BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGUYỄN BÁ HOÀNG
PHÒNG NGỪA CÁC TỘI PHẠM VỀ MA TÚY
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NGHỆ AN
Chuyên ngành: Tội phạm học và phòng ngừa tội phạm
Mã số: 60 38 01 05
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. NGUYỄN VĂN TUÂN
HÀ NỘI - 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi.
Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn là chính xác và trung thực. Các
kết quả trong luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào
khác.
TÁC GIẢ
Nguyễn Bá Hoàng
29
1.2.1. Diễn biến về mức độ của các tội phạm về ma túy trên địa bàn tỉnh Nghệ
An trong giai đoạn 2009 - 2013.
29
1.2.2. Diễn biến về tính chất của các tội phạm về ma túy trên địa bàn tỉnh
Nghệ An trong giai đoạn 2009 - 2013.
33
Kết luận chƣơng 1
38
Chƣơng 2: NGUYÊN NHÂN CỦA CÁC TỘI PHẠM VỀ MA TÚY
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NGHỆ AN
39
2.1. Nguyên nhân về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội.
39
2.2. Nguyên nhân về giáo dục và công tác tuyên truyền, phổ biến pháp
luật.
43
3.2. Biện pháp nâng cao hiệu quả phòng ngừa các tội phạm về ma túy
trên địa bàn tỉnh Nghệ An.
58
3.2.1. Biện pháp về điều kiện tự nhiên và biện pháp về kinh tế - xã hội.
58
3.2.2. Biện pháp về giáo dục và công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật.
60
3.2.3. Biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của công tác quản lý nhà nước.
63
3.2.4. Biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động các cơ quan tiến hành tố tụng và
thi hành án hình sự.
65
3.2.5. Biện pháp phòng ngừa từ phía người phạm tội.
67
Kết luận chƣơng 3
68
Bảng 1.13: Cơ cấu theo tái phạm, tái phạm nguy hiểm; phạm tội lần đầu của
người phạm tội về ma túy
Bảng 1.14: Cơ cấu theo số người nghiện, không nghiện ma túy của người
phạm tội về ma túy
Bảng 1.15: Cơ cấu theo giới tính của người phạm tội.
Bảng 1.16: Cơ cấu theo độ tuổi của người phạm tội về ma túy
Bảng 1.17: Cơ cấu theo trình độ văn hóa của người phạm tội về ma túy
Bảng 1.18: Cơ cấu theo nghề nghiệp của người phạm tội về ma túy
Bảng 1.19: Cơ cấu theo dân tộc của người phạm tội về ma túy
Bảng 1.20: Mức độ tăng, giảm hàng năm của số vụ án, số người phạm tội về ma
túy trên địa bàn tỉnh Nghệ An trong giai đoạn 2009 – 2013
Bảng 1.21: Mức độ tăng, giảm hàng năm của số vụ án, số người phạm tội nói
chung trên địa bàn tỉnh Nghệ An trong giai đoạn 2009 – 2013.
Bảng 1.22: Mức độ tăng, giảm hàng năm của số người phạm tội về ma túy bị
kết án tù có thời hạn trên 15 năm, chung thân và tử hình trên địa
bàn tỉnh Nghệ An giai đoạn 2009 - 2013
Bảng 1.23: Mức độ tăng, giảm hàng năm của số người phạm tội về ma túy
thuộc trường hợp tái phạm, tái phạm nguy hiểm trên địa bàn tỉnh
Nghệ An trong giai đoạn 2009 – 2013
Bảng 1.24: Mức độ tăng, giảm hàng năm của số người phạm tội về ma túy
trong độ tuổi từ 14 đến dưới 18 tuổi và từ 18 tuổi đến dưới 30 tuổi
trên địa bàn tỉnh Nghệ An trong giai đoạn 2009 – 2013
Bảng 1.25: Mức độ tăng, giảm hàng năm của số người phạm tội về ma túy
nghiện ma túy trên địa bàn tỉnh Nghệ An trong giai đoạn 2009 2013
II. DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1.1: So sánh số vụ án, số người phạm tội về ma túy trên địa bàn tỉnh
Biểu đồ 1.19: Diễn biến của số người phạm tội về ma túy và số người phạm
tội phạm tội nói chung trên địa bàn tỉnh Nghệ An trong giai đoạn
2009 – 2013.
Biểu đồ 1.20: Diễn biến của số người phạm tội về ma túy bị kết án tù có thời
hạn trên 15 năm, chung thân và tử hình trên địa bàn tỉnh Nghệ
An giai đoạn 2009 - 2013
Biểu đồ 1.21: Diễn biến của số người phạm tội về ma túy bị kết án tù có thời
hạn trên 15 năm, chung thân và tử hình trên địa bàn tỉnh Nghệ
An giai đoạn 2009 – 2013
Biểu đồ 1.22: Diễn biến của số người phạm tội về ma túy bị kết án tù trong độ
tuổi từ 14 đến dưới 18 tuổi và từ 18 tuổi đến dưới 30 tuổi trên địa
bàn tỉnh Nghệ An trong giai đoạn 2009 – 2013
Biểu đồ 1.23: Diễn biến của số người phạm tội về ma túy nghiện ma túy trên
địa bàn tỉnh Nghệ An trong giai đoạn 2009 - 2013
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Nghệ An là một tỉnh thuộc vùng Bắc Trung Bộ với diện tích 16.490,7
km2, lớn nhất cả nước; dân số 2.917.400 người, đứng thứ tư cả nước, có 21
đơn vị hành chính (1 thành phố, 3 thị xã và 17 huyện). Có thành phố Vinh là
đô thị loại 1, là cầu nối giữa hai miền Bắc - Nam, cửa ngõ sang Lào, Đông
Bắc Thái Lan. Nghệ An là tỉnh có địa hình phức tạp, có 10 huyện miền núi,
rẻo cao với hàng chục dân tộc anh em như: Kinh, Mông, Thái, Thổ,
Mường....; trong đó 6 huyện có đường biên giới với nước bạn Lào với đường
biên giới Việt – Lào dài 419 km tiếp giáp với 3 tỉnh Hủa Phăn, Xiêng Khoảng
và PôLyKhămXay với hàng trăm đường tiểu ngạch. Nghệ An có bờ biển phía
Đông dài 82km; là tỉnh có cả cửa khẩu, sân bay và bến cảng [21]. Cùng với sự
Nghệ An, để làm sáng tỏ nguyên nhân của loại tội phạm này. Từ đó, đưa ra
những giải pháp nâng cao hiệu quả phòng ngừa các tội phạm về ma túy trên
địa bàn tỉnh Nghệ An.
Vì những lý do trên, tác giả lựa chọn đề tài: “Phòng ngừa các tội phạm
về ma túy trên địa bàn tỉnh Nghệ An” cho luận văn thạc sĩ của mình. Tác giả
mong muốn luận văn này có thể làm tài liệu tham khảo trong việc nghiên cứu
tội phạm về ma túy trên địa bàn tỉnh Nghệ An cũng như các tỉnh khác có điều
kiện tương tự Nghệ An.
2. Tình hình nghiên cứu.
Trong những năm gần đây, các tội phạm về ma túy đã được nhiều tác
giả đề cập trong công trình nghiên cứu của mình ở những phạm vi, khía cạnh
và mức độ khác nhau như:
- Luận án tiến sỹ Luật học “Đấu tranh phòng chống các tội phạm về ma
túy ở Việt Nam” trong giai đoạn 1998 đến năm 2006 của tác giả Nguyễn
Tuyết Mai;
3
- Luận văn thạc sỹ Luật học nghiên cứu về tình hình, nguyên nhân và
các giải pháp phòng ngừa các tội phạm về ma túy ở phạm vi từng địa phương:
“Đấu tranh phòng, chống tội phạm về ma túy trên địa bàn tỉnh Yên Bái”
(2004) của tác giả Nguyễn Anh Thúy; “Đấu tranh phòng, chống tội phạm về
ma túy trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh” (2005) của tác giả Phạm Tiến Quang;
“Đấu tranh phòng, chống tội phạm về ma túy trên địa bàn tỉnh Lào Cai”
(2007) của tác giả Thân Công Thành; “Đấu tranh phòng chống các tội phạm
về ma túy trên địa bàn tỉnh Nghệ An” của tác giả Nguyễn Lương Hòa (2003);
“Phòng ngừa các tội phạm về ma túy trên địa bàn tỉnh Lai Châu” (2010) của
tác giả Đỗ Tiến Dũng; “Phòng ngừa các tội phạm về ma túy trên địa bàn tỉnh
Hòa Bình” (2011) của tác giả Đỗ Mạnh Phương; “Phòng ngừa các tội phạm
2013.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu.
- Mục đích nghiên cứu của luận văn: Đề xuất các biện pháp nâng cao
hiệu quả phòng ngừa các tội phạm về ma túy phù hợp với đặc thù riêng về
kinh tế, địa lý, xã hội… của tỉnh Nghệ An trong thời gian tới.
- Để đạt được mục đích trên, luận văn có những nhiệm vụ cơ bản sau:
+ Đánh giá được tình hình các tội phạm về ma túy trên địa bàn tỉnh
Nghệ An trong thời gian từ năm 2009 đến năm 2013;
+ Làm sáng tỏ nguyên nhân của các tội phạm về ma túy trên địa bàn
tỉnh Nghệ An;
+ Dự báo tình hình các tội phạm về ma túy trên địa bàn tỉnh Nghệ An
trong thời gian sắp tới;
+ Đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả phòng ngừa các tội phạm về
ma túy trên địa bàn tỉnh Nghệ An.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu.
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy
vật biện chứng và duy vật lịch sử.
5
Ngoài ra, luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu cụ
thể như: Phương pháp phân tích thứ cấp (các số liệu và hồ sơ của các cơ quan
chức năng để thu thập số liệu thực tiễn), phương pháp thống kê (để xử lý các
số liệu), phương pháp chọn mẫu xác suất ngẫu nhiên, phương pháp tiếp cận
định lượng, tiếp cận bộ phận, phương pháp phân tích, phương pháp so sánh,
phương pháp tổng hợp... để thực hiện nghiên cứu đề tài.
6. Những kết quả nghiên cứu mới của luận văn.
Việc nghiên cứu đề tài: “Phòng ngừa các tội phạm về ma túy trên địa
bàn tỉnh Nghệ An” ngoài việc đánh giá được tình hình các tội phạm về ma túy
1.1. Thực trạng của các tội phạm về ma túy trên địa bàn tỉnh Nghệ
An trong giai đoạn 2009 - 2013.
Thực trạng của tội phạm là tình trạng thực tế của tội phạm đã xảy ra
trong đơn vị không gian và thời gian nhất định xét về mức độ và tính chất [18,
tr.112]. Nghiên cứu thực trạng của tội phạm là nghiên cứu hai đặc điểm của
thực trạng: Đặc điểm về mức độ (phản ánh qua số lượng tội phạm và số lượng
người phạm tội) và đặc điểm về tính chất (phản ánh qua cơ cấu của tội phạm
và người phạm tội).
1.1.1. Thực trạng về mức độ của các tội phạm về ma túy trên địa
bàn tỉnh Nghệ An trong giai đoạn 2009 - 2013.
Để đánh giá được thực trạng về mức độ của các tội phạm về ma túy
chúng ta đánh giá thông qua tội phạm rõ (tức là tội phạm đã bị điều tra, truy
tố, xét xử về hình sự và có trong thống kê hình sự chính thức) và số lượng tội
phạm ẩn (là tội phạm chưa được phát hiện, xử lý nên không có trong thống kê
7
hình sự). Có như vậy, việc đánh giá thực trạng của các tội phạm về ma túy
mới được đầy đủ và toàn diện.
* Tội phạm rõ:
Theo thống kê của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An, từ năm 2009 đến
năm 2013 số vụ án phạm tội về ma túy bị đưa ra xét xử sơ thẩm trên địa bàn
tỉnh Nghệ An là 3608 vụ án với 4366 người phạm tội về tội phạm này. Như
vậy, trung bình mỗi năm Tòa án nhân dân các cấp tỉnh Nghệ An đã xét xử 722
vụ án về ma túy với 873 người phạm tội.
Bảng 1.1: Số vụ án và số ngƣời phạm tội về ma túy trên địa bàn tỉnh
Nghệ An trong giai đoạn 2009 - 2013
Năm
2009
trong những năm gần đây.
Để đánh giá được một cách toàn diện, chính xác hơn về thực trạng về
mức độ của các tội phạm về ma túy trên địa bàn tỉnh Nghệ An trong giai đoạn
2009 – 2013 chúng ta sẽ phân tích các số liệu như tổng số vụ án hay tổng số
người phạm tội về ma túy trong sự so sánh với các số liệu khác liên quan.
8
Thứ nhất, khi phân tích, đánh giá về thực trạng về mức độ của các tội
phạm về ma túy trên địa bàn tỉnh Nghệ An thì không thể bỏ qua chỉ số tội
phạm và chỉ số người phạm tội. Chỉ số tội phạm và chỉ số người phạm tội
được xác định để tìm hiểu mức độ phổ biến của tội phạm trong dân cư.
Bảng 1.2: Chỉ số tội phạm và chỉ số ngƣời phạm tội về ma túy trên địa
bàn tỉnh Nghệ An trong giai đoạn 2009 - 2013
Năm
Dân số
Số vụ
án
2009
2010
2.912.041
2.917.400
718
694
933
31,61
2013
Trung
bình
2.965.300
720
24,28
852
28,73
2.937.928
722
24,84
873
29,72
Chỉ số tội
Số vụ Số ngƣời
án
phạm tội
Tội phạm về ma túy
trên toàn quốc (2)
Tỷ lệ (1) so với (2)
Số vụ
án
Số ngƣời
phạm tội
Số vụ
án
Số ngƣời
phạm tội
2009
718
901
10750
13956
5,25%
2012
2013
Trung bình
Tổng
759
720
722
3608
933
852
873
4366
15027
15186
12967
64837
18758
19287
16353
81765
5,05%
4,74%
Nghệ An
Toàn quốc
Nhìn vào bảng số liệu và biểu đồ trên chúng ta có thể thấy, so với tổng
số vụ án phạm tội về ma túy trên toàn quốc thì số lượng vụ án phạm tội về ma
túy trên địa bàn tỉnh Nghệ An trong giai đoạn 2009 – 2013 chiếm một tỷ lệ
tương đối cao khoảng 5,56 % ( 3608 vụ/64837 vụ). Số lượng người phạm tội
về ma túy trên toàn quốc trong giai đoạn 2009 – 2013 là 81765, trong đó
Nghệ An có tới 4366 người phạm tội, chiếm 5,34%.
10
Việt Nam hiện nay có 63 tỉnh, thành phố, nên khi chia đều số vụ án và
số người phạm tội về ma túy thì trong giai đoạn 2009 – 2013 trung bình hàng
năm mỗi tỉnh có khoảng 206 vụ án với 260 người phạm tội về ma túy. Như
vậy, so với trung bình cả nước thì Nghệ An có số vụ án và số người phạm tội
về ma túy lớn hơn rất nhiều (trung bình 722 vụ án về ma túy với 873 người
phạm tội).
Thứ ba, so sánh số vụ án và số người phạm tội về ma túy với tội phạm
nói chung trên địa bàn tỉnh Nghệ An cũng cho ta thấy được “bức tranh” các
tội phạm về ma túy trên địa bàn tỉnh.
Bảng 1.4: Số vụ án, số ngƣời phạm tội về ma túy so với số vụ án,
số ngƣời phạm tội nói chung trên trên địa bàn tỉnh Nghệ An trong
giai đoạn 2009 -2013
Năm
2410
3459
29,80%
26,05%
2010
2011
694
717
866
814
2171
2218
3882
3854
31,97%
32,32%
22,31%
21,12%
3608
4366
11001
19731
32,80%
22,13%
(Nguồn: Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An)
Biểu đồ 1.2: So sánh các tội phạm về ma túy với số tội phạm nói chung
trên địa bàn tỉnh Nghệ An trong giai đoạn 2009 – 2013
11
25000
19731
20000
15000
11001
10000
5000
tỉnh như Điện Biên (là một tỉnh miền núi Tây Bắc có đường biên giới với Lào
và Trung Quốc); Thanh Hóa (là một tỉnh Bắc Trung Bộ có nét tương đồng với
Nghệ An về vị trí địa lý, địa hình, phía Tây giáp Lào, phía Đông giáp biển).
12
Bảng 1.5: Chỉ số tội phạm, chỉ số ngƣời phạm tội về ma túy trên địa bàn các
tỉnh Nghệ An, Điện Biên, Thanh Hóa và Toàn quốc trong giai đoạn 2009 –
2013 (tính trên 100.000 dân)
Nghệ An
Năm
Điện Biên
Thanh Hóa
Toàn quốc
Chỉ
Chỉ
Chỉ
Chỉ số
Chỉ
số
Chỉ số
Chỉ
số
Chỉ
số
2010
23,79
29,68
80,08
99,11
10,27
12,45
13,01
16,39
2011
25,79
27,66
83,94
106,97
14,68
29,72
12,26
14,82
14,72
18,57
88,20
109,64
(Nguồn: Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An, Điện Biên, Thanh Hóa; Tòa án
nhân dân tối cao; Tổng cục thống kê)
Biểu đồ 1.3: So sánh chỉ số tội phạm, chỉ số ngƣời phạm tội về ma túy trên
địa bàn tỉnh Nghệ An với các tỉnh Điện Biên, Thanh Hóa và Toàn quốc
trong giai đoạn 2009 – 2013
13
Xem xét về chỉ số tội phạm và chỉ số người phạm tội về ma túy trên
phạm vi toàn quốc thì trung bình hàng năm cứ 100.000 dân thì ở Việt Nam
xảy ra gần 15 vụ phạm tội về ma túy với 19 người phạm tội về tội này. Như
vậy, thì chỉ số tội phạm và chỉ số người phạm tội về tội này ở Nghệ An là cao
hơn nhiều (cứ 100.000 dân có gần 25 vụ phạm tội về ma túy với 30 người
phạm tội về ma túy). So sánh với Thanh Hóa và Điện Biên thì Nghệ An có chỉ
5146
5596
5935
6810
7136
6124
(Nguồn: Phòng PCTNXH Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Nghệ An)
Thống kê cho thấy, trong giai đoạn 2009 – 2013 trung bình hàng năm
toàn tỉnh có 6124 người nghiện ma túy có hồ sơ quản lý, hệ số người nghiện
tính trên 100.000 dân là 208. Đó là chưa tính đến một số lượng rất lớn người
nghiện ma túy không có hồ sơ quản lý.
14
* Tội phạm ẩn:
Để đánh giá đúng thực trạng của tội phạm về ma túy, chúng ta không
chỉ dựa vào tội phạm rõ (tức là tội phạm đã bị điều tra, truy tố, xét xử về hình
sự và thông thường có trong thống kê hình sự chính thức) mà còn phải dựa
vào việc đánh giá tội phạm ẩn vì số liệu tội phạm rõ chỉ phản ánh được phần
nào thực trạng tội phạm về ma túy.
Tội phạm ẩn là số lượng tội phạm đã thực hiện trên thực tế, nhưng
không được tường thuật với cơ quan cảnh sát hoặc chưa bị phát hiện bởi cơ
quan có thẩm quyền và do vậy, chưa bị đưa ra xét xử, chưa có trong thống kê
tỉnh Nghệ An giai đoạn 2009 – 2013.
Thực trạng của tội phạm xét về tính chất được nghiên cứu trên cơ sở
nghiên cứu các cơ cấu của tội phạm. Qua cơ cấu của tội phạm theo tiêu thức
nhất định có thể rút ra được nhận xét về tính chất của tội phạm. Xem xét cơ
cấu là xem xét tỉ trọng của từng bộ phận của mỗi cơ cấu để từ đó rút ra được
những nhận xét nhất định về tính chất của tội phạm. Như vậy, những cơ cấu
của tội phạm có thể được xem xét là những cơ cấu có thể phản ánh ở mức độ
nhất định thực trạng của tội phạm xét về tính chất [18, tr.117].
* Cơ cấu theo tội danh của các tội phạm về ma túy:
Số vụ án xét xử về “Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc
chiếm đoạt chất ma túy” chiếm một số lượng rất lớn 3413 vụ (chiếm 94,59%),
với 3970 người phạm tội phạm tội này, (chiếm 90,93%). Các tội danh còn lại
số vụ án và số người phạm tội là rất thấp (192 vụ/396 người phạm tội) so với
tội danh quy định ở Điều 194 Bộ luật hình sự 1999 (đã được sửa đổi, bổ sung
2009). Như vậy, tội danh nổi cộm nhất trong thời gian qua trên địa bàn tỉnh
Nghệ An là tội ở Điều 194:“Tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc
chiếm đoạt chất ma túy”.
Bảng 1.7: Cơ cấu theo tội danh quy định tại Bộ luật hình sự 1999 của các
tội phạm về ma túy
16
Số vụ án
Tỷ lệ
(%)
Số ngƣời
phạm tội
bán trái phép hoặc chiếm đoạt
chất ma túy (Điều 194)
Các tội danh còn lại
Biểu đồ 1.4: Cơ cấu theo tội danh quy định tại Bộ luật hình sự 1999 của
các tội phạm về ma túy
* Cơ cấu theo loại tội phạm của người phạm tội về ma túy:
Theo quy định tại khoản 3 Điều 8 Bộ luật hình sự 1999 (sửa đổi, bổ
sung năm 2009) và Chương XVII quy định các tội phạm về ma túy thì chỉ có
Điều 192 là có loại tội phạm ít nghiêm trọng. Tuy nhiên, khi nghiên cứu 162
bản án với 251 người phạm tội thì không có người nào bị kết án về tội danh
quy định ở Điều 192. Do đó, có thể phân loại tội phạm ma túy thành 3 loại là:
tội nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng và tội đặc biệt nghiêm trọng. Qua
nghiên cứu 162 bản án với 251 người phạm tội, cho thấy các tội phạm về ma túy ở
Nghệ An tập trung vào loại tội nghiêm trọng chiếm tỷ lệ 78,09% (196 người phạm
tội), loại tội rất nghiêm trọng chiếm tỷ lệ 13,55% (34 người phạm tội), loại tội đặc
biệt nghiêm trọng chiếm tỷ lệ 8,36% (21 người phạm tội).
17
Bảng 1.8: Cơ cấu theo loại tội phạm của ngƣời phạm tội về ma túy
Số
ngƣời
phạm
tội
251
Tội nghiêm trọng
Nguồn: Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An
Biểu đồ 1.5: Cơ cấu theo loại tội phạm của ngƣời phạm tội về ma túy
* Cơ cấu theo loại và mức hình phạt đã được áp dụng đối với người
phạm tội về ma túy:
Trong giai đoạn 2009 - 2013 loại hình phạt chủ yếu mà Tòa án nhân
dân các cấp trên địa bàn tỉnh Nghệ An áp dụng đối với người phạm tội về ma
túy là hình phạt tù có thời hạn dưới 3 năm tù với 2255 người phạm tội, chiếm
tỷ lệ 51,65% tổng số người phạm tội. Số người phạm tội về ma túy bị áp dụng
mức hình phạt từ 3 năm đến 7 năm tù với 1072 người phạm tội, chiếm tỷ lệ
24,55%; số người phạm tội bị áp dụng mức hình phạt từ 7 năm tù đến 15 năm
tù với 798 bị cáo, chiếm tỷ lệ 18,28%; tiếp theo là số người phạm tội bị áp
dụng mức hình phạt tù có thời hạn trên 15 năm tù với 168 người phạm tội,
chiếm tỷ lệ 3,85%; chiếm một tỷ lệ tương đối ít là số người phạm tội bị áp
dụng mức hình phạt tù chung thân với 42 người phạm tội, chiếm tỷ lệ 0,96%;
có một tỷ lệ ít người phạm tội về ma túy bị kết án dưới 3 năm tù nhưng cho