy hiểm cho xã hội đến
mức đáng kể và sự xâm hại đến quan hệ sở hữu thể hiện được đầy đủ nhất bản
14
chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi thì hành vi đó mới cấu thành các tội xâm
phạm sở hữu.
Xem xét các dạng và loại vi phạm trong giao dịch dân sự về tài sản đã nêu
ở trên, chúng ta thấy:
- Các hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ
nghĩa vụ thanh toán, giao tài sản hoặc trả lại tài sản có nhiều điểm tƣơng đồng
với hành vi chiếm đoạt tài sản ở các tội “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”
và “lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; Ví dụ: hành vi chậm thực hiện nghĩa vụ trả nợ
trong một thời gian dài có nhiều biểu hiện khách quan giống với hành vi chiếm
đoạt số tiền nợ…
- Hành vi vi phạm nghĩa vụ sử dụng tài sản đúng mục đích đã thỏa thuận
trong giao dịch dân sự về tài sản có nhiều điểm tƣơng đồng với hành vi khách
quan của tội “sử dụng trái phép tài sản”.
- Hành vi vi phạm nghĩa vụ bảo quản tài sản hoặc nghĩa vụ sử dụng tài sản
đúng công dụng của tài sản (dẫn đến việc tài sản bị hƣ hỏng) có nhiều biểu hiện
khách quan giống với hành vi khách quan ở các tội “hủy hoại hoặc cố ý làm hƣ
hỏng tài sản”, “vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản”, “thiếu trách nhiệm
gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nƣớc”.
Xuất phát từ những trƣờng hợp có sự tƣơng đồng đó nên trong thực tiễn áp
dụng pháp luật, nếu không xác định rõ những dấu hiệu khác nhau cơ bản giữa
những hành vi là vi phạm trong giao dịch dân sự về tài sản và những hành vi là
Tình trạng đó xảy ra phổ biến nhất là ở các tội “lừa đảo chiếm đoạt tài
sản” và “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Điều đó xuất phát từ việc:
Hành vi khách quan ở các tội này - hành vi chiếm đoạt - có nhiều điểm tƣơng
đồng với các hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ
16
nghĩa vụ thanh toán, giao tài sản hoặc trả lại tài sản trong các giao dịch dân sự về
tài sản. Sau đây là một số trƣờng hợp cụ thể:
Năm 2001, bà Phan Thị H (sống ở nước ngoài) mua lô đất của ông
Nguyễn Thượng Uyển với giá 194 ngàn USD, đặt cọc 30 ngàn USD, 164 ngàn
USD còn lại bà H đưa cho em gái là bà Phan Thị T giữ hộ để trả tiếp cho ông
Uyển sau khi hoàn tất thủ tục mua bán. Sau đó, việc mua bán đất không thành,
ông Uyển trả tiền cọc lại cho bà T (giữ hộ bà H). Thời gian sau đó, bà T sử dụng
số tiền trên để mua bất động sản. Khi về Việt Nam, bà H phát hiện nên đòi lại
tiền. Sau khi cấn trừ nợ bằng 2 lô đất, bà T viết giấy nhận còn nợ bà H 50 ngàn
USD, 50 triệu đồng và 5 lượng vàng. Ngày 25/5/2005, cơ quan điều tra khởi tố
vụ án, khởi tố bị can đối với bà T, và ngày 21/2/2006, TAND tỉnh B đã tuyên
phạt bà T 14 năm tù về tội "lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản". Tháng
6/2006, bản án này bị Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại TP.HCM tuyên hủy để
điều tra, xét xử lại. Ngày 5/2/2007, vụ án được đưa ra xét xử sơ thẩm lần 2 và bà
T đã được trả tự do ngay tại tòa vì không phạm tội, hành vi của bà T chỉ là vi
phạm nghĩa vụ dân sự. Lúc này, bà T đã bị tạm giam 20 tháng. Viện KSND tỉnh
B kháng nghị phúc thẩm và người bị hại kháng cáo nhưng đã bị Tòa phúc thẩm
TAND tối cao tại TP.HCM bác kháng nghị và kháng cáo [16]. Trong vụ án này,
do mắc sai lầm khi nhận định hành vi chậm thực hiện nghĩa vụ trả lại tài sản của
bà T là hành vi chiếm đoạt, nên cơ quan tiến hành tố tụng (CQTHTT) tỉnh B đã
quy kết bà T phạm tội “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, gây oan sai cho
bà T, mặc dù Tòa án đã tuyên bà T không phạm tội, nhƣng quá trình tố tụng kéo
18
Ở một khía cạnh khác, việc xác định hành vi vắng mặt khỏi nơi cƣ trú có
phải là hành vi chiếm đoạt bằng thủ đoạn bỏ trốn hay không cũng là một vấn đề
phức tạp. Trong vụ án sau đây, do xác định không chính xác hành vi vắng mặt tại
nơi cƣ trú của bà H có phải là hành vi chiếm đoạt bằng thủ đoạn bỏ trốn hay
không nên cơ quan điều tra đã lạm dụng pháp luật hình sự để giải quyết tranh
chấp dân sự: Năm 2008, bà Trương Thị H vay của bà Nguyễn Thị Khánh T tổng
cộng 950.000.000 đồng để kinh doanh và đã trả 550.000.000 đồng; nhưng do
kinh doanh thua lỗ nên bà H vào thành phố Hồ Chí Minh để kinh doanh, kiếm
tiền trả nợ; trước khi đi, bà H đã thông báo trước cho bà T biết và đã đăng ký
tạm trú, tạm vắng; Tuy nhiên, cuối năm 2009, bà T đã tố cáo bà H chiếm đoạt số
tiền 400.000.000 đồng và trốn khỏi địa phương, cơ quan điều tra đã khởi tố, bắt
tạm giam đối với bà H [14]. Trong vụ án này, mặc dù bà H đã có hành vi chậm
thực hiện nghĩa vụ thanh toán và đồng thời có hành vi vắng mặt khỏi nơi cƣ trú,
nhƣng hành vi đó không phải là hành vi bỏ trốn, vì hành vi đó đƣợc thực hiện
một cách công khai và nhằm mục đích là đi kinh doanh để kiếm tiền trả nợ.
Nội dung của khái niệm “hành vi gian dối” trong các tội “lừa đảo chiếm
đoạt tài sản” và “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” cũng có nhiều quan
điểm, cách hiểu khác nhau. Vụ án sau đây là một trƣờng hợp thể hiện quan điểm
trái ngƣợc nhau giữa Tòa án và Viện kiểm sát trong việc nhận định hành vi gian
dối: Năm 2004, trong quá trình giải quyết vụ án dân sự kiện đòi tài sản giữa bị
đơn là Phạm Thị D và nguyên đơn là các chủ nợ của bà D, bà D không thừa
nhận chữ ký trong các giấy vay nợ là của mình; Qua giám định, Tòa án đã xác
định được chữ ký trên các giấy vay nợ đó là của bà D; Nhận thấy việc bà D chối
bỏ nội dung của hợp đồng vay tài sản là hành vi chiếm đoạt bằng thủ đoạn gian
dối nên Tòa án gửi công văn đến Viện kiểm sát đề nghị truy cứu trách nhiệm
20
quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn đƣợc, hành vi của T không phạm
tội “hủy hoại tài sản” và cũng không phạm tội “cố ý làm hƣ hỏng tài sản”.
Trên đây là một số trong số rất nhiều các trƣờng hợp trong thực tiễn có
nhiều quan điểm khác nhau về đƣờng lối giải quyết vụ việc; Trong đó có những
trƣờng hợp cơ quan, ngƣời tiến hành tố tụng đã lạm dụng pháp luật hình sự để
giải quyết tranh chấp dân sự, cũng có những trƣờng hợp là giải quyết các vụ việc
có dấu hiệu của các tội xâm phạm sở hữu bằng pháp luật dân sự; Điều đó gây
oan, sai hoặc bỏ lọt tội phạm. Từ đó dẫn đến những hậu quả rất lớn cho xã hội.
Việc lạm dụng pháp luật hình sự để giải quyết tranh chấp dân sự trƣớc hết
sẽ xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Trong số các vụ án oan,
sai do CQTHTT lạm dụng pháp luật hình sự để giải quyết tranh chấp dân sự, có
nhiều trƣờng hợp, ngƣời bị oan, sai đã bị áp dụng các biện pháp tạm giữ, tạm
giam. Việc áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam trong các trƣờng hợp này đã
xâm hại đến quyền tự do thân thể của công dân; đồng thời gây tổn thƣơng nặng
nề đến tâm lý của họ. Uy tín của ngƣời bị oan sai sẽ bị tổn hại rất nghiêm trọng.
Thêm vào đó, việc tạm giữ, tạm giam oan, sai một mặt gây lãng phí thời gian của
ngƣời bị tạm giữ, tạm giam, mặt khác sẽ khiến cho ngƣời thân của họ cũng lãng
phí thời gian và tiền bạc trong cả quá trình kêu oan cho ngƣời thân của mình.
Trong việc làm này, thời gian của các CQTHTT cũng bị tiêu tốn một cách vô
ích.
Đối với biện pháp kê biên, niêm phong tài sản, tài sản của ngƣời bị oan sai
(có thể lên đến hàng tỷ đồng) sẽ không đƣợc đƣa vào quá trình sản xuất, kinh
doanh. Điều đó không chỉ gây thiệt hại đến lợi ích vật chất của những ngƣời có
liên quan mà còn ảnh hƣởng đến lợi ích của toàn xã hội.
21
kiểm sát, thì những vụ việc có dấu hiệu của các tội xâm phạm sở hữu đƣợc giải
quyết bằng biện pháp dân sự lại thƣờng rất khó phát hiện; nhất là đối với những
vụ việc mà sau khi đƣợc cán bộ pháp luật “hƣớng dẫn”, ngƣời dân đã lựa chọn
con đƣờng tự giải quyết, tự thỏa thuận, vụ việc tƣởng chừng nhƣ đã đƣợc giải
quyết ổn thỏa, nhƣng thực chất cách giải quyết nhƣ vậy lại ẩn chứa nhiều hệ lụy
lâu dài cho xã hội. Và cũng chính vì khó bị phát hiện nên việc khắc phục sai lầm
của các cơ quan pháp luật lại càng trở thành vấn đề khó khăn, phức tạp.
Nói chung, dù là lạm dụng pháp luật hình sự để giải quyết tranh chấp dân
sự hay giải quyết các vụ việc có dấu hiệu của các tội xâm phạm sở hữu bằng
pháp luật dân sự thì cũng đều là những hiện tƣợng tiêu cực trong hoạt động áp
dụng pháp luật, đều gây nên những tác động tiêu cực cho xã hội nói chung và
cho nền tƣ pháp nói riêng. Những tác động đó không chỉ là nhất thời mà còn
mang tính lâu dài, dai dẳng về sau; không chỉ là cá biệt mà còn ảnh hƣởng chung
trong toàn xã hội. Việc các hiện tƣợng nói trên đang dần trở nên phổ biến là một
tình trạng rất đáng lo ngại. Chính vì vậy, việc tìm ra hệ thống các giải pháp nhằm
khắc phục, hạn chế tình trạng trên là vấn đề cần đƣợc quan tâm đúng mức. Việc
nghiên cứu để phân biệt các tội xâm phạm sở hữu với các vi phạm trong giao
dịch dân sự về tài sản là một trong những cố gắng nhằm khắc phục, hạn chế tình
trạng trên.
Nguyên nhân của tình trạng trên là do những dấu hiệu phân biệt giữa các
tội xâm phạm sở hữu với các vi phạm trong giao dịch dân sự về tài sản còn chƣa
đƣợc làm rõ; bên cạnh đó, các quy định của BLHS hiện hành về các tội xâm