Phòng ngừa các tội phạm về cờ bạc trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh - Pdf 33

Bài tập học kỳ môn Tội phạm học

MỤC LỤC
MỤC LỤC...................................................................................................................1
LỜI MỞ ĐẦU.............................................................................................................1
NỘI DUNG.................................................................................................................2
I, Tóm tắt kết quả nghiên cứu về tình hình tội phạm của tác giả Dương Vân Anh.
.................................................................................................................................2
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO..................................................................20

LỜI MỞ ĐẦU
Quảng Ninh là một thành phố năng động - là trọng điểm kinh tế của khu vực
Bắc Bộ, phát triển mạnh mẽ nhất là về công nghiệp, dịch vụ… Bên cạnh sự phát
triển về kinh tế - xã hội đó thì Quảng Ninh cũng là tỉnh có tỷ lệ tội phạm cao trong
cả nước. Đặc biệt là những tội phạm liên quan tới các tệ nạn xã hội, trong đó có tệ
nạn cờ bạc.
Tệ nạn cờ bạc nói chung và các tội phạm về cờ bạc nói riêng là những hành
vi nguy hiểm cho xã hội, không chỉ ảnh hưởng tới sự phát triển của nền kinh tế mà
còn ảnh hưởng tới an toàn công cộng, trật tự công cộng. Cờ bạc cũng là một trong
những nguyên nhân của các tội phạm nguy hiểm khác như cố ý gây thương tích,
giết người, trộm cắp tài sản…
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề đó, em đã lựa chọn đề tài: “Trên
cơ sở nghiên cứu một luận văn thạc sĩ về tội phạm học, hãy trình bày tóm tắt về
tình hình tội phạm trong luận văn đó. Nêu ưu điểm, hạn chế của tác giả khi
nghiên cứu về tình hình tội phạm” thông qua việc nghiên cứu luận văn Thạc sĩ
Luật học“Phòng ngừa các tội phạm về cờ bạc trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh” của
tác giả Dương Vân Anh, năm 2012.

Nguyễn Ngọc Lam - 352506

Page 1



Bài tập học kỳ môn Tội phạm học
2006

32

171

2007

41

174

2008

45

338

2009

38

193

2010

18

Năm

1
2006
2007

Nhóm tội
phạm xâm
phạm
ATCC,
TTCC

Tội phạm nói
chung

Số

Số bị

Số

Số bị

Số

Số bị

vụ

cáo

2417
2387

Nguyễn Ngọc Lam - 352506

Tỉ lệ phần trăm so với nhóm
tội XP ATCC, TTCC và so
với tội phạm nói chung
So với nhóm

So với tội

tội phạm XP

phạm nói

ATCC, TTCC
chung
2/4
3/5
2/6
3/7
8
9
10
11
12.5% 38% 2.1% 7.1%
16.6% 40% 2.9% 7.3%
Page 3


2720

1437 2593
1457 2654
1322 2138
1595 2801
8762 14990

21.0%
18.3%
8.6%
14.5%
15.1%

63.5%
43.5%
19.6%
43.9%
43.1%

3.1% 13.0%
2.6% 7.3%
1.4% 3.0%
2.2% 8.3%
2.4% 7.8%

Trong 54 Điều luật thuộc nhóm tội xâm phạm ATCC, TTCC thì các tội phạm
về cờ bạc chỉ quy định ở 2 Điều luật với các tội danh (Tội đánh bạc, tội tổ chức
đánh bạc, và tội gá bạc) nhưng trong 6 năm 2006-2011 tại tỉnh Quảng Ninh các tội
phạm về cờ bạc lại chiếm tới 15,1% số vụ và chiếm tới 43,1% về số bị cáo bị xét


2009
3,3
16,8

2010
1,6
5,6

2011
3,0
20,0

Nhìn vào bảng ta thấy chỉ số các tội phạm về cờ bạc trên địa bàn tỉnh Quảng
Ninh là không cao, trung bình mỗi năm cứ khoảng 100.000 dân thì có khoảng hơn 3
vụ phạm các tội phạm cờ bạc với khoảng trên 17 người phạm tội. Nếu so với các tội
Nguyễn Ngọc Lam - 352506

Page 4


Bài tập học kỳ môn Tội phạm học
khác trên địa bàn như tội trộm cắp tài sản, cướp tài sản thì chỉ số tội phạm về số
vụ cờ bạc là rất thấp, tuy nhiên chỉ số tội phạm về số bị cáo lại là khá cao. Nếu so
sánh mức độ phổ biến của các tội cờ bạc trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh với một số
tỉnh khác thì Quảng Ninh cao hơn Lạng Sơn (khoảng 1,8 vụ với 13,5 bị cáo), nhưng
lại thấp hơn so với Thái Nguyên (khoảng 4,8 vụ với 23,2 bị cáo).
 Qua các nội dung phân tích, so sánh tác giả đã trình bày được thực trạng của
các tội phạm về cờ bạc trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh trong mối tương quan với thực
trạng của các tội phạm thuộc nhóm tội xâm phạm ATCC, TTCC cũng như của tội

100%
41
174
128,1%
101,8%
45
338
140,6%
197,7%
38
193
118,8%
112,9%
18
65
56,3%
38,0%
35
232
109,4%
135,7%
Nguồn: Phòng thống kê VKSND Tỉnh Quảng Ninh

Qua bảng số liệu cho thấy tỉ lệ tăng số vụ và số bị cáo bị xét xử về các tội
phạm cờ bạc là xu hướng chung, năm tăng cao nhất là 2008 (tăng 40,6% số vụ và
97,7% số bị cáo) các năm khác chỉ tăng dao động dưới 28,1% về số vụ và 35,7% về
số bị cáo. Riêng năm 2010 lại có xu hướng giảm cả về số vụ và số bị cáo. Sở dĩ năm
2010 có xu hướng giảm là do có sự thay đổi của pháp luật hình sự nước ta theo xu
Nguyễn Ngọc Lam - 352506


gian 2006-2011
Cơ cấu tội phạm thể hiện rõ nội dung bên trong của tội phạm cũng như tạo cơ
sở cho việc xem xét nguyên nhân của tội phạm.
1.3.1, Cơ cấu theo tội danh

Nguyễn Ngọc Lam - 352506

Page 6


Bài tập học kỳ môn Tội phạm học
Trong thời gian 6 năm (2006 – 2011) tòa án các cấp trên địa bàn Tỉnh Quảng
Ninh đã xét xử 209 vụ với 1173 bị cáo phạm các tội về cờ bạc. Trong số 209 vụ án
bị đưa ra xét xử có tới 195 vụ đánh bạc (chiếm 93,3%) với 990 bị cáo (chiếm
84,5%), chỉ có 14 vụ tổ chức đánh bạc hoặc gạ bạc (chiếm 6,7%) với 183 bị cáo
(chiếm 15,6%).
Biểu đồ 1: Cơ cấu các loại tội phạm về cờ bạc theo tội danh

Ngoài ra, qua nghiên cứu 100 bản án với 558 bị cáo tác giả xác định có 491 bị
cáo thực hiện hành vi đánh bạc (chiếm 87,99%), 21 bị cáo thực hiện hành vi tổ chức
đánh bạc (chiếm 3,76%), 19 bị cáo thực hiện hành vị gá bạc (chiếm 3,41%), 17 bị
cáo thực hiện cả hành vi đánh bạc và tổ chức đánh bạc (chiếm 3.05%), 10 bị cáo
thực hiện hành vi đánh bạc và gá bạc (chiếm 1.79%). Qua những số liệu và kết quả
nghiên cứu trên cho thấy tội đánh bạc chiếm tỉ lệ lớn nhất trong tội này. Trong đó,
hành vi tổ chức đánh bạc và gá bạc đóng vai trò quan trọng, tạo điều kiện thuận lợi
cho sự phát triển của tội đánh bạc và ngược lại, khi nhu cầu đánh bạc càng phổ biến
trên thực tế thì tất yếu cũng kéo theo sự xuất hiện càng đông đảo của đội ngũ những
người dựa vào hoạt động đó để kiếm tiền - những người tổ chức đánh bạc và gá bạc.
1.3.2, Cơ cấu theo loại tội ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng
Qua khảo sát 100 bản án với 558 bị cáo tác giả xác định có tới 313 bị cáo phạm

2010
2011
Tổng
6 năm
Tỉ lệ

Phạt tù

Cải tạo
giữ

trờ xuống

7 năm

163
169
320
176
62
219

6
5
16
6
1
8

1109

94,55%
3,58%
Nguồn: Phòng thống kê VKSND Tỉnh Quảng Ninh

Từ trên
7 – 15 năm

1

1
2
0,17%

Biểu đồ 3: Cơ cấu về loại hình phạt và mức hình phạt tù được áp dụng:

Nguyễn Ngọc Lam - 352506

Page 8


Bài tập học kỳ môn Tội phạm học

Qua bảng thống kê cho thấy loại hình phạt được áp dụng đối với các bị cáo
phạm các tội phạm về cờ bạc chủ yếu là phạt tù (chiếm tới 98,3%). Trong đó, hình
phạt tù từ 3 năm trở xuống chiếm tới 94,55%; hình phạt tù từ 3 năm tới 7 năm chiến
3,58% ; hình phạt tù từ 7 năm tới 15 năm chỉ chiếm 0,17%. Ngoài ra, trong số 1108
bị cáo bị phạt tù từ 3 năm trở xuống thì có tới 809 bị cáo phạt tù cho hưởng án treo
(chiếm 72,95% tổng số bị cáo bị áp dụng hình phạt tù từ 3 năm trở xuống và chiếm
tới 68,97% tổng số bị cáo bị xét xử).
Bên cạnh hình phạt chính thì không thể không kể tới hình phạt bổ sung được áp


(Nguồn:100 bản án về các tội phạm về cờ bạc trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh)
1.3.5, Cơ cấu theo quy mô thực hiện tội phạm.
Các vụ cờ bạc trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh có quy mô rất đa dạng. Có vụ chỉ
có quy mô nhỏ, số lượng người tham gia ít, nhưng cũng có vụ có quy mô lớn với số
lượng người tham gia đông.
Qua khảo sát 100 bản án tác giả nhận thấy có tới 61% số vụ phạm tội được
thực hiện với quy mô vừa và nhỏ (dưới 10 người), chỉ có 39% số vụ phạm tội được
thực hiện với quy mô lớn (từ 10 người đánh bạc tham gia trở lên). Nhưng lại có
những vụ có tới 30 đến 50, thậm chí hàng trăm người tham gia. Tuy nhiên số người
bị bắt và xét xử trong các vụ án này chỉ chiếm khoảng 20% đến 30%.
Dựa vào những con số thống kê trên có thể thấy, các tội phạm về cờ bạc được
thực hiện phần lớn ở quy mô vừa và nhỏ. Tuy nhiên, với tỉ lệ 39% số vụ phạm tội
được thực hiện với quy mô lớn cũng có thể cho thấy tính chất phức tạp và nghiêm
trọng của loại tội phạm này trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh trong thời gian vừa qua.
1.3.6, Cơ cấu theo tính chất tổ chức thực hiện phạm tội

Nguyễn Ngọc Lam - 352506

Page 10


Bài tập học kỳ môn Tội phạm học
Phần lớn các vụ cờ bạc trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh được thực hiện một cách
tự phát, mang tính nhỏ lẻ, tạm bợ, mức độ liên kết giữa những người tham gia ít bền
vững. Nhưng cũng có không ít những vụ phạm tội mà có tính chất tổ chức thực hiện
hành vi phạm tội ở mức độ tinh vi, có sự phối hợp chặt chẽ, quy củ gữa các thành
viên, mang tính chuyên nghiệp.
Qua khảo sát 100 bản án tác giả nhận thấy có tới 82% số vụ được thực hiện
một các tự phát và 18% số vụ là có tính chất tổ chức. Thực tế cho thấy tính chất tổ

chuyện buồn gia đình mà tham gia đánh bạc như một loại hình giải trí; cũng có bị
cáo thực hiện hành vi đánh bạc do hoàn cảnh khó khăn nên mong muốn kiếm tiền
giúp đỡ gia đình và cũng có bị cáo thực hiện hành vi do bị rủ rê, lôi kéo, do tò mò,
muốn thử vận may.
Qua khảo sát 100 bản án với 558 bị cáo tác giả đã xác định có 325 bị cáo thực
hiện hành vi xuất phát từ động cơ kiếm tiền làm giàu(chiếm 58,24%); 139 bị cáo
thực hiện hành vi xuất phát từ động cơ giải trí (chiếm 24,91%); 63 bị cáo thực hiện
hành vi xuất phát từ mong muốn kiếm tiền phụ giúp gia đình(chiếm 11,29%); 31 bị
cáo thực hiện hành vi do tò mò, muốn thử vận may(5,56%).
1.3.9, Cơ cấu theo đặc điểm nhân thân người phạm tội
Tác giả nghiên cứu nhân thân người phạm tội theo các tiêu chí: nghề nghiệp,
trình độ văn hóa, tiền án tiền sự, tuổi, giới tính.
Căn cứ vào kết quả nghiên cứu 100 bản án với 558 bị cáo, tác giả nhận thấy
rằng: tội phạm về cờ bạc trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh chủ yếu do người không có
việc làm thực hiện (chiếm 50,2%). Các bị cáo phạm tội cờ bạc có trình độ văn hóa
không cao (số có trình độ văn hóa từ THCS trở xuống chiếm 74,02%). Về lý lịch tư
pháp của những người phạm tội cờ bạc ít có tiền án tiền sự (chỉ chiếm 11,11%). Về
độ tuổi, giới tính của các bị cáo thuộc từ 18 đến 30 (chiếm tỷ lệ cao nhất 43,91%).
1.4, Tính chất của các tội phạm về cờ bạc trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh giai
đoạn 2006 - 2011
Từ cơ cấu các tội phạm về cờ bạc đã nghiên cứu ở trên, có thể rút ra một số
tính chất đặc trưng của các tội phạm về cờ bạc trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh giai
đoạn 2006- 2011 như sau:
Thứ nhất, các tội phạm về cờ bạc xảy ra trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh thời gian
qua chủ yếu là tội đánh bạc (chiếm 93.3% về số vụ và 84.4% về số bị cáo).
Hai là, các tội phạm về cờ bạc ở tỉnh Quảng Ninh xảy ra chủ yếu thuộc loại tội
ít nghiêm trọng và nghiêm trọng. Trong đó, số tội ít nghiêm trọng chiếm tỉ lệ thấp
hơn (43,55% so với 56,09%).

Nguyễn Ngọc Lam - 352506

về nội dung bài viết; những ưu điểm, hạn chế của tác giả khi nghiên cứu về tình
hình tội phạm.
Như chúng ta đã biết, nội dung mà tác giả Dương Vân Anh đề cập đó chính là
“bức tranh” tội phạm về cờ bạc trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh trong khoảng thời
gian sáu năm (từ 2006 đến 2011). Điểm nổi bật nhất, dễ dàng nhận thấy về ưu điểm

Nguyễn Ngọc Lam - 352506

Page 13


Bài tập học kỳ môn Tội phạm học
của Luận văn này đó chính là bố cục hợp lý, logic. Tác giả đã thực hiện được
những yêu cầu cơ bản đặt ra khi nghiên cứu về tình hình tội phạm thông qua việc
trình bày cụ thể bốn phần: đó là thực trạng, diễn biến, cơ cấu và tính chất của các tội
phạm cờ bạc trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2006 -2011. Sau đây, bài viết
xin đi vào cụ thể từng phần:
2.1, Đánh giá về phần “Thực trạng các tội phạm về cờ bạc trên địa bàn tỉnh
Quảng Ninh trong thời gian 2006-2011”
Trước tiên, cần hiểu thực trạng nghĩa là gì? “Thực trạng là tình trạng thực tế
của tội phạm đã xảy ra trong đơn vị không gian, thời gian nhất định xét về mức độ
và về tính chất”. Hiểu một cách cụ thể hơn, thực trạng là tổng hợp các số liệu về số
vụ phạm tội đã xảy ra, số lượng người đã thực hiện các tội đó, và thông số về nạn
nhân trên một địa bàn nhất định và khoảng thời gian xác định.
Đối chiếu vào công trình Luận văn Thạc sĩ của tác giả Dương Vân Anh cho
thấy, tội phạm được lựa chọn để tìm hiểu thực trạng là các tội về cờ bạc; trên phạm
vi tỉnh Quảng Ninh và trong khoảng thời gian sáu năm, từ 2006 đến 2011. Thực
trạng của tội phạm được cấu thành từ các nội dung: tội phạm rõ, tội phạm ẩn, chỉ số
tội phạm. Trong đó:
- Về tội phạm rõ:

vậy thì bức tranh tội phạm mới được toàn diện. Tuy nhiên, Luận văn Thạc sĩ của
tác giả Dương Vân Anh lại thiếu sót phần tội phạm ẩn khi trình bày về thực
trạng tội phạm cờ bạc. Đây là một nhược điểm khá lớn của bài luận. Nếu chỉ đề cập
đến phần tội phạm rõ mà không đề cập đến tội phạm ẩn tức là mới chỉ trình bày
được phần nổi của “tảng băng chìm”. Bởi vì, tội phạm rõ chỉ nêu lên được những
vụ phạm tội cờ bạc đã bị phát hiện và xử lý về hình sự, có trong thống kê hình sự
chính thức (với con số còn khiêm tốn); còn số lượng lớn vụ phạm tội cờ bạc đã
được thực hiện trên thực tế ở Quảng Ninh nhưng không được tường thuật với cơ
quan có thẩm quyền hoặc chưa bị phát hiện một cách chính thức, chưa bị đưa ra xét
xử, chưa có thống kê hình sự chính thức,thì nó được biểu đạt ở đâu? Nếu không có
nghiên cứu về tội phạm ẩn thì người đọc sẽ không có cái nhìn toàn diện về tình hình
tội phạm cờ bạc trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh. Và thực tế cũng chứng minh rằng,
phần lớn tội phạm cờ bạc là tội phạm ẩn (nó thường hoạt động những nơi khó phát
hiện, khó xử lý) thế mà Luận văn Thạc sĩ này không dày công nghiên cứu mảng đề
tài này thì thực sự là khiếm khuyết.
Theo quan điểm của cá nhân em, để tạo được hiệu quả cho bài luận, tạo nét
mới hấp dẫn người đọc thì tác giả nên bổ sung về phần tội phạm ẩn, có thể sẽ khó
có được con số có độ chính xác cao nhưng phần nào tạo ra hướng nghiên cứu mới
mẻ cho đề tài nghiên cứu tình hình tội phạm cờ bạc. Ở đây, tác giả mới chỉ dừng lại

Nguyễn Ngọc Lam - 352506

Page 15


Bài tập học kỳ môn Tội phạm học
ở việc nêu lập luận rằng: số lượng tội phạm ẩn là rất lớn, các bị cáo đều đã thực
hiện lặp đi lặp lại trong một thời gian dài mới phát hiện. Nhưng như thế là chưa đủ,
còn quá sơ lược, tác giả cần dẫn chứng ra con số bị cáo cụ thể ở Quảng Ninh có
hành vi phạm tội cờ bạc nhiều lần; cần đưa ra số liệu để chứng minh quy mô, số



Bài tập học kỳ môn Tội phạm học
người phạm tội xảy ra trong năm này là số liệu gốc (coi là 100%). Sau đó, tác giả
lấy số liệu các năm tiếp theo đối chiếu với số liệu gốc.
Thứ hai, tác giả đã vận dụng hiệu quả cách trình bày các con số phản ánh
diễn biến bằng bảng số liệu và đồ thị. Đây là công cụ hỗ trợ cho việc mô tả diễn
biến của tội phạm một cách khoa học – hệ thống và rõ ràng. Với đồ thị, diễn biến
của tình hình tội phạm sẽ được thể hiện sinh động, rõ nét, giúp người nghiên cứu dễ
dàng phát hiện ra những biểu hiện có tính quy luật, tính bản chất để đưa ra đánh giá
chính xác về diễn biến của tội phạm. Nó cũng giúp người đọc thấy ngay được sự
vận động của tội phạm, xu hướng tăng hay giảm của tình hình tội phạm cờ bạc
trong khoảng thời gian xác định (2006- 2011).
Thứ ba, người nghiên cứu đã tìm ra xu hướng vận động của tội phạm cờ
bạc ở tỉnh Quảng Ninh năm 2006 – 2011 đó là “tỉ lệ tăng số vụ và số bị cáo bị xét
xử về các tội phạm cờ bạc là xu hướng chung”. Bên cạnh đó, tác giả còn nhận xét
khá kỹ về tình trạng dao động, khi tăng khi giảm qua từng năm.
Thứ tư, khi nhận xét về diễn biến tội phạm cờ bạc, tác giả đã biết vận dụng
được đặc điểm về tính phụ thuộc pháp lý để lý giải tại sao năm 2010 tình hình tội
phạm có xu hướng giảm. Theo lý giải của tác giả, tại thời điểm năm 2010, Nghị
quyết 01/2010/NQ-HĐTP được ban hành có quy định mới về cách tính số tiền dùng
để đánh bạc theo hướng có lợi hơn nên đã giới hạn bớt phạm vi các hành vi cờ bạc
bị coi là tội phạm.
Thứ năm, tác giả đã đánh giá đầy đủ diễn biến của cả tội phạm rõ và tội
phạm ẩn. Nếu ở phần thực trạng vắng mặt tình hình tội phạm ẩn, thì ở phần này, tác
giả khá chi tiết về diễn biến tội phạm ẩn, và rút ra nhận xét rằng: “loại tội phạm này
có số lượng tội phạm ẩn là rất lớn”. Nhận thấy ở đây, tác giả sử dụng đa dạng về
phương pháp thu thập dữ liệu, ngoài việc chủ yếu sử dụng phương pháp phân tích
dữ liệu thứ cấp (tức là dùng tài liệu có sẵn trong thống kê) thì ở diễn biến tội phạm
ẩn tác giả còn sử dụng dữ liệu sơ cấp do chính người nghiên cứu thu thập qua khảo

cho việc biểu diễn cơ cấu tội phạm theo từng tiêu thức nhất định. Đồng thời, với hệ
thống biểu đồ này, người đọc sẽ dễ dàng nắm bắt được cơ cấu hơn (bởi vì cách biểu
thị qua hình ảnh luôn đạt được hiểu quả cao trong việc diễn đạt thông tin).
Mặt khác, để có được những biểu đồ thể hiện cơ cấu đó, tác giả đã đưa ra con
số cụ thể cũng như cách thức thực hiện để thuyết phục người đọc về tính chính xác
của biểu đồ. Không chỉ dừng lại ở đó, hầu như với tiêu chí xác định cơ cấu nào tác
giả cũng đưa ra những nhận xét về từng loại cơ cấu đó. Ví dụ như ở phần cơ cấu
theo tội danh tác giả nhận xét rằng: tội đánh bạc chiếm tỉ lệ lớn nhất trong các tội

Nguyễn Ngọc Lam - 352506

Page 18


Bài tập học kỳ môn Tội phạm học
về cờ bạc. Hành vi tổ chức đánh bạc và gá bạc tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát
triển của đánh bạc và ngược lại, nhu cầu đánh bạc mà cao thì tất yếu kéo theo sự
xuất hiện của những người tổ chức đánh bạc và gá bạc.
Tóm lại, phần trình bày về cơ cấu của tình hình tội phạm trong Luận văn của
tác giả Dương Vân Anh đã đạt hiệu quả tốt, giúp bài viết được sâu sắc, cụ thể hơn,
khó có thể bắt gặp được điểm hạn chế trong phần này.
2.4, Đánh giá về phần “Tính chất của các tội phạm về cờ bạc trên địa bàn tỉnh
Quảng Ninh trong thời gian 2006-2011”
Trên cơ sở tìm hiểu về cơ cấu của tình hình tội phạm cờ bạc theo những tiêu
chí khác nhau, người nghiên cứu đã rút ra tám nét đặc trưng cơ bản, có tính nổi bật
của tình hình tội phạm cờ bạc. Sau khi đọc phần tính chất, cá nhân em đã có cái
nhìn tổng quát, hiểu được những nội dung cốt lõi liên quan đến tình hình tội phạm
cờ bạc của tỉnh Quảng Ninh trong giai đoạn 2006 -2011. Có được điều này là do tác
giả đã thực hiện tốt phần tổng kết về tính chất của tình hình tội phạm, tác giả đã
đánh giá một cách rất ngắn gọn, súc tích, diễn đạt đầy đủ những nội dung cần thiết.

4. Dương Tuyết Miên – “Tội phạm học nhập môn” Nxb Công an nhân dân, Hà
Nội 2009.
5. Nguyễn Ngọc Hòa (2001) – “Mô hình Luật Hình sự Việt Nam”, NXB Công
an nhân dân.

Nguyễn Ngọc Lam - 352506

Page 20




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status