Giải pháp góp phần hoàn thiện và phát triển hoạt động bảo lãnh tại chi nhánh Ngân hàng Công thương Đống Đa - Pdf 48

Mở đầu
1- Tính cấp thiết của đề tài :
Với sự chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung bao cấp sang nền kinh
tế thị trờng theo định hớng xã hội chủ nghĩa có sự điều tiết vĩ mô của nhà nớc,
trong thời gian qua, đất nớc ta đã có một sự phát triển rõ rệt, trên mọi lĩnh vực của
nền kinh tế. Những thành tựu ban đầu mà chúng ta đã đạt đợc là nền kinh tế tăng tr-
ởng, xã hội ổn định, quan hệ kinh tế đối ngoại mở rộng và vị thế của Việt Nam trên
trờng quốc tế ngày càng nâng cao. Cùng với sự chuyển đổi của nền kinh tế, sự
nghiệp đổi mới của hoạt động ngân hàng cũng đợc thể hiện trên nhiều hình thức:
công nghệ ngân hàng, kết cấu nguồn vốn và đặc biệt là các nghiệp vụ ngân hàng.
Các NHTM cũng đã có một sự đổi mới và hoàn thiện từ nội dung hoạt động tới cơ
cấu tổ chức nhằm tăng khả năng kinh doanh phục vụ đắc lực cho sự phát triển kinh
tế xã hội đất nớc.
Nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng là một trong các nghiệp vụ ngân hàng hiện đại
đợc các NHTM Việt Nam ứng dụng trong những năm gần đây. Với việc áp dụng
nghiệp vụ này, các doanh nghiệp đã giảm thiểu đợc rủi ro từ các đối tác, nhất là các
đối tác nớc ngoài. Còn các ngân hàng đã đa dạng hoá đợc sản phẩm dịch vụ cung
cấp, tăng doanh số thu đợc từ các nghiệp vụ ngoại bảng. Tuy nhiên nghiệp vụ bảo
lãnh ngân hàng vẫn là một nghiệp vụ mới mẻ hơn nữa mức độ phát triển của nó
trong những năm qua còn rất nhỏ so với đòi hỏi của nền kinh tế Việt Nam. Do vậy
ngành ngân hàng nói chung và Ngân hàng Công thơng Đống Đa nói riêng cần phải
vận dụng và phát triển nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng tốt hơn để đáp ứng kịp thời
nhu cầu của các doanh nghiệp trớc sự tiến triển của nền kinh tế toàn cầu.
Xuất phát từ tính thiết thực của việc giải quyết vấn đề trên, sau một thời gian
thực tập tại Ngân hàng Công thơng Đống Đa, em đã mạnh dạn chọn đề tài khoá
luận của mình là :
1
Giải pháp góp phần hoàn thiện và phát triển hoạt động bảo lãnh tại chi nhánh
Ngân hàng Công thơng Đống Đa.
2- Mục đích nghiên cứu của đề tài.
- Hệ thống và làm sáng tỏ cơ sở lý luận của bảo lãnh ngân hàng tại một

1.1. bảo lãnh ngân hàng và vai trò của bảo lãnh ngân
hàng .
1.1.1. Khái niệm, chức năng của bảo lãnh ngân hàng
.
1.1.1.1. Khái niệm bảo lãnh ngân hàng.
Trong nền kinh tế hàng hoá hiện đại, nhu cầu ngày càng cao của xã hội về các
loại hàng hoá dịch vụ phục vụ sản xuất - tiêu dùng đã làm cho hoạt động thơng mại
diễn ra mạnh mẽ với xu hớng toàn cầu hoá sâu sắc. Hoạt động thơng mại đã đem
lại những lợi ích to lớn cho các doanh nghiệp nhng cũng buộc họ phải đối mặt với
những rủi ro tờ phía đối tác do sự thiếu chính xác và không đầy đủ về thông tin.
Các doanh nghiệp lúc này nhận thấy rằng cần có cơ quan chuyên môn giải quyết
những vấn đề phát sinh để đảm bảo thúc đẩy quá trình trao đổi thơng mại và giảm
thiểu rủi ro từ phía bạn hàng. Và bảo lãnh của một cơ quan, tổ chức có chuyên
môn, uy tín đã thực sự đáp ứng đợc yêu cầu của các doanh nghiệp trong việc tìm
kiếm sự đảm bảo từ phía đối tác.
Bảo lãnh, một nét chung nhất, chính là sự cam kết của ngời bảo lãnh thực hiện
đầy đủ các quyền lợi và nghĩa vụ nếu ngời đợc bảo lãnh không thực hiện hoặc thực
hiện không đúng những cam kết đối với bên yêu cầu bảo lãnh. Bảo lãnh cần thiết
khi hai bên còn cha tín nhiệm nhau, uy tín và lời hứa của bên này cha đủ độ tin cậy
đối với bên đối tác. Sự xuất hiện của một bên thứ ba (bên bảo lãnh) có đủ độ tin cậy
với cả hai bên đứng ra thực hiện bảo lãnh và sẽ là chiếc cầu nối giữa hai bên để đa
họ đến một điểm chung thống nhất.
Với định nghĩa trên, trong xã hội tồn tại rất nhiều loại hình bảo lãnh nh bảo lãnh
của một cá nhân với cá nhân khác, bảo lãnh của một tổ chức với một tổ chức hoặc
một cá nhân, hay rộng hơn nữa là bảo lãnh của một tổ chức quốc tế với một nớc,
một cá nhân
3
Còn trong ngân hàng, bảo lãnh là một nghiệp vụ đợc định nghĩa nh sau:
Bảo lãnh ngân hàng là cam kết bằng văn bản của TCTD (bên bảo lãnh) với bên
có quyền (bên thụ hởng bảo lãnh) về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho

hởng bảo lãnh phải cố gắng hết sức có thể để thực hiện tốt những điều đã đợc quy
định trong hợp đồng. Vì vậy những khả năng xảy ra nghĩa vụ bồi thờng của ngân
hàng thờng rất nhỏ. Theo thống kê của các nhà ngân hàng Mỹ thì chỉ có 1% trên
tổng số các bảo lãnh đợc phát hành ở nớc này bị ngời thụ hởng yêu cầu thanh toán.
Qua đó, ta có thể thấy rằng bảo lãnh là một công cụ đảm bảo chứ không phải là
một công cụ thanh toán.
Thứ hai, bảo lãnh ngân hàng là công cụ tài trợ (Financing Instrument).
Đối với ngời đợc bảo lãnh, bảo lãnh thực sự là một công cụ tài trợ về mặt tài
chính. Trong nhiều trờng hợp, khách hàng bắt buộc phải trả cho phía đối tác một
khoản tiền ứng trớc, khoản đặt cọc để đảm bảo nghĩa vụ thực hiện hợp đồng giữa
hai bên. Nhng sau khi đợc ngân hàng phát hành bảo lãnh thì khách hàng (ngời đợc
bảo lãnh) không phải xuất quỹ mà vẫn có thể thực hiện hợp đồng, thậm chí họ có
thể đợc vay nợ hoặc đợc kéo dài thời gian thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ. Nh
vậy, bảo lãnh ngân hàng đã tạo điều kiện cho khách hàng đợc hởng những thuận lợi
về ngân quỹ nh khi đợc cho vay thực sự.
Trong điều kiện kinh tế ngày càng phát triển nh hiện nay thì nhu cầu vốn tín
dụng cũng không ngừng tăng lên. Vì thế, bảo lãnh ngân hàng càng có ý nghĩa quan
trọng, nó đã đáp ứng đợc kịp thời các yêu cầu phát triển và mở rộng sản xuất kinh
doanh, đồng thời cũng làm giảm bớt sự căng thẳng về vốn cho khách hàng.
Thứ ba, bảo lãnh ngân hàng có chức năng đôn đốc việc thực hiện hợp đồng.
Trong bảo lãnh ngân hàng, ngời đợc bảo lãnh phải trả khoản tiền đã đợc đảm
bảo trong bất kỳ trờng hợp nào có tổn thất xảy ra. Nếu anh ta vi phạm hợp đồng đã
đợc cam kết với ngời thụ hởng bảo lãnh thì chính anh ta phải chi trả khoản thiệt hại
cho ngân hàng sau khi ngân hàng đã thanh toán cho ngời thụ hởng. Nh vậy, ngời đ-
ợc bảo lãnh luôn phải có ý thức cao trong việc hoàn thành nghĩa vụ của mình để
tránh trờng hợp có thể gây tổn hại đến những cam kết trong hợp đồng.
Ngân hàng bảo lãnh cũng phải chịu áp lực của việc phải thanh toán thay nếu nh
ngời đợc bảo lãnh không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của họ. Mặc dù sẽ nhận đợc
5
một khoản tiền bồi hoàn từ việc ngời đợc bảo lãnh vi phạm hợp đồng nhng ngân

6
Bảo lãnh độc lập đem lại nhiều thuận lợi cho ngân hàng bảo lãnh và ngời thụ h-
ởng, vì vậy nó đang đợc sử dụng phổ biến hiện nay trong thơng mại quốc tế.
1.1.2.2. Phân loại theo ph ơng thức phát hành bảo lãnh.
Bảo lãnh trực tiếp (Direct Guarantee).
Bảo lãnh trực tiếp là loại bảo lãnh trong đó ngân hàng chịu trách nhiệm bảo lãnh
sẽ tiến hành phát hành bảo lãnh trực tiếp theo yêu cầu của ngời đợc bảo lãnh mà
không thông qua trung gian nào. Ngân hàng có thể trực tiếp truy đòi ngời đợc bảo
lãnh số tiền đã bồi thờng cho ngời thụ hởng trong trờng hợp ngời đợc bảo lãnh
không hoàn thành nghĩa vụ của mình.
Khi ngời thụ hởng là ngời nớc ngoài, ngân hàng phục vụ ngời đợc bảo lãnh sẽ
thông qua quan hệ đại lý của mình với một ngân hàng tại nớc ngời thụ hởng để yêu
cầu ngân hàng này chuyển th bảo lãnh đến ngời thụ hởng.
Loại bảo lãnh này chịu sự chi phối bởi luật pháp đợc áp dụng ở nớc của ngời đ-
ợc bảo lãnh. Và ngân hàng phát hành bảo lãnh có thể trực tiếp thanh toán cho ngời
thụ hởng mà không cần có sự hoàn trả th bảo lãnh gốc. Do đó nếu ngời thụ hởng
thiếu kinh nghiệm trong thanh toán quốc tế, thiếu hiểu biết về pháp luật nớc ngân
hàng phát hành thì sẽ gặp rất nhiều bất lợi, nhất là khi xảy ra tranh chấp.
Vai trò của ngân hàng thông báo là kiểm tra tính chân thực của bảo lãnh khi
nhận đợc bảo lãnh từ ngân hàng phát hành, sau đó thông báo và chuyển nội dung
th bảo lãnh (bằng telex, swift) cho ngời thụ hởng. Sự xuất hiện của ngân hàng
thông báo không làm ảnh hởng đến quan hệ cũng nh nghĩa vụ giữa ngời đợc bảo
lãnh, ngời thụ hởng bảo lãnh và ngân hàng phát hành. Ngân hàng phát hành vẫn
phải thanh toán cho ngời thụ hởng khi phát sinh rủi ro và yêu cầu bồi hoàn thanh
toán từ ngời đợc bảo lãnh.
Hình 1: Sơ đồ bảo lãnh trực tiếp.
3

7
Ngân hàng

8
Người được
bảo lãnh
Người thụ hư
ởng bảo lãnh
bảo lãnh thì ngân hàng phát hành cũng có thể yêu cầu ngân hàng đại lý của mình ở
nớc ngời thụ hởng thông báo và chuyển văn bản bảo lãnh cho ngời thụ hởng nh bảo
lãnh trực tiếp.
Bảo lãnh đối ứng chỉ là một công cụ trung gian giữa ngời bảo lãnh và ngời đợc
bảo lãnh. Thời hạn hiệu lực của bảo lãnh đối ứng là thời hạn mà ngân hàng phát
hành phải xuất trình yêu cầu thanh toán đến ngân hàng chỉ thị. Thời gian đó cho
phép ngân hàng phát hành có đủ thời gian xử lý và gửi chứng từ xuất trình đến ngân
hàng chỉ thị đòi thanh toán bảo lãnh đối ứng, sau khi đã thanh toán cho bảo lãnh
chính. Nh vậy, ngân hàng phát hành chỉ có thể đòi tiền ngân hàng chỉ thị tối đa
bằng số tiền bảo lãnh mà ngân hàng phát hành đã thanh toán cho ngời thụ hởng.
Hình 2: Sơ đồ bảo lãnh gián tiếp.
4
3
4 4
2
1
Ghi chú :
(1) Hợp đồng cơ sở đợc ký kết giữa ngời thụ hởng bảo lãnh và ngời đợc bảo
lãnh.
(2) Ngời đợc bảo lãnh yêu cầu ngân hàng phục vụ mình chỉ thị cho ngân hàng
phát hành phát hành bảo lãnh.
(3) Ngân hàng chỉ thị chỉ thị cho ngân hàng phát hành tiến hành phát hành
bảo lãnh cho ngời thụ hởng, đồng thời cam kết bồi hoàn dựa trên bảo lãnh
đối ứng.
(4) Ngân hàng phát hành trực tiếp phát hành bảo lãnh cho ngời thụ hởng.

2 4
4
1
10
nh 1
NH 2
nh 3
ngân hàng
phát hành
ngân hàng
thông báo
người được
bảo lãnh
người thụ hư
ởng bảo lãnh
Ghi chú :
(1) Hợp đồng cơ sở đợc ký kết giữa ngời thụ hởng bảo lãnh và ngời đợc bảo
lãnh.
(2) Ngời đợc bảo lãnh yêu cầu ngân hàng phát hành bảo lãnh.
(3) Ngân hàng phát hành bảo lãnh yêu cầu các ngân hàng khác cùng tham gia
đồng bảo lãnh với mình thông qua các bảo lãnh đối ứng.
(4) Ngân hàng phát hành phát hành trực tiếp văn bản bảo lãnh cho ngời thụ h-
ởng.
(4) Trong trờng hợp ngời thụ hởng không cùng nớc với ngân hàng phát hành
thì ngân hàng phát hành sẽ phát hành văn bản bảo lãnh cho ngời thụ hởng
thông qua ngân hàng thông báo.
Ngoài ra, theo cách phân loại này, bảo lãnh ngân hàng còn có một số loại bảo
lãnh khác nh: bảo lãnh giáp lng, bảo lãnh xác nhận, Đây là những loại bảo lãnh
đợc sử dụng thờng xuyên trong các quan hệ quốc tế.
1.1.2.3. Phân loại theo mục đích của bảo lãnh.

khoản tiền này cho bên bán hàng.
Mục đích của th bảo lãnh ứng hoàn thanh toán rộng hơn th bảo lãnh thực hiện
hợp đồng. Lý do là việc trả tiền theo th bảo lãnh hoàn thanh toán đợc xem nh là
việc trả lại số tiền ngời mua đã ứng trớc cho nhà cung cấp, mà số tiền này đã tham
gia vào việc thực hiện hợp đồng và nó xem nh một khoản vay. Trong khi đó th bảo
lãnh thực hiện hợp đồng lại đảm bảo đền bù cho những tổn thất do việc vi phạm
hợp đồng. Th bảo lãnh hoàn thanh toán cũng có thể bị hết hiệu lực khi hợp đồng bị
hai bên thoả thuận huỷ bỏ hay hợp đồng không đợc thực hiện với lý do khách quan.
Bảo lãnh vay nợ là một dạng bảo lãnh hoàn thanh toán, nó đợc sử dụng khá phổ
biến ở trong và ngoài nớc.
Bảo lãnh dự thầu (Tender Guarantee - Bid Bond).
Đấu thầu là hoạt động rất phổ biến trên thế giới, nó đợc áp dụng trong mọi lĩnh
vực: thơng mại, du lịch, đặc biệt là đối với hợp đồng xây dựng những công trình
lớn, khu vực công cộng Qua đấu thầu, chủ công trình sẽ tìm đ ợc đối tác có đủ
điều kiện tối u nhất để ký hợp đồng, tránh rủi ro trong quá trình đấu thầu. Do đó,
điều kiện của quy chế dự thầu là ngời dự thầu phải cung cấp một bảo lãnh dự thầu
12
do ngân hàng có uy tín phát hành để đảm bảo rằng ngời dự thầu không bỏ dở thầu,
không thay đổi hồ sơ dự thầu trong thời gian đấu thầu và đặc biệt là phải ký hợp
đồng sau khi trúng thầu.
Bảo lãnh dự thầu thờng có giá trị từ 1 đến 5% giá trị hợp đồng với điều kiện
thanh toán theo yêu cầu. Đây thực chất là phơng tiện thay thế cho việc ký quỹ của
ngời tham gia dự thầu. Vì vậy, nó giúp cho ngời dự thầu không phải chi một khoản
tiền nhất định khi dự thầu, đồng thời ngời chủ công trình có những khoản tiền bồi
thờng thoả đáng khi ngời dự thầu vi phạm cam kết dự thầu. Thời hạn của bảo lãnh
tơng đơng với thời gian trúng thầu, trờng hợp ngời dự thầu không trúng thầu thì bảo
lãnh dự thầu cũng tự động hết hiệu lực.
Bảo lãnh trả chậm (Deferred Payment Guarantee).
Bảo lãnh trả chậm (còn đợc gọi là bảo lãnh thanh toán) là một bảo lãnh do ngân
hàng phát hành cho bên bán về việc đảm bảo nghĩa vụ hoàn trả tiền hàng của khách

Không giống nh bảo lãnh theo yêu cầu, bảo lãnh kèm chứng từ là một loại bảo
lãnh mà điều kiện thanh toán là phải có chứng từ xác nhận của một bên thứ ba, một
bên độc lập có đủ khả năng chuyên môn để xác nhận. Nh vậy, ngoài yêu cầu thanh
toán, ngời thụ hởng còn phải xuất trình cho ngân hàng các chứng từ xác nhận hành
vi vi phạm hợp đồng của ngời đợc bảo lãnh. Bảo lãnh kèm chứng từ đã bảo vệ đợc
quyền lợi cho ngời đợc bảo lãnh nhng quyền của ngời thụ hởng vì thế cũng bị giảm
đi. Và một trong những nhợc điểm của bảo lãnh kèm chứng từ là kéo dài thời gian
thanh toán cho ngời thụ hởng. Ngời thụ hởng sẽ không nhận đợc tiền ngay khi có
biến cố vi phạm của ngời đợc bảo lãnh mà còn phải đợi cho đến khi bên thứ ba xác
nhận và ngân hàng phát hành kiểm tra xong chứng từ.
Bảo lãnh kèm phán quyết của trọng tài hoặc toà án.
Loại bảo lãnh này có điều kiện thanh toán là ngời thụ hởng phải cung cấp cho
ngân hàng một phán quyết của trọng tài hoặc toà án để khẳng định việc vi phạm
hợp đồng của ngời đợc bảo lãnh và trách nhiệm phải bồi hoàn thiệt hại cho ngời thụ
hởng. Tuy nhiên, do tính phức tạp và chậm trễ của mình mà loại bảo lãnh này rất ít
đợc sử dụng trong thực tế.
1.1.2.5. Các loại bảo lãnh khác.
Bảo lãnh vận đơn (Bill of Lading Guarantee).
14
Loại bảo lãnh này đợc lập ra nhằm bảo vệ những ngời có quyền chính đáng trớc
sự lợi dụng vận đơn. Nó thờng có giá trị từ 100 - 150% giá trị hàng hoá để có thể
bù đắp những thiệt hại phát sinh. Hình thức bảo lãnh này có hai loại:
- Ngời xuất khẩu là ngời đề nghị phát hành: ngân hàng cam kết với ngời nhập
khẩu bồi thờng thiệt hại phát sinh đối với ngời này do việc vận đơn gốc không đợc
xuất trình hoặc xuất trình không kịp thời.
- Ngời nhập khẩu là ngời đề nghị phát hành: ngân hàng cam kết với chủ vận tải
sẽ bồi thờng mọi thiệt hại nếu hàng hoá đợc giao không có chứng từ cho một ngời
không có quyền nhận hàng, do chứng từ thất lạc hoặc đến chậm hơn tầu, hay do
chủ hãng vận tải uỷ nhiệm nhận hàng không có chứng từ để sử dụng.
Th tín dụng dự phòng (Stand by Letter of credit).

hạn trả tiền mà ngời đợc bảo lãnh không thực hiện các trách nhiệm về mặt tài chính
của mình nh đã quy định. Về hình thức, loại bảo lãnh này phải ghi rõ nội dung và
kèm chữ ký của bên đại diện đứng ra bảo lãnh. Ngân hàng chịu trách nhiệm nh
trách nhiệm của ngời đợc bảo lãnh đối với bên thụ hởng, trừ khi ngân hàng đã quy
định trên hối phiếu.
Bảo lãnh sai xót chứng từ nhờ thu (Discrepancy Guarantee).
Trong trờng hợp này, theo đề nghị của nhà xuất khẩu, ngân hàng cam kết với
ngời nhập khẩu là sẽ bù đắp cho họ những thiệt hại phát sinh trong khuôn khổ ph-
ơng thức thanh toán nhờ thu. Đó là do việc những giấy tờ, chứng từ xuất trình
không phù hợp hoàn toàn với những điều khoản của hợp đồng mua bán hoặc số l-
ợng chứng từ thiếu không đợc bổ sung.
Bảo lãnh phát hành chứng khoán (Underwriting Guarantee).
Khi một công ty cha có uy tín, tiếng tăm muốn phát hành cổ phiếu để huy động
vốn trên thị trờng thì cổ phiếu của công ty đó khó có thể đợc ngời mua chấp nhận.
Do vậy công ty sẽ nhờ một ngân hàng có uy tín đứng ra bảo lãnh cho số cổ phiếu
mà họ phát hành ra. Về phía ngân hàng, trớc khi quyết định bảo lãnh cho công ty,
ngân hàng cũng phải căn cứ vào mục đích của đợt phát hành, khả năng tài chính,
hiệu quả sử dụng vốn hay quan hệ của công ty với ngân hàng để quyết định.
Khi cổ phiếu của một công ty đợc ngân hàng đứng ra bảo lãnh thì các nhà đầu t
trên thị trờng sẽ yên tâm và dễ dàng chấp thuận đầu t vào cổ phiếu của công ty.
1.1.3. Vai trò của bảo lãnh ngân hàng.
16
Từ khi ra đời vào giữa những năm 60 của thế kỷ XX, vị trí, vai trò của bảo lãnh
ngân hàng ngày càng đợc củng cố một cách vững chắc. Bảo lãnh ngân hàng không
còn chỉ bó hẹp trong quan hệ thơng mại hay lĩnh vực tài chính nh trớc kia mà nó
còn đợc sử dụng rộng rãi trong các quan hệ phi thơng mại và lĩnh vực phi tài chính,
khi hai bên còn cha tín nhiệm lẫn nhau, uy tín và lời hứa của bên này cha đủ độ tin
cậy đối với bên kia. Chúng ta có thể chắc chắn rằng hiện nay những phi vụ lớn, đặc
biệt là có yếu tố liên quan đến nớc ngoài, khi các bên cha thật sự tín nhiệm lẫn
nhau thì không thể thiếu một hình thức bảo lãnh của ngân hàng đi kèm.

của bản thân mình. Nh vậy, ngân hàng không phải trả chi phí huy động vốn để tiến
hành bảo lãnh. Thậm chí, do luật pháp quy định, khách hàng muốn đợc bảo lãnh thì
phải ký quỹ bảo lãnh. Khoản ký quỹ này đợc gửi vào tài khoản phong toả tại ngân
hàng bảo lãnh trong suốt thời gian bảo lãnh. Cho nên đối với ngân hàng đây là
nguồn vốn khá ổn định, ngân hàng có thể sử dụng tuỳ theo mục đích của mình mà
không phải trả lãi.
Bảo lãnh còn làm đa dạng hoá hoạt động cung cấp sản phẩm, dịch vụ của ngân
hàng giúp ngân hàng có thể giảm đợc rủi ro trong quá trình hoạt động kinh doanh.
Ngày nay xu hớng tăng tỷ trọng nguồn thu từ dịch vụ đang là xu thế chung của các
ngân hàng hiện đại. Hoạt động bảo lãnh có tác dụng gián tiếp thúc đẩy các hoạt
động kinh doanh khác của ngân hàng thông qua việc góp phần nâng cao uy tín và
tăng cờng quan hệ của ngân hàng đặc biệt là trên trờng quốc tế.
1.1.3.3. Đối với nền kinh tế.
Với những chức năng của mình, bảo lãnh ngân hàng có vai trò rất quan trọng
đối với nền kinh tế của mỗi quốc gia.
Hoạt động bảo lãnh của ngân hàng thơng mại có vai trò nh một chất xúc tác tạo
điều kiện thúc đẩy sản xuất và là công cụ tài trợ cho các ngành kinh tế mũi nhọn
phát triển. Nhờ có bảo lãnh mà các bên có thể yên tâm tham gia ký kết hợp đồng và
có trách nhiệm với các nghĩa vụ đã cam kết. Nh vậy, bảo lãnh đã đem lại lợi ích
cho tất cả các bên, nhng điều quan trọng là nó đem lại lợi ích to lớn cho sự phát
triển chung của nền kinh tế. Ngợc lại, việc hạn chế cấp bảo lãnh của ngân hàng cho
các ngành, lĩnh vực kinh tế không đợc khuyến khích phát triển đã tác động góp
phần làm cân đối lại cơ cấu nền kinh tế.
18
Đối với những nớc nh Việt Nam hiện nay, trong quá trình từng bớc tiến hành
công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nớc, nguồn vốn đóng vai trò quan trọng trong
việc phát triển nền kinh tế đất nớc. Và bảo lãnh cũng góp phần không nhỏ trong
việc giúp doanh nghiệp thu hút vốn cho sản xuất kinh doanh, đặc biệt là những
nguồn vốn rẻ với thời hạn ổn định, lãi suất thấp từ trong và ngoài nớc. Tuy nhiên,
doanh nghiệp muốn vay đợc vốn thông qua bảo lãnh thì phải tính toán đến các yếu

chính, báo cáo kết quả kinh doanh, báo cáo luân chuyển tiền tệ )
- Các tài liệu liên quan đến giao dịch đợc yêu cầu bảo lãnh nh hợp đồng thơng
mại, dịch vụ giữa các bên, phơng án sản xuất kinh doanh, giấy phép xuất nhập
khẩu
- Các tài liệu liên quan đến việc đảm bảo cho phát hành bảo lãnh nh giấy tờ
thế chấp, cầm cố tài sản, bảo lãnh của bên thứ ba
Ngân hàng sau khi tiếp nhận hồ sơ bảo lãnh của khách hàng phải có trách
nhiệm kiểm tra sơ bộ số lợng các loại tài liệu, giấy tờ xem có đầy đủ không và yêu
cầu khách hàng hoàn chỉnh, bổ sung hồ sơ nếu phát hiện thấy sai sót.
B ớc 2 :
Phân tích thẩm định khách hàng và phơng án kinh doanh.
Đây là một công việc rất quan trọng vì nó có ảnh hởng lớn đến hiệu quả hoạt
động bảo lãnh của ngân hàng. Việc thẩm định đợc thực hiện tốt sẽ giúp cho ngân
hàng loại trừ đợc những khách hàng không đủ điều kiện bảo lãnh đồng thời có thể
tránh đợc những rủi ro phát sinh từ phía khách hàng khi đã thực hiện bảo lãnh.
Từ các tài liệu trên cùng với những thông tin bổ sung từ các nguồn khác (phỏng
vấn trực tiếp khách hàng, từ sách báo tạp chí, các ngân hàng đã giao dịch với khách
hàng hoặc từ trung tâm thông tin tín dụng ) sẽ giúp cho ngân hàng thực hiện việc
phân tích, đánh giá khách hàng đợc chính xác để có quyết định hợp lý.
Quá trình thẩm định chủ yếu nhằm để định lợng rủi ro về phía khách hàng, qua
đó nếu ngân hàng thấy có thể chấp nhận rủi ro thì tiến hành bảo lãnh cho khách
hàng và ngợc lại nếu thấy không thể chấp nhận đợc rủi ro thì từ chối bảo lãnh.
B ớc 3 :
Soạn thảo và phát hành văn bản bảo lãnh.
Soạn thảo văn bản bảo lãnh.
Việc soạn thảo văn bản bảo lãnh đợc xuất phát từ hợp đồng cơ sở, hợp đồng gốc
giữa ngời đợc bảo lãnh và ngời thụ hởng. Ngân hàng phải nghiên cứu hợp đồng cơ
sở một cách kỹ lỡng, cẩn thận vì chỉ khi nhận dạng đợc hợp đồng thì soạn thảo mới
đợc chính xác, tránh trờng hợp bản chất của giao dịch không trùng với mục đích
20

sau khi quan hệ hợp đồng giữa hai bên đã đợc thiết lập. Họ có quyền yêu cầu ngân
hàng bảo lãnh đứng ra thanh toán khi đã chứng minh đợc đối tác của mình không
hoàn tất đợc hợp đồng.
Mục đích của bảo lãnh.
Đây là yếu tố mà các bên quan tâm nhất khi tham gia vào bảo lãnh ngân hàng.
Mục đích của bảo lãnh đợc quyết định bởi bản chất giao dịch của hợp đồng gốc. Vì
thế mà mỗi loại bảo lãnh khác nhau có mục đích khác nhau, thông thờng mục đích
của bảo lãnh luôn đợc thống nhất với tên gọi của nó.
Số tiền đợc bảo lãnh.
Đây là số tiền mà ngân hàng sẽ tiến hành thanh toán cho ngời thụ hởng khi xảy
ra sự vi phạm của ngời đợc bảo lãnh. Số tiền này thờng đợc xác định dựa trên giá trị
của hợp đồng gốc và đợc ghi theo số tuyệt đối để tránh trờng hợp tranh chấp có thể
xảy ra. Tuy nhiên trong trờng hợp ngời đợc bảo lãnh cha hoàn thành hết nghĩa vụ
của mình thì văn bản bảo lãnh nên quy định thêm điều khoản giảm giá trị bảo lãnh.
Khi đó số tiền ngân hàng trả cho ngời thụ hởng sẽ tuỳ thuộc vào mức độ hoàn
thành nghĩa vụ cam kết trong hợp đồng của ngời đợc bảo lãnh.
Các điều kiện thanh toán của bảo lãnh.
Ngân hàng sẽ chỉ tiến hành thanh toán cho ngời thụ hởng khi các điều kiện
thanh toán đợc thoả mãn. Vì vậy, ngời thụ hởng muốn đợc thanh toán thì phải xuất
trình những chứng từ cần thiết cho ngân hàng. Những chứng từ này phải thể hiện đ-
ợc sự thoả thuận giữa ngời thụ hởng bảo lãnh và ngời đợc bảo lãnh trong hợp đồng
chính. Ngân hàng phải có trách nhiệm kiểm tra kỹ lỡng các chứng từ trớc khi thanh
toán để tránh trờng hợp ngời thụ hởng xuất trình những chứng từ giả mạo để mong
nhận đợc tiền bảo lãnh từ ngân hàng.
Thời hạn hiệu lực của bảo lãnh.
Đây là khoảng thời gian mà ngân hàng phải có trách nhiệm thực hiện cam kết
bảo lãnh khi các điều kiện thanh toán đợc thoả mãn. Thời gian hiệu lực của bảo
lãnh phụ thuộc chủ yếu vào thời gian có hiệu lực của hợp đồng gốc. Tuy nhiên
trong một số trờng hợp, thời gian hiệu lực của bảo lãnh có thể ngay lập tức đợc
22

23
- Thời gian bảo lãnh là thời gian ngân hàng chịu trách nhiệm bảo
lãnh về số d bảo lãnh và có trách nhiệm thanh toán theo bảo lãnh
đã cấp.
Quản lý khoản ký quỹ của khách hàng.
Mức ký quỹ bảo lãnh là khoản tiền mà ngời đợc bảo lãnh phải ký gửi vào tài
khoản của mình tại ngân hàng để đảm bảo khả năng bồi hoàn cho ngân hàng khi
ngân hàng đã thanh toán cho ngời thụ hởng. Mức ký quỹ đợc tính theo tỷ lệ % trên
số tiền đợc bảo lãnh. Tuỳ theo uy tín của từng khách hàng mà mức ký quỹ có thể
khác nhau, có những khách hàng không phải tham gia ký quỹ và cũng có những
khách hàng bắt buộc phải tham gia ký quỹ 100% khi đợc ngân hàng bảo lãnh.
Tiến hành thủ tục nhận bảo đảm.
Việc tiếp nhận và quản lý tài sản thế chấp, cầm cố hay chứng nhận uy tín của
bên bảo lãnh thứ ba trong hoạt động bảo lãnh đ ợc tuân thủ theo đúng các quy
định hiện hành về quản lý tài sản đảm bảo của khách hàng trong nghiệp vụ cho vay
của NHTM.
Ghi giá trị bảo lãnh vào sổ theo dõi.
Cán bộ tín dụng thông báo và cung cấp các chứng từ chứng minh việc phát sinh
nghĩa vụ bảo lãnh nh hợp đồng bảo lãnh cho kế toán để nhập ngoại bảng số d bảo
lãnh và tiến hành trích quỹ bảo lãnh của ngân hàng.
B ớc 4 :
Xử lý các tình huống phát sinh đến giao dịch bảo lãnh.
Cán bộ tín dụng phải bám sát diễn biến giao dịch bảo lãnh để có thể xử lý linh
hoạt các tình huống phát sinh trong thời gian bảo lãnh.
Trong trờng hợp rủi ro dẫn đến ngân hàng phải trả thay khách hàng thì khoản trả
thay đợc xử lý nh sau:
- Khi chi nhánh và khách hàng đã tìm mọi biện pháp có thể mà khách hàng vẫn
cha thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đợc bảo lãnh, ngân hàng sẽ tiến hành cho vay bắt
buộc với khách hàng để thanh toán cho ngời thụ hởng. Số tiền cho vay này đợc lấy
từ quỹ bảo lãnh của ngân hàng.

lãnh, đồng thời thông báo cho kế toán hạch toán lại số d bảo lãnh và quỹ bảo lãnh.
Giải toả các tài sản đảm bảo: ngân hàng tiến hành bàn giao lại tài sản đảm
bảo cho ngời đợc bảo lãnh.
Lu trữ hồ sơ bảo lãnh.
25

Trích đoạn Giải pháp về mặt quản lý. Giải pháp về mặt nghiệp vụ. Giải pháp về nguồn lực. Giải pháp đối với khách hàng và ngân hàng bạn. Kiến nghị với NHCT Việt Nam.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status