Hoàn thiện pháp luật về công bố thông tin trên thị trường chứng khoán việt nam - Pdf 48

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

VŨ LAN PHƯƠNG

HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN
TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60 38 01 07

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Thị Ánh Vân

HÀ NỘI - 2013


LỜI CÁM ƠN

Trước hết, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS. Nguyễn Thị Ánh
Van – giám đốc Trung tâm Luật So sánh – người hướng dẫn cho em hoàn
thành luận văn này. Em xin cảm ơn cô vì những kiến thức và sự tận tụy của
cô trong quá trình em nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Xin gửi lời cảm ơn đến toàn thể thầy cô giáo trong tổ bộ môn Luật Tài
chính ngân hàng, thầy cô trong khoa Pháp luật Kinh tế và Trường Đại học
Luật Hà Nội đã bồi dưỡng, giáo dục em trong suốt quá trình học tập tại trường
cũng như trong quá trình hoàn thành luận văn.

CMKT

Chuẩn mực kế toán


MỤC LỤC

Mở đầu

4

Chương 1: Khái quát về công bố thông tin và pháp luật CBTT trên thị

8

trường chứng khoán
1.1.

Một số vấn đề lý luận vê CBTT trên TTCK

8

1.2.

Khái quát về pháp luật công bố thông tin trên TTCK

12

Chương 2: Thực trạng pháp luật về công bố thông tin trên thị trường


Danh mục tài liệu tham khảo

63


4

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trên TTCK, thông tin đóng vai trò hết sức quan trọng xuất phát từ nét
đặc thù của loại thị trường này cũng như của những loại hàng hoá được trao
đổi, mua bán trên thị trường. Thông tin quan trọng vì thiếu thông tin, người
mua hàng tức nhà đầu tư trên TTCK không thể phân biệt được hàng tốt với
hàng xấu, hàng sẽ đem lại nhiều lợi nhuận cho nhà đầu tư với những mặt hàng
có nguy cơ làm nhà đầu tư phá sản… Nói cách khác, nhà đầu tư không thể ra
các quyết định đầu tư một cách hiệu quả nếu thiếu thông tin về từng mặt hàng
(từng loại cổ phiếu, trái phiếu) có trên thị trường. Vì lẽ đó, ở tất cả các nước
có TTCK, Luật chứng khoán đều có những quy định về nghĩa vụ công bố
thông tin trên TTCK của một số chủ thể tham gia thị trường nhằm đảm bảo
cung cấp thông tin nhanh chóng, kịp thời , chính xác, đầy đủ và công bằng
cho các nhà đầu tư, từ đó giúp các nhà đầu tư có quyết định đầu tư đúng đắn
So với các nước trong khu vực và trên thế giới, TTCK nước ta còn non
trẻ, ẩn chứa nhiều nguy cơ rủi ro do chịu sự tác động rất lớn của tình trạng
thông tin thông tin không đầy đủ, khó tiếp cận thông tin, rò rỉ thông tin, mua
bán chứng khoán sử dụng thông tin nội gián... Những thăng trầm, biến đổi của
TTCK Việt Nam một phần do tác động của tình trạng thông tin thất thường
trên TTCK. Nhận thức được điều đó, gần đây, các nhà làm luật ở nước ta
cũng đã quan tâm, xây dựng một hệ thống các quy định pháp luật điều chỉnh
hoạt động CBTT trên TTCK để bảo đảm TTCK vận hành một cách minh
bạch, an toàn và hiệu quả. Tuy nhiên, do pháp luật chứng khoán Việt Nam

hoàn thiện pháp luật vẫn là điều hết sức cần thiết.
3. Mục đích và phạm vi nghiên cứu
Là luận văn chuyên nghành luật học, Luận văn tập trung phân tích, đánh
giá, bình luận về các quy định pháp luật hiện hành về công bố thông tin trên
TTCK trong mối tương quan với quá trình xây dựng và hoàn thiện TTCK trong
điều kiện hội nhập quốc tế, nhất là các cam kết về mở cửa thị trường dịch vụ
chứng khoán, thì các quy định pháp luật hiện hành về CBTT cần phải hoàn thiện
như thế nào. Để làm được điều này, luận văn tập trung vào các vấn đề sau đây:
- Nghiên cứu, xây dựng hệ thống các vấn đề lý luận về công bố thông tin
trên TTCK,


6
- Phân tích các nhân tố tác động tới hoạt động CBTT trên TTCK; các yêu
cầu pháp luật về CBTT trên TTCK Việt Nam.
- Từ những vấn đề lý luận trên, luận văn phân tích thực trạng pháp luật về
CBTT trên TTCK Việt Nam, chỉ ra những điểm bất cập, hạn chế của các quy định
hiện hành làm cơ sở cho việc đề xuất hoàn thiện pháp luật về CBTT trên TTCK
Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
4. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp phân tích, so sánh luật học, tổng hợp từ
đó rút ra các đặc điểm, quy luật về thông tin và CBTT trên TTCK Việt Nam, nhận
diện những bất cập trong các quy định pháp luật về CBTT và đề xuất một số quan
điểm nhằm hoàn thiện pháp luật về CBTT trên TTCK Việt Nam. Ngoài các
phương pháp trên, luận văn còn sử dụng phương pháp điều tra xã hội học để lấy ý
kiến từ các nhà đầu tư cũng như từ các cơ quan nhà nước có thẩm quyền về thực
trạng pháp luật về CBTT trên TTCK Việt Nam
5. Nội dung nghiên cứu chính của đề tài
Luận văn nghiên cứu về phương diện lý luận hoạt động công bố thông tin
trên TTCK Việt Nam; chỉ ra sự cần thiết phải điều chỉnh bằng pháp luật đối với

cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc sửa đổi, bổ sung các quy định
hiện hành về CBTT trên TTCK Việt Nam nhằm góp phần đạt được một cách hiệu
quả nhất mục tiêu quản lý TTCK ở Việt Nam.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
được kết cấu làm ba chương sau:
Chương 1. Một số vấn đề lý luận về công bố thông tin và pháp luật về công
bố thông tin trên thị trường chứng khoán
Chương 2. Thực trạng pháp luật về công bố thông tin trên thị trường chứng
khoán Việt Nam
Chương 3. Hoàn thiện pháp luật về công bố thông tin trên thị trường chứng
khoán Việt Nam.


8
CHƯƠNG 1
KHÁI QUÁT VỀ CBTT VÀ PHÁP LUẬT CBTT TRÊN TTCK
1.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CBTT TRÊN TTCK
1.1.1 Công bố thông tin trên thị trường chứng khoán: khái niệm và
đặc điểm
a) Khái nhiệm công bố thông tin trên thị trường chứng khoán
Để thông tin đến được nhà đầu tư trên TTCK không thể không có hoạt
động công bố thông tin. CBTT là hoạt động thường xuyên của các chủ thể có
nghĩa vụ CBTT trên TTCK. CBTT không chỉ có ý nghĩa đối với nhà đầu tư
mà còn có ý nghĩa đối với bản thân tổ chức phát hành và với cơ quan quản lý
nhà nước. Bởi chứng khoán là loại hàng hóa ảo, người mua tức nhà đầu tư
không thể biết được giá trị của chứng khoán bằng cách quan sát loại hàng hóa
này giống như khi mua các loại hàng hóa thông thường. Giá trị của chứng
khoán thực chất nằm ở giá trị của công ty phát hành ra chứng khoán đó, tức
phụ thuộc vào tình hình sản xuất, kinh doanh của chủ thể phát hành. Để nhà

mục I Thông tư 52/2012). Thông qua việc CBTT, các nhà đầu tư thấy được
diễn biến hoạt động của công ty trong thời gian dài, từ đó họ có thể dễ dàng
đưa ra nhận định về xu hướng phát triển của công ty trong thời gian tới. Là
đầu mối tập trung hệ thống thông tin, UBCKNN là cơ quan quản lý nhà nước
trong lĩnh vực chứng khoán và TTCK, cùng với hệ thống chuyên gia giỏi, có
kinh nghiệm lại hoàn toàn khách quan và công tâm trong việc phân tích đánh
giá hệ thống thông tin thị trường từ đó đưa ra các khuyến cáo đối với thị
trường. Chỉ khi việc CBTT được tiến hành thường xuyên, tính minh bạch,
công khai của TTCK mới được bảo đảm. Điều này càng có ý nghĩa hơn đối
với thị trường mới nổi như TTCK Việt Nam.
Hai là, CBTT trên TTCK gắn liền với diễn biến hoạt động của tổ chức
phát hành và của thị trường. Đây là yếu tố sống còn để thị trường hoạt động
có hiệu quả và phát huy được hiệu lực của hoạt động giám sát theo cơ chế thị
trường đối với công ty.
Ba là, CBTT gắn liền với thẩm quyền của các chủ thể nhất định. Công
ty là một thực thể nhân tạo, nên tự nó không thể thực hiện được các hoạt động
mà phải thông qua người đại diện có thẩm quyền. Người đại diện có thẩm
quyền sẽ là người thay mặt cho công ty công bố các thông tin. Phạm vi quyền
được công bố những thông tin nhất định do pháp luật và Điều lệ công ty quy
định. Chỉ những thông tin của người có thẩm quyền công bố mới được coi là


10
nguồn thông tin chính thức của công ty và công ty chỉ phải chịu trách nhiệm
về các thông tin do người có thẩm quyền của mình công bố.
1.1.2. Các nhân tố tác động đến việc công bố thông tin trên thị
trường chứng khoán.
Cùng với việc phân tích các tiêu chí đánh giá chất lượng thông tin trên
TTCK, việc nhìn nhận và đánh giá các nhân tố tác động đến việc CBTT trên
TTCK sẽ góp phần nâng cao chất lượng thông tin được công bố trên thị

hành. Chỉ khi hoạt động CBTT được đặt dưới sự giám sát chặt chẽ của các cơ
quan quản lý nhà nước có thẩm quyền, của Sở GDCK cùng với hệ thống quy
định về CBTT chặt chẽ và hệ thống chế tài đủ mạnh thì chất lượng thông tin
được công bố mới được đảm bảo.
c) Thực tiễn hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty
Hoạt động sản xuất kinh doanh của các công ty có tác động rất lớn đến
hoạt động CBTT của chính bản thân các công ty này. Ngay cả khi công ty
thành công trong kinh doanh rất có thể công ty vẫn gian lận trong công bố
thông tin. Trường hợp gian lận của Coca Cola và Keangnam là những ví dụ
minh chứng hùng hồn cho nhận định trên… Nhưng nếu hoạt động của công ty
“có vấn đề” thì thậm chí công ty còn có nhiều động lực hơn trong gian lận
thông tin.
d) Hoạt động quản lý nguồn thông tin của Sở giao dịch chứng khoán
(SGDCK)
Cung cấp thông tin cho SGDCK là việc làm cần thiết trước khi các
công ty được niêm yết trên SGDCK. Điều này yêu cầu SGDCK phải có hệ
thống hạ tầng quản lý thông tin do các chủ thể cung cấp. Thông qua các thông
tin được các chủ thể cung cấp, SGDCK công bố công khai trên Website của
mình để cho công chúng đầu tư truy cập. Hoạt động quản lý nguồn thông tin
của SGCCK là cơ sở bảo đảm cho nguồn thông tin được thông suốt và đến
được với công chúng đầu tư. Sự phát triển của công nghệ thông tin yêu cầu
SGDCK phải có được đội ngũ cán bộ có năng lực, trình độ về công nghệ
thông tin, cũng như các kỹ năng nghiệp vụ cao để phục vụ tốt việc công bố
thông tin.
đ) Người có quyền công bố thông tin của công ty
Như đã phân tích ở trên, thông tin có ảnh hưởng tới giá chứng khoán
của công ty nếu không được chủ thể có thẩm quyền công bố thì thông tin đó
vẫn là “thông tin nội bộ”. Hoạt động CBTT của chủ thể có quyền công bố



1.2.1. Khái niệm và đặc điểm của pháp luật về công bố thông tin
trên thị trường chứng khoán


13
Pháp luật CBTT là tổng hợp các qui phạm do Nhà nước ban hành để
điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong hoạt động CBTT giữa các chủ thể
CBTT với các cơ quan nhà nước hoặc với các nhà đầu tư.
So với các quy định pháp luật về chứng khoán và TTCK, quy định
pháp luật về CBTT cũng có những đặc trưng riêng của nó. Bởi lẽ, hoạt động
CBTT là hoạt động được tiến hành thường xuyên bởi các chủ thể tham gia thị
trường, đồng thời, các quy định này cũng có tác động đến bộ máy hoạt động
của các công ty niêm yết. Một hệ thống pháp luật đầy đủ, phù hợp với những
đặc thù vốn có của nó sẽ có tác dụng rất lớn thúc đẩy TTCK phát triển. Theo
tôi, pháp luật về CBTT có những đặc trưn cơ bản sau đây:
Thứ nhất, pháp luật về CBTT có mối liên hệ mật thiết với các quy
định pháp luật khác, như pháp luật về kế toán, pháp luật về kiểm toán, pháp
luật về quản trị công ty... Nghiên cứu hệ thống quy định pháp luật về CBTT
cho thấy, để tiếp cận được với các thông tin của các chủ thể tham gia thị
trường, nhà quản lý cũng như các nhà đầu tư phải có những hiểu biết nhất
định về tài chính, kế toán, kiểm toán. Một báo cáo thường niên của các công
ty niêm yết dành phần lớn các quy định liên quan đến tài chính như báo cáo
về tình hình tài chính của công ty; báo cáo giải trình về báo cáo tài chính và
báo cáo kiểm toán; các thông tin về cổ đông, thành viên góp vốn.... Do đó, khi
xây dựng pháp luật về CBTT trên TTCK cần xem xét đến tính thống nhất, sự
phù hợp của pháp luật về CBTT với các quy định pháp luật về kế toán, kiểm
toán, pháp luật về quản trị công ty.
Thứ hai, pháp luật về CBTT trên TTCK là yếu tố quan trọng góp phần
tạo lập TTCK minh bạch và phát triển bền vững.
Thông qua hệ thống các quy phạm pháp luật về CBTT, nhà lập pháp

thể chỉ ra một số lý do cụ thể dẫn đến nhu cầu điều chỉnh bằng pháp luật đối
với hoạt động CBTT trên TTCK:
Một là, xuất phát từ giá trị của thông tin trong hoạt động đầu tư chứng
khoán. Thông tin trong hoạt động đầu tư chứng khoán đóng vai trò quan trọng
do đó, nếu hoạt động CBTT không được đặt trong khuôn khổ pháp luật thì
việc cắt xén thông tin xấu, thổi phồng thông tin tốt, làm nhiễu loạn thông tin,
tung tin đồn thất thiệt, bán thông tin nội bộ của công ty… sẽ dễ dàng xảy ra
nhằm trục lợi cho những đối tượng có liên quan.
Hai là, xuất phát từ nguy cơ lạm quyền của người quản lý công ty.
Người quản lý công ty chính là những người thay mặt các cổ đông để triển


15
khai chiến lược kinh doanh và trực tiếp thực hiện hoạt động kinh doanh. Khi
đó, người quản lý công ty có thể lạm dụng vị trí của mình để thực hiện các
giao dịch ảnh hưởng đến quyền lợi của các cổ đông. Các biểu hiện của việc
làm quyền trong quản lý công ty là: Không tuân thủ các quy tắc đạo đức của
người quản lý; dẫn dắt công ty xa rời mục tiêu hoạt động của công ty; thông
đồng với cổ đông trong Hội đồng quản trị để trục lợi; không thường xuyên
báo cáo công tác cho Ban kiểm soát công ty; cố tình che giấu thông tin để trục
lợi hoặc tiếp tay cho các giao dịch nội gián... Sự lạm quyền của người quản lý
sẽ được hạn chế tối đa thông qua việc tuân thủ đầy đủ các quy định về CBTT,
cụ thể hóa những việc mà người quản lý công ty được làm, những trường hợp
phải xin ý kiến Đại hội đồng cổ đông...
Ba là, xuất phát từ yêu cầu bảo vệ quyền lợi của cổ đông công ty. Cổ
đông là những người chủ đích thực của công ty nhưng lại không thể trực tiếp
điều hành hoạt động kinh doanh của công ty mà phó thác hoạt động này cho
những người quản lý công ty. Để thực hiện việc giám sát đối với hoạt động
của công ty, cũng như hoạt động của người quản lý công ty, các cổ đông phải
dựa vào thông tin trong báo cáo tài chính, báo cáo kết quả hoạt động sản xuất

trì một TTCK minh bạch. Mục tiêu này chỉ có thể đạt được khi các chủ thể
tham gia thị trường tự giác công bố những thông tin cần thiết cho công chúng
đầu tư. Tuy nhiên đòi hỏi sự tự giác của các chủ thể là điều hết sức viển vông,
thậm chí ở những nước phát triển, với TTCK hàng vài trăm năm tuổi. Vì vậy
cần có sự điều chỉnh của pháp luật để buộc các chủ thể phải tuân thủ nghĩa vụ
CBTT.
1.2.3. Các yêu cầu đối với pháp luật về công bố thông tin trên thị
trường chứng khoán
Một là, pháp luật về CBTT trên TTCK phải bảo đảm tính thống nhất
của hệ thống pháp luật. Tính hệ thống được hiểu là tính thống nhất giữa các
văn bản pháp luật về cả hình thức, nội dung và thẩm quyền ban hành văn bản
quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Tính thống
nhất trong hệ thống pháp luật chứng khoán còn cần phải được đặt trong mối
tương quan với hệ thống pháp luật kinh tế đã và đang được hoàn thiện. Có thể
khẳng định được rằng, khung pháp luật kinh tế đã được xây dựng tương đối
đồng bộ và hoàn chỉnh, thông qua việc ban hành hàng loạt các đạo luật mới
trong thời gian gần đây như: Luật canh tranh 2004, Bộ luật tố tụng dân sự,
Luật phá sản 2004, Luật thương mại 2005, Luật doanh nghiệp 2005, Luật đầu


17
tư 2005, Luật chứng khoán... có ảnh hưởng trực tiếp đến việc thực thi pháp
luật về CBTT trên TTCK, đã đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với hệ thống pháp
luật này phải bảo đảm được tính thống nhất trong hệ thống pháp luật kinh tế.
Bảo đảm được tính thống nhất trong pháp luật về CBTT trên TTCK sẽ giải
quyết được tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn trong nội tại các quy định pháp
luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán, đồng thời bảo đảm tính hiệu
lức và hiệu quả của hệ thống pháp luật.
Hai là, pháp luật về CBTT trên TTCK phải bảo đảm phân định rõ ràng
quy định thông tin phải công bố và những thông tin không phải công bố. Đây

Bốn là, bảo đảm được các thiết chế thực thi pháp luật về CBTT hiệu
quả. Hiệu quả pháp luật luôn là vấn đề cần phải được quan tâm và giải quyết
thích đáng, vì suy cho cùng đây mới là mấu chốt của việc bảo đảm việc điều
chỉnh pháp luật đối với từng lĩnh vực cụ thể. Hạn chế tình trạng ban hành
“luật khung”, “chờ văn bản hướng dẫn thi hành”, hoặc văn bản pháp luật đã
được ban hành nhưng không có khả năng áp dụng do không phù hợp với thực
tiễn. Bên cạnh đó cũng cần tăng cường các kênh hỗ trợ cho việc thực thi pháp
luật như phố biến tuyên truyền pháp luật về CBTT đối với các chủ thể tham
gia thị trường, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát đối với việc thực hiện
pháp luật về CBTT trên cơ sở đó phát hiện và xử lý kịp thời các hành vi vi
phạm pháp luật về CBTT...


19
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN TRÊN THỊ
TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
Từ khi Luật chứng khoán ra đời đến nay TTCK Việt Nam phát triển
mạnh cả về quy mô và chất lượng trong đó tổng vốn đầu tư vào thị trường
Việt Nam đã đạt mức tăng trưởng mạnh mẽ, đến năm 2010 tổng vốn hóa toàn
TTCK là hơn 700 ngàn tỷ đồng chiếm khoảng 40% GDP với 556 doanh
nghiệp niêm yết cổ phiếu. Đồng thời, sự ra đời của Luật chứng khoán và các
văn bản hướng dẫn đã tạo cơ sở pháp lý vững chắc hơn cho sự thành lập và
hoạt động của các tổ chức trung gian trên TTCK cũng như cho sự hoạt động
của các tổ chức phát hành chứng khoán, từ đó các hoạt động kinh doanh, giao
dịch chứng khoán, và phát hành chứng khoán diễn ra hiệu quả hơn trước. Số
lượng các công ty đại chúng cũng tăng lên và tính đến hết ngày 21/01/2011,
đã có 964 công ty đăng ký là công ty đại chúng theo quy định của Luật chứng
khoán.
Luật chứng khoán và các văn bản hướng dẫn đã chú trọng hơn tới các

nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc.
2.1. Khái quát sự phát triển pháp luật về CBTT trên TTCK Việt
Nam
Phát triển thị trường tài chính là một trong những mục tiêu quan trọng
trong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế của Chính phủ Việt Nam. Sự ra
đời của TTCK chính thức ở Việt Nam theo quyết định số 127/1998/QĐ-TTg
ngày 11 tháng 7 năm 1998 của Thủ tướng Chính Phủ (về việc thành lập 02
Trung tâm GDCK Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, trong đó Trung tâm
Giao dịch thành phố Hồ Chí Minh đi vào hoạt động ngày 20 tháng 7 năm
2000 và Trung tâm GDCK Hà Nội đi vào hoạt động ngày 08 tháng 3 năm
2005), cũng như việc nâng cấp các Trung tâm GDCK thành các SGDCK đánh
dấu mốc quan trọng sự phát triển của TTCK Việt Nam.
Trước khi LCK ra đời, các quy định pháp luật về CBTT trên TTCK
được quy định tại Nghị định 48/1998/NĐ-CP ngày 11 tháng 7 năm 1998 về
chứng khoán và TTCK (sau đây gọi chung là Nghị định 48/1998/NĐ-CP),


21
Nghị định 144/2003/NĐ-CP về chứng khoán và TTCK thay thế cho Nghị
định 48/1998/NĐ-CP. Nghị định 144/2003/NĐ-CP dành chương VI từ Điều
51 đến Điều 64 quy định về CBTT trên TTCK. Thi hành Nghị định
144/2003/NĐ-CP, Bộ tài chính ban hành thông tư số 57/2004/TT-BTC ngày
17/6/2004 hướng dẫn việc CBTT trên TTCK. Các quy định này đã tác động
rất lớn trong việc chấn chỉnh nghĩa vụ CBTT của các chủ thể có liên quan trên
TTCK, nâng cao nhận thức của các công ty trong việc thực hiện nghĩa vụ này;
đồng thời cũng góp phần vào việc phát hiện, ngăn chặn các hành vi vi phạm
pháp luật về CBTT, thiết lập trật tự thị trường, bảo đảm thị trường phát triển
minh bạch và bền vững.
LCK ra đời góp phần hoàn chỉnh thể chế và kinh tế thị trường ở nước
ta, quán triệt tinh thần đổi mới của Đảng và Nhà nước thể hiện trong Nghị

minh bạch hơn.
2.2. Quy định Pháp luật về công bố thông tin trên thị trường chứng
khoán.
2.2.1. Đối tượng công bố thông tin
Xác định nguồn gốc của thông tin là quan trọng nhất vì nó là nguồn cội của
mọi rủi ro. Khi đã truy tìm được rõ nguồn gốc của thông tin cho phép nhà đầu
tư: xác định được mức độ tin cậy của thông tin; có được cơ sở để phân tích
đối chiếu thông tin; hỏi những vấn đề chưa được rõ ràng; có thể truy cứu trách
nhiệm của người cung cấp thông tin trong trường hợp gây thiệt hại cho nhà
đầu tư từ thông tin mà tổ chức, cá nhân đó cung cấp. Khi phát hiện thông tin
của đối tượng CBTT không đầy đủ, mang tính chắp vá hoặc bị cắt xén; thông
tin không nói rõ nguồn gốc trích dẫn và chủ thể có thẩm quyền công bố thì
phải kiểm tra, đối chiếu để tránh các rủi ro có thể phát sinh.
Nhận thức được vấn đề này, các quy định pháp luật về CBTT trên
TTCK, chính vì vậy, ngay từ Quyết định số 04/1999 đã quy định cụ thể các
đối tượng phải CBTT. Trên cơ sở các quy định của Quyết định 04/1999,
Thông tư 57/2004, LCK 2006 sửa đổi bổ sung năm 2010, Thông tư
38/2007/TT-BTC, Thông tư 09/2010/TT-BTC nay được thay thế bằng Thông
tư 52/2012/TT-BTC, đã quy định các đối tượng phải CBTT là: Công ty đại


23
chúng, tổ chức phát hành (ngoài trừ trường hợp phát hành trái phiếu được
Chính phủ bảo lãnh), công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ, Sở giao dịch
chứng khoán, Trung tâm lưu ký chứng khoán và người liên quan.
Công ty đại chúng là công ty cổ phần có một trong ba dấu hiệu sau:
Công ty đã thực hiện chào bán cổ phiếu ra công chúng; công ty có cổ phiếu
niêm yết tại SGDCK hoặc TTGDCK; Công ty có ít nhất 100 nhà đầu tư sở
hữu cổ phiếu, không kể nhà đầu tư chuyên nghiệp và có vốn điều lệ đã góp
trên 10 tỷ VNĐ (Điều 25 - Luật CK). Ở thị trường chứng khoán Việt Nam

và sử dụng bởi một người khác. Vì vậy mà nghĩa vụ CBTT của tổ chức phát
hành được coi như hiển nhiên khi nó được quy định rất sớm trong các văn bản
pháp luật từ Nghị định 48/1998/NĐ-CP cho đến nay.
Công ty quản lý quỹ, công ty chứng khoán, công ty đầu tư chứng khoán
là những chủ thể đặc biệt của TTCK, ba công ty này là những tổ chức thực
hiện giao dịch trên cơ sở tài sản của khách hàng, mang lại lợi nhuận cho
khách hàng. Mặc dù, các công ty này không cung cấp hàng hóa cho thị
trường, nhưng chúng lại là những tổ chức trực tiếp, hoặc đưa ra quyết định
thực hiện các giao dịch trên thị trường, sử dụng tiền của nhà đầu tư để tham
gia vào thị trường. Khi nhà đầu tư mở tài khoản hay góp vốn tại các tổ chức
này nhà đầu tư đã phải chấp nhận những rủi ro nhất định khi đưa tài sản của
mình cho người khác quản lý và sử dụng. Vì vậy mà việc CBTT cũng là một
giải pháp để bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư. Bên cạnh đó, công ty chứng khoán
còn được phép hoạt động tự doanh. Đây là những nhà đầu tư chuyên nghiệp,
có chiến lược đầu tư, thông tin thị trường luôn có nhiều hơn so với các đối
tượng khác nên từng hoạt động của các tổ chức này có thể có những tác động
rất lớn với thị trường chứng khoán. Bởi những lý do đó mà yêu cầu CBTT đối
với các chủ thể này là rất cần thiết.
Sở giao dịch chứng khoán là tổ chức có tư cách pháp nhân, hoạt động
theo mô hình công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần, có chức
năng tổ chức và giám sát hoạt động giao dịch chứng khoán niêm yết tại
SGDCK. SGDCK là nhà quản lý và giám sát hoạt động của chứng khoán khi
giao dịch. Các thông tin mà SGDCK cung cấp có ý nghĩa rất lớn đối với tất cả



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status