Pháp luật về quỹ bảo hiểm xã hội và thực tiễn thực hiện trên địa bàn thành phố hà nội - Pdf 48

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

PHẠM THÀNH CÔNG

PHÁP LUẬT VỀ QUỸ BẢO HIỂM XÃ HỘI
VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60 38 01 07

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. NGUYỄN HIỀN PHƯƠNG

HÀ NỘI - 2014


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản Luận văn thạc sĩ này là công trình nghiên cứu
thực sự của cá nhân, được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu tổng hợp lý
thuyết, xem xét các báo cáo tình hình thực tiễn và dưới sự hướng dẫn
khoa học của Tiến sĩ Nguyễn Hiền Phương. Bản Luận văn thạc sĩ này
chưa từng được công bố.
Hà Nội, tháng 5 năm 2014
Học viên


Hà Nội ...................................................................................................................34
2.3. Một số nhận xét về tình hình thực hiện pháp luật về quỹ bảo hiểm xã hội trên
địa bàn thành phố Hà Nội .......................................................................................45
CHƯƠNG III: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUỸ BẢO
HIỂM XÃ HỘI VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI ..................................................................................................... 51
3.1. Cơ sở lý luận của việc hoàn thiện pháp luật về quỹ bảo hiểm xã hội Việt Nam..51
3.2. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về quỹ bảo hiểm xã hội Việt Nam .......53
3.3. Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về quỹ bảo
hiểm xã hội trên địa bàn thành phố Hà Nội ............................................................65
KẾT LUẬN ....................................................................................................................... 70
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.......................................................................... 71


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

BHXH

Bảo hiểm xã hội

BLLĐ

Bộ luật Lao động

BHTN

Bảo hiểm thất nghiệp

BLHS


TCCSPCTP

Tổng cục Cảnh sát phòng chống tội phạm


DANH MỤC CÁC BẢNG, HÌNH VẼ, SƠ ĐỒ

STT

TÊN BẢNG, HÌNH VẼ, SƠ ĐỒ

TRANG

Sơ đồ 2.1

Sơ đồ bộ máy tổ chức Bảo hiểm xã hội TP. Hà Nội

37

Bảng 2.1

Bảng kết quả thực hiện pháp luật thu quỹ BHXH ở BHXH

39

TP. Hà Nội
Bảng 2.2

Bảng kết quả thực hiện pháp luật chi quỹ BHXH ở BHXH
TP. Hà Nội

2029. Đây là vấn đề rất đáng quan tâm bởi không phù hợp với bản chất và mục tiêu
của bảo hiểm dài hạn, nhằm đảm bảo an sinh xã hội cho người lao động khi về già
và như vậy, mục tiêu mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội là khó khả thi,
dẫn đến hệ lụy vỡ quỹ. Có thể nói vấn đề quỹ bảo hiểm xã hội là vô cùng quan
trọng bởi nó quyết định sự ổn định, bền vững của cả hệ thống báo hiểm xã hội. Vấn
đề về quỹ bảo hiểm xã hội hiện nay ở nước ta đang thu hút sự quan tâm của rất
nhiều người dân đặc biệt là tầng lớp người lao động, bởi quỹ bảo hiểm xã hội là
tiền đóng góp của người lao động để đảm bảo an sinh khi lâm vào những hoàn cảnh


2

khó khăn như sinh đẻ, tai nạn lao động hay về hưu. Vậy nên sự an toàn của quỹ sẽ
ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi chính đáng của họ.
Trong bối cảnh đó, với việc lựa chọn đề tài: “Pháp luật về quỹ bảo hiểm xã
hội và thực tiễn thực hiện trên địa bàn Thành phố Hà Nội”, tác giả luận văn muốn
góp phần hoàn thiện hệ thống quy định của pháp luật về quỹ bảo hiểm xã hội cũng
như giải pháp nhằm khắc phục tình trạng nguy cấp hiện nay của quỹ bảo hiểm xã
hội Việt Nam nói chung và quỹ bảo hiểm xã hội Hà Nội nói riêng.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Thực trạng quỹ bảo hiểm xã hội hiện đang là vấn đề mang tính thời sự cao,
không chỉ nhận được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, các nhà hoạch định chính
sách mà còn được phần lớn tầng lớp lao động trong xã hội quan tâm. Chính phủ
Việt Nam cũng đã có những động thái như đề nghị Tổ chức lao động quốc tế (ILO)
tiến hành báo cáo đánh giá và dự báo tài chính quỹ hưu trí. Thông qua báo cáo và
những số liệu thống kê, vấn đề cải cách các chế độ bảo hiểm xã hội ảnh hưởng đến
quỹ bảo hiểm xã hội là vấn đề hết sức cần thiết.
Đến nay, theo nghiên cứu của tác giả thì mới chỉ có các công trình nghiên
cứu về quỹ bảo hiểm xã hội dưới góc độ kinh tế như: Sách “Giải pháp tài chính
nhằm đảm bảo toàn và tăng trưởng quỹ bảo hiểm xã hội tại Việt nam” (2008) của

định về các chế độ bảo hiểm xã hội ảnh hưởng đến thu, chi quỹ bảo hiểm xã hội,
đồng thời tìm hiểu rõ hơn tình hình tổ chức và hoạt động của quỹ bảo hiểm xã hội ở
một địa phương nhất định mà cụ thể là thành phố Hà Nội. Qua đó tìm ra giải pháp
hoàn thiện pháp luật Việt Nam điều chỉnh về quỹ bảo hiểm xã hội và các chế độ
bảo hiểm xã hội từ đó hướng tới giải quyết vấn đề mất cân đối thu chi của quỹ bảo
hiểm xã hội Việt Nam nói chung và quỹ bảo hiểm xã hội Hà Nội nói riêng.
Để thực hiện được mục đích trên, đề tài đặt ra các nhiệm vụ cụ thể sau:
- Nghiên cứu được những vấn đề cơ bản về quỹ bảo hiểm xã hội và pháp luật
điều chỉnh về quỹ bảo hiểm xã hội, chế độ thu chi của quỹ bảo hiểm xã hội;
- Phân tích, đánh giá thực trạng quy định của pháp luật điều chỉnh liên quan
đến quỹ bảo hiểm xã hội Việt Nam và thực tiễn áp dụng quy định pháp luật tại cơ
quan bảo hiểm xã hội Thành phố Hà Nội. Trong đó, tập trung làm rõ những nguyên
nhân, hạn chế trong các chế độ bảo hiểm xã hội ảnh hưởng đến sự mất cân đối thu
chi của quỹ bảo hiểm xã hội;
- Đề xuất các định hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật hiện hành về quỹ
bảo hiểm xã hội, pháp luật về chính sách bảo hiểm xã hội ảnh hưởng đến thu chi
quỹ bảo hiểm xã hội để giải quyết tình hình mất cân đối thu chi quỹ bảo hiểm xã
hội hiện nay, đảm bảo sự phát triển ổn định bền vững của bảo hiểm xã hội.


4

5. Phương pháp nghiên cứu đề tài
Luận văn này được thực hiện trên nền tảng lý luận là các nguyên tắc và
phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, những quan
điểm của Đảng và Nhà nước trong quá trình xây dựng, phát triển nền kinh tế. Trong
quá trình thực hiện luận văn, tác giả có sự kết hợp sử dụng các phương pháp nghiên
cứu: duy vật biện chứng, duy vật lịch sử; phương pháp phân tích, đối chiếu, so sánh,
tổng hợp, thống kê, khái quát hóa để giải quyết nội dung khoa học của đề tài.
Đặc biệt, luận văn rất chú trọng phương pháp phân tích nhằm nghiên cứu sâu

1.1.1. Định nghĩa quỹ bảo hiểm xã hội
Quỹ bảo hiểm xã hội ra đời gắn liền với sự phát triển các chính sách về bảo
hiểm xã hội và đóng vai trò quan trọng trong hệ thống bảo hiểm xã hội. Việc ra đời
Quỹ bảo hiểm xã hội trên cơ sở những đóng góp mang tính bắt buộc theo quy định
của Nhà nước chính là cơ sở quan trọng đảm bảo sự chắc chắn, ổn định và bền
vững hơn cho chính sách bảo hiểm xã hội. Do vậy, Quỹ bảo hiểm xã hội chính là
nguồn lực vật chất không thể thiếu giúp đảm bảo cho việc tổ chức và thực hiện tốt
các chính sách bảo hiểm xã hội.
Nhìn lại lịch sử hình thành, có thể thấy sự ra đời của quỹ bảo hiểm xã hội là
quá trình hình thành lâu dài, là kết quả của việc tổ chức một quỹ tiền tệ đảm bảo tài
chính cho những trường hợp rủi ro trên cơ sở tương trợ cộng đồng. Trong quá trình
phát triển của xã hội loài người, khi chưa có quỹ bảo hiểm xã hội cũng như các
chính sách về bảo hiểm xã hội thì sự tương trợ mang tính cộng đồng chủ yếu chỉ
mang tính tự phát. Do đó, mỗi người đều phải tự xoay sở mỗi khi gặp phải sự kiện
rủi ro như ốm đau, sinh đẻ, già yếu khiến họ giảm hay mất đi khả năng lao động.
Chỉ khi xã hội loài người phát triển ở một mức độ nhất định thì hình thức tương trợ
cộng đồng dần mang tính tổ chức và hình thành một cách tự giác hơn. Ở một số
nước đặc biệt là các nước Châu Âu, những quỹ tương trợ đã được hình thành và sau
này dần được áp dụng nhân rộng và phát triển thành chính sách bảo hiểm xã hội ở
mỗi quốc gia hiện nay. Quỹ bảo hiểm xã hội cũng từ đó hình thành để đảm bảo cơ
sở vật chất cho việc thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội ở từng quốc gia.
Có thể nói sự hình thành quỹ bảo hiểm xã hội xuất phát từ nhu cầu thực tế
của cả người lao động và người sử dụng lao động. Đối với người lao động, họ luôn
ý thức được rằng những rủi ro luôn có thể xảy ra với họ bất cứ khi nào, cho nên có
nhu cầu trích một phần trong số tiền lương để tích góp sử dụng mỗi khi cần thiết.
Còn đối với giới chủ, việc chịu trách nhiệm một phần trước những rủi ro của người
lao động cũng được xem là nhu cầu thiết yếu đảm bảo sự tin tưởng, yên tâm cho
người lao động trong quá trình làm việc. Do đó, nhu cầu thành lập một quỹ chung



đình họ khi bị giảm hoặc mất khả năng lao động.
Có thể thấy, dù là được hiểu theo nghĩa nào thì quỹ bảo hiểm xã hội cũng nổi
bật lên hai điểm:


7

Thứ nhất, nguồn tài chính của quỹ bảo hiểm xã hội hình thành từ nguồn
đóng góp của người tham gia bảo hiểm xã hội và có sự bảo trợ của Nhà nước. Theo
đó, những người tham gia bảo hiểm xã hội sẽ hàng tháng sẽ trích một phần thu
nhập để tạo lập và duy trì sự tồn tại của quỹ. Việc đóng góp này tùy vào từng hình
thức bảo hiểm mà được quy định là có bắt buộc hay không. Tất nhiên, không phải
lúc nào nguồn hình thành quỹ bảo hiểm xã hội cũng được quy định giống nhau mà
có thể thay đổi theo những thời kỳ nhất định tùy thuộc vào chính sách pháp luật của
mỗi quốc gia. Riêng ở Việt Nam, trong một thời gian dài, người được hưởng bảo
hiểm xã hội không phải đóng góp vào quỹ bảo hiểm xã hội, quỹ BHXH chỉ hình
thành từ sự đóng góp của người sử dụng lao động, điều này dẫn đến chính sách
BHXH trở thành gánh nặng đối với Ngân sách Nhà nước. Việc quy định nguồn
hình thành quỹ như hiện nay chỉ được thực hiện từ sau khi đất nước thay đổi chính
sách về tổ chức quỹ BHXH theo nguyên tắc có đóng có hưởng, là cơ sở để quỹ
BHXH trở thành quỹ tài chính độc lập, tập trung nằm ngoài ngân sách nhà nước.
Thứ hai, quỹ bảo hiểm xã hội là quỹ phi lợi nhuận mang tính chất tương trợ
cộng đồng, nhằm thỏa mãn nhu cầu phát sinh về bảo hiểm xã hội. Quỹ bảo hiểm xã
hội ra đời, tồn tại và phát triển gắn với mục đích đảm bảo ổn định cuộc sống cho
người lao động và gia đình họ, là sự chia sẻ hậu quả của những rủi ro xã hội. Sự
chia sẻ này được thực hiện thông qua quá trình tổ chức và sử dụng quỹ tiền tệ tập
trung. Thông qua việc thực hiện các chính sách bảo hiểm xã hội nói chung và tổ
chức quỹ bảo hiểm xã hội nói riêng, người lao động hàng tháng chỉ phải đóng góp
một phần thu nhập của mình cho quỹ nhưng được hỗ trợ một khoản đủ để chi trả
những nhu cầu của cuộc sống khi không may lâm vào những hoàn cảnh làm giảm

những thành viên.
Giống như Bảo hiểm xã hội, quỹ Bảo hiểm xã hội cũng mang bản chất kinh
tế và bản chất xã hội. Bản chất kinh tế thể hiện ở chỗ việc thu chi quỹ bảo hiểm xã
hội nhằm thỏa mãn nhu cầu an toàn kinh tế của người lao động và an toàn của xã
hội. Nhờ sự tổ chức phân phối thu nhập, chi trả kịp thời của quỹ bảo hiểm xã hội
mà người lao động và gia đình họ được đảm bảo, hỗ trợ phần nào trước những bất
trắc, rủi ro xã hội. Trong đó, việc phân phối thu nhập cũng phải dựa trên những
nguyên tắc nhất định để đảm bảo an toàn kinh tế cho quỹ BHXH, hay nói cách
khác là đảm bảo cân đối thu – chi quỹ BHXH. Theo đó, việc quyết định mức đóng
góp của từng đối tượng tham gia BHXH cần phải được cân nhắc, tính toán một
cách khoa học căn cứ vào các yếu tố nhất định để vừa đảm bảo được nhu cầu sống
tối thiểu của người lao động trong từng thời kỳ nhưng vẫn phải đảm bảo nguyên tắc
cân bằng thu chi, lấy số đông bù số ít và có dự phòng. Tính kinh tế cũng được thể
hiện ở việc sử dụng quỹ bảo hiểm xã hội sao cho hợp lý, hiệu quả nhất, đặc biệt đối


9

với hoạt động đầu tư để tăng giá trị cho quỹ được quy định một cách chặt chẽ, yêu
cầu tuân thủ những nguyên tắc nhất định.
Về bản chất kinh tế xét trong mối tương quan với Ngân sách Nhà nước thì có
thể thấy điểm giống nhau là đều là sự phân phối lại thu nhập tức là đều là quá trình
tổ chức sử dụng thu nhập cá nhân và tổng sản phẩm trong nước (GDP) để thực hiện
các mục tiêu nhất định. Tuy nhiên, việc tổ chức sử dụng nguồn tài chính này lại có
sự khác biệt nhất định. Cụ thể, quan hệ phân phối của Ngân sách Nhà nước chủ yếu
là phân phối lại và không mang tính chất hoàn trả. Số tiền mà Ngân sách Nhà nước
thu được từ nguồn đóng góp của các cá nhân, tổ chức trong nước sẽ thuộc sở hữu
của Nhà nước và được sử dụng vào các mục đích quốc gia như: chi phát triển kinh
tế-xã hội, đảm bảo quốc phòng an ninh, chi cho hoạt động bộ máy nhà nước...
Trong khi đó, phân phối tổ chức sử dụng quỹ BHXH lại có tính chất hoàn trả đối

quỹ bảo hiểm xã hội muốn thực hiện được vai trò san sẻ rủi ro xã hội thì phải cân
nhắc các yếu tố về kinh tế, việc giải quyết các nhu cầu bảo hiểm xã hội chỉ có thể
thực hiện một cách bền vững và lâu dài nếu đảm bảo được an ninh tài chính cho
quỹ BHXH.
1.2. ĐẶC ĐIỂM CỦA QUỸ BẢO HIỂM XÃ HỘI
Thứ nhất, sự an toàn tài chính của quỹ bảo hiểm xã hội được nhà nước bảo đảm.
Quỹ bảo hiểm xã hội là quỹ an toàn về tài chính. Điều này xuất phát từ tính
chất quan trọng của quỹ đối với cuộc sống của người lao động. Sự an toàn của quỹ
ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi, cuộc sống của người lao động khi gặp phải
những hoàn cảnh khó khăn dẫn đến suy giảm hay mất khả năng lao động. Mỗi
người lao động trong cuộc đời của mình luôn cần đến sự chi trả của quỹ bảo hiểm
xã hội. Trường hợp không rơi vào những hoàn cảnh ốm đau, sinh nở, tai nạn lao
động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp thì mọi người lao động đều hướng đến quyền
được chi trả lương hưu lúc về già khi bị mất khả năng lao động. Sự an toàn của quỹ
bảo hiểm xã hội được đặt ra cũng xuất phát từ tính chất quan trọng của quỹ trong
hệ thống bảo hiểm xã hội. Bởi quỹ BHXH là nguồn lực vật chất không thể thiếu
giúp đảm bảo cho việc tổ chức và thực hiện tốt các chính sách bảo hiểm xã hội. Để
đối phó với những rủi ro mang tính ngẫu nhiên làm giảm hoặc mất khả năng lao
động thì cần có một lượng tiền dự trữ đủ lớn được hình thành và sử dụng trong một
thời gian nhất định trên cơ sở tính toán những xác suất nảy sinh và mức độ nhu cầu
bảo hiểm xã hội trong phạm vi quỹ phục vụ. Nếu quỹ bị mất cân đối, mất khả năng
chi trả thì hiệu quả cũng như ý nghĩa của chính sách bảo hiểm xã hội chắc chắn sẽ
không đạt được.
Vì vậy, một yêu cầu đặt ra là quỹ bảo hiểm xã hội phải được bảo toàn về giá
trị và không có rủi ro về tài chính. Do đặc thù về đối tượng đảm bảo, bản chất, ý
nghĩa của hoạt động bảo hiểm xã hội mà Nhà nước phải có trách nhiệm đảm bảo sự


11


gian dài, luôn vận động và có số dư tạm thời nhàn rỗi lớn. Quỹ BHXH được tạo lập
từ sự đóng góp, tham gia của đông đảo người tham gia và có tính chất phân phối


12

chuyển dịch thu nhập mang tính xã hội giữa những người tham gia bảo hiểm xã hội
qua các thế hệ, vì vậy nguồn lực tài chính của quỹ BHXH là rất lớn trong khoảng
thời gian dài. Việc quỹ bảo hiểm xã hội có số dư lớn sẽ giúp việc chi trả được thực
hiện một cách kịp thời, đảm bảo giải quyết nhanh chóng nhu cầu bảo hiểm xã hội
cho người tham gia. Ngoài ra, số người tham gia càng đông thì tần suất xảy ra rủi
ro càng lớn, vậy nên quỹ BHXH cũng thường xuyên phải chi trả chế độ cho người
tham gia BHXH, điều này làm cho Quỹ luôn trong trạng thái vận động và biến đổi.
1.3. VAI TRÒ CỦA QUỸ BẢO HIỂM XÃ HỘI
* Đối với nền kinh tế:
Quỹ bảo hiểm xã hội có một vai trò hết sức quan trọng đối với mọi người lao
động ở tất cả các quốc gia trên thế giới. Quỹ bảo hiểm xã hội góp phần thực hiện
được chức năng đảm bảo thay thế hoặc bù đắp sự thiếu hụt thu nhập của người lao
động và gia đình họ. Đây là chức năng cơ bản thể hiện rõ bản chất kinh tế của bảo
hiểm xã hội. Khi người lao động đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của họ (đóng góp
bảo hiểm xã hội theo luật định thì họ có quyền được nhận trợ cấp bảo hiểm xã hội
khi phát sinh những rủi ro làm thu nhập của họ bị giảm sút. Bảo hiểm xã hội chỉ
thực sự có ý nghĩa kinh tế khi những thiếu hụt về thu nhập của người lao động và
gia đình họ được bù đắp, trợ giúp theo quy định của bảo hiểm. Đồng thời chỉ khi
thực hiện tốt chức năng này, bảo hiểm xã hội mới thực sự khuyến khích, thực sự có
sức cuốn hút đối với người lao động để họ tham gia bảo hiểm xã hội. Sự phát triển
của Quỹ BHXH là một nguồn tài chính vững chắc đảm bảo quyền được hưởng của
người tham gia qua đồng thời đóng góp vào sự phát triển của đất nước nói chung và
sự phát triển kinh tế nói riêng. Thể hiện như sau:
+ Việc hình thành quỹ bảo hiểm xã hội trên thực tế với số thu ngày càng tăng

có đến 15.000 doanh nghiệp mới thành lập nhưng theo Cục Thuế Hà Nội thì tính
đến hết tháng 11/2012 có tới 12.249 doanh nghiệp ngừng hoạt động [50]. Việc số
lượng các doanh nghiệp ngừng hoạt động ngày càng gia tăng cũng được xem là một
trong những nguyên nhân khiến cho số lượng người lao động thất nghiệp ở Hà Nội
tăng đột biến. Tính trong tháng 2 năm 2012, Trung tâm giới thiệu việc làm Hà Nội
đã tiếp nhận 1.055 người lao động đến đăng ký bảo hiểm thất nghiệp, tăng 2,8 lần
so với tháng 2/2011 [51]. Trong bối cảnh như vậy, việc tổ chức và sử dụng quỹ bảo
hiểm xã hội, đặc biệt là quỹ bảo hiểm thất nghiệp sẽ giúp đảm bảo một phần thu
nhập cho người lao động, từ đó giảm thiểu được những tác động tiêu cực gây kìm
hãm sự tăng trưởng của nền kinh tế, đảm bảo mục tiêu phát triển kinh tế đất nước.
+ Quỹ bảo hiểm xã hội thực hiện đầu tư số vốn tạm thời nhàn rỗi giúp cung
cấp một nguồn vốn quan trọng góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Như đã phân tích, một đặc điểm của Quỹ BHXH ở nước ta là quỹ được tồn tích qua
nhiều năm và có tính chất phân phối chuyển dịch thu nhập mang tính xã hội giữa


14

những người tham gia BHXH qua các thế hệ. Do vậy quỹ sẽ có số dư tạm thời nhàn
rỗi tương đối lớn trong khoảng thời gian dài. Đây là một nguồn vốn vô cùng quan
trọng để hoạt động đầu tư nhằm bảo toàn, tăng trưởng quỹ đồng thời góp phần kích
thích sự phát triển kinh tế của đất nước.
* Đối với xã hội:
Quỹ bảo hiểm xã hội là dòng chảy liên tục của sự đóng vào và sự chi ra của
tiền bảo hiểm. Quỹ bảo hiểm xã hội góp phần thực hiện sự phân phối lại theo chiều
ngang giữa các nhóm người, góp phần tạo ra sự san sẻ, tương trợ giữa các nhóm lao
động, thể hiện ở chỗ người lao động khỏe đóng góp để cho người lao động đã hết
tuổi lao động được hưởng. Việc đóng bảo hiểm xã hội không chỉ có chức năng
tương trợ đối với người khác, mà điều này còn để san sẻ rủi ro của chính bản thân
mỗi người lao động. Có nghĩa là họ đóng phí bảo hiểm xã hội thường kèm với một

Việc tổ chức, quản lý quỹ với quyền và nghĩa vụ của các chủ thể cũng là nội dung
quan trọng không thể thiếu khi điều chỉnh pháp luật về quỹ bảo hiểm xã hội.
- Quy định về nguồn thu quỹ BHXH
Pháp luật về thu quỹ BHXH quy định vấn đề chính và quan trọng nhất là
mức đóng và phương thức đóng quỹ BHXH của các chủ thể tham gia BHXH. Hiện
nay, hầu hết các nước quy định nguồn thu quỹ BHXH hình thành từ thu nhập của
người lao động với nghĩa vụ được quy định cho hai chủ thể là người lao động và
người sử dụng lao động. Trong đó, tại một số quốc gia phát triển nền kinh tế thị
trường dân chủ như: Đan Mạch, Hà Lan, Thụy Điển… thì Nhà nước có sự hỗ trợ
một mức đóng góp nhất định vào quỹ BHXH cho người lao động. Pháp luật Việt
Nam trước đây từng có thời kỳ quy định trách nhiệm đóng góp quỹ BHXH thuộc
về Nhà nước, tuy nhiên theo quy định hiện hành thì Nhà nước chỉ hỗ trợ vào việc
tạo lập quỹ BHXH trong một số trường hợp nhất định, còn trách nhiệm đóng góp
tạo lập quỹ được quy định chủ yếu cho người lao động và người sử dụng lao động.
Về mức đóng góp, tùy từng quốc gia khác nhau mà pháp luật quy định mức đóng
góp cho việc hình thành quỹ BHXH là khác nhau. Ví dụ ở Đức, tổng mức đóng góp
vào quỹ BHXH là 41,5% tiền lương (cho chế độ hưu trí là 19,3%; thai sản 14%; tai
nạn lao động, thất nghiệp 6,5%; chăm sóc người già 1,7%) trong đó người sử dụng
lao động đóng một nửa và người lao động đóng một nửa. Ở Thái Lan, pháp luật về
an sinh xã hội quy định cụ thể về trách nhiệm đóng góp của Nhà nước. Cụ thể, tổng
mức đóng để hình thành quỹ là 10% tính trên tổng quỹ tiền lương, trong đó người
lao động đóng 3%, người sử dụng lao động đóng góp 4% và Nhà nước đóng góp
3% [34].
Pháp luật quy định về nguồn thu quỹ BHXH của Việt Nam được điều chỉnh
thay đổi theo từng thời kỳ lịch sử. Cơ cấu về nguồn thu quỹ BHXH trước đây
không phải lúc nào cũng giống nhau mà tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị,


16


vai trò cũng như mục đích sử dụng của quỹ BHXH, từ đó đặt ra yêu cầu việc quản
lý hay giám sát việc tổ chức thực hiện phải được đặt dưới sự quản lý thống nhất của


17

Nhà nước. Ở Việt Nam, việc quản lý sự nghiệp đối với quỹ BHXH do Bảo hiểm xã
hội Việt Nam trực tiếp quản lý, tổ chức thu, chi, đầu tư quỹ. Hội đồng quản lý
BHXH có vai trò giúp Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo, giám sát việc thực
hiện chế độ, chính sách thu, chi quỹ BHXH. Một số quốc gia ở khu vực Đông Nam
Á cũng áp dụng mô hình quản lý quỹ tương tự như Việt Nam. Như Thái Lan, việc
quản lý chung về quỹ BHXH do Bộ Lao động và phúc lợi xã hội, hoạt động quản lý
sự nghiệp do Văn phòng BHXH thực hiện. Hay ở Indonexia, Bộ nhân lực là cơ
quan quản lý chung, Hội đồng Nhà nước về vấn đề đảm bảo xã hội chịu trách
nhiệm thực hiện các chính sách BHXH. Tuy nhiên, ở nhiều quốc gia lại áp dụng
mô hình tổ chức, quản lý quỹ khác. Ví dụ ở Đức, hệ thống BHXH được tổ chức
theo mô hình tự quản, do vậy hiện nay có rất nhiều các tổ chức BHXH, hầu hết là
các tổ chức phi chính phủ. Mỗi loại bảo hiểm có một tổ chức, riêng bảo hiểm hưu
trí có 22 tổ chức [34].
Về việc phân chia quỹ BHXH, hiện nay nhiều nước quy định cơ cấu quỹ
BHXH gồm nhiều quỹ khác nhau để tạo điều kiện thuận lợi cho việc tổ chức thực
hiện và hạch toán quỹ. Như ở Thái Lan, quỹ BHXH được chia thành 3 nhóm: nhóm
bắt buộc, nhóm tự nguyện và nhóm lao động phi chính thức. Trong đó, nhóm bắt
buộc là lao động trong các doanh nghiệp, nhóm tự nguyện là lao động bị chấm dứt
việc làm không được hưởng trợ cấp thất nghiệp, nhóm phi chính thức là lao động tự
do từ 15 – 60 tuổi tham gia trên cơ sở tự nguyện và được Nhà nước hỗ trợ một phần
đóng. Ở Việt Nam, quỹ BHXH cũng được cơ cấu thành 3 quỹ gồm: quỹ BHXH bắt
buộc, quỹ BHXH tự nguyện và quỹ bảo hiểm thất nghiệp.



2.1.1. Nguyên tắc hình thành và quản lý quỹ
Việc quy định nguồn lực vật chất hình thành cũng như tổ chức quản lý quỹ
bảo hiểm xã hội phải được thực hiện dựa trên những yêu cầu, nguyên tắc nhất định.
Để thực hiện tốt việc quản lý quỹ cũng như nhằm đạt được mục đích của việc sử
dụng quỹ BHXH thì quá trình quản lý, điều hành hoạt động quỹ BHXH cần quán
triệt những nguyên tắc cơ bản sau đây:
Thứ nhất, việc hình thành quỹ BHXH phải tuân thủ thực hiện nguyên tắc có
đóng, có hưởng. Đây là nguyên tắc cơ bản trong hoạt động hình thành cũng như
quản lý quỹ BHXH nhằm đảm bảo sự duy trì và tồn tại của quỹ. Điều này xuất phát
từ tính chất xã hội của quỹ bảo hiểm xã hội, đó là sự “chia sẻ rủi ro”, “lấy số đông
bù số ít”. Theo đó tất cả những người tham gia bảo hiểm xã hội đều cùng đóng góp
một phần tiền lương của mình từ đó mới hình thành nên quỹ để chi trả cho những
cá nhân gặp phải những sự kiện rủi ro. Rõ ràng, nếu không áp dụng nguyên tắc có
đóng có hưởng thì quỹ bảo hiểm xã hội chắc chắn phải sử dụng kinh phí từ Ngân
sách Nhà nước, còn nếu chỉ thu từ phía người sử dụng lao động thì sẽ không tạo
được nguồn vật chất đủ lớn để chi trả bảo hiểm xã hội, và kéo theo đó thì ý nghĩa
chia sẻ rủi ro, tương trợ cộng đồng cũng không được thể hiện. Do vậy, để thực hiện
nguyên tắc trên thì những người được thụ hưởng các quyền lợi do quỹ bảo hiểm xã
hội chi trả hoặc họ phải trực tiếp đóng góp vào quỹ hoặc người thân của họ là
người lao động có tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc và thực hiện trách nhiệm
đóng góp vào quỹ BHXH theo quy định.
Tất nhiên, việc người lao động đóng góp vào quỹ bảo hiểm xã hội không có
nghĩa sẽ hưởng mọi chế độ bảo hiểm xã hội, số tiền họ đóng vào trong trường hợp
họ không phải sử dụng đến thì sẽ dùng vào việc chi trả cho các đối tượng ít may
mắn, gặp phải nhiều rủi ro trong cuộc sống hơn, qua đó mới thể hiện được sự tương
trợ cộng đồng của bảo hiểm xã hội. Từ nguyên tắc này, pháp luật bảo hiểm xã hội
quy định việc xác định mức hưởng bảo hiểm xã hội được tính trên cơ sở mức đóng,




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status