BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGUYỄN HOÀNG MỸ LINH
THỰC THI PHÁP LUẬT BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG
CỦA HỆ THỐNG CÁC CƠ QUAN NHÀ NƯỚC TẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60 38 01 07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. PHAN CHÍ HIẾU
HÀ NỘI - 2014
MỤC LỤC
Trang
LỜI MỞ ĐẦU
1
NỘI DUNG
5
1.2.3. Hệ thống các cơ quan Nhà nước thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi
người tiêu dùng
9
10
10
12
13
1.2.3.1. Khái niệm hệ thống các cơ quan Nhà nước thực thi pháp luật bảo vệ
13
quyền lợi người tiêu dùng
1.2.3.2. Vai trò và chức năng của hệ thống các cơ quan Nhà nước thực thi
pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
15
1.2.3.3. Hệ thống các cơ quan Nhà nước thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi
16
người tiêu dùng tại Việt Nam
1.3. Kinh nghiệm thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của
hệ thống các cơ quan Nhà nước tại một số quốc gia trên thế giới
34
người tiêu dùng
2.1.2. Thực trạng về hoạt động của các cơ quan quản lý Nhà nước trong
việc thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
43
2.2. Thực trạng thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của Tòa
án
56
2.2.1. Thực trạng về tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án
56
2.2.2. Thực trạng về hoạt động của Tòa án
58
Chương 3
MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG THỰC
THI PHÁP LUẬT BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG CỦA
63
HỆ THỐNG
1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Trong giai đoạn hiện nay, khi nền kinh tế thị trường ngày càng phát
triển, hàng hóa được sản xuất ra ngày càng nhiều thì người tiêu dùng (NTD)
ngày càng quan tâm hơn tới chất lượng sản phẩm, mẫu mã và các giá trị sử
dụng. Tuy nhiên, không phải tất cả NTD đều thỏa mãn với sản phẩm mà mình
đã bỏ tiền ra mua, thậm chí trong nhiều trường hợp, họ còn bị tổn thất về sức
khỏe, tinh thần và vật chất do sản phẩm đó mang lại. Các vụ việc xâm phạm
quyền lợi NTD trong những năm trở lại đây ngày càng gia tăng cả về số lượng
lẫn mức độ vi phạm với tính chất ngày càng tinh vi, phức tạp. Đặc biệt trong
giai đoạn hiện nay, khi Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của Tổ
chức Thương mại thế giới (WTO), bên cạnh những lợi ích là NTD Việt Nam
được tiếp cận và sử dụng những hàng hóa, dịch vụ chất lượng đến từ các nước
khác nhau với công nghệ sản xuất hiện đại, kinh nghiệm quản lý tiên tiến, vẫn
còn tồn tại hiện tượng nhiều thương nhân nước ngoài, đặc biệt là ở các nước
phát triển coi Việt Nam là một “bãi rác thải” để tiêu thụ những hàng hóa lỗi, hết
hạn sử dụng, lắp đạt những dây chuyền sản xuất lạc hậu. Mặt khác, trong nền
kinh tế thị trường, vấn đề tiêu dùng là một yếu tố quan trọng để điều tiết thị
trường; do vậy, NTD chính là nhân tố có ảnh hưởng to lớn đến những quyết
sách về kinh tế và cũng là đối tượng chịu ảnh hưởng nhiều nhất của các quyết
sách kinh tế đó. Vì những lý do trên, vấn đề bảo vệ quyền lợi NTD nhất thiết
phải nhận được sự quan tâm không chỉ của Đảng, Nhà nước mà còn của toàn xã
hội. Nó là một trong những hoạt động nhằm thực hiện một xã hội công bằng,
dân chủ, văn minh, đồng thời cũng là một trong những hoạt động để thúc đẩy
nền kinh tế phát triển.
Để đảm bảo được quyền và lợi ích chính đáng của NTD, một trong số
những công cụ chủ yếu và hữu hiệu là pháp luật. Cho đến nay, pháp luật về bảo
vệ quyền lợi NTD đã trở thành một bộ phận không thể thiếu trong hệ thống
lợi của NTD đã bắt đầu được quan tâm nên đã có một số công trình khoa học,
đề tài các cấp, bài viết tạp chí có nội dung liên quan đến vấn đề này. Tuy vậy,
tiếp cận vấn đề bảo vệ quyền lợi NTD dưới khía cạnh thực thi pháp luật của hệ
thống các cơ quan nhà nước thì đây là công trình nghiên cứu chuyên sâu đầu
tiên ở trình độ luân văn thạc sĩ luật học.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Luận văn đặt ra mục đích nghiên cứu làm rõ các vấn đề lý luận về thực
thi pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD của hệ thống các cơ quan Nhà nước tại Việt
3
Nam, đánh giá thực trạng thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD của các cơ
quan Nhà nước tại Việt Nam từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu
quả của hoạt động thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD của hệ thống các cơ
quan này.
Để đạt được mục đích nghiên cứu nói trên, Luận văn đặt ra các nhiệm vụ
nghiên cứu cụ thể như sau:
Thứ nhất, luận văn tập trung làm rõ những vấn đề lý luận về pháp luật
bảo vệ quyền lợi NTD, hoạt động thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD nói
chung và hoạt động thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD của hệ thống các
cơ quan nhà nước nói riêng. Đồng thời, luận văn cũng có đưa ra kinh nghiệm
của một số nước về thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD tại các cơ quan
nhà nước ở những quốc gia này làm bài học kinh nghiệm cho Việt Nam tham
khảo và xây dựng theo.
Thứ hai, trên cơ sở những vấn đề lý luận chung, luận văn tập trung đánh
giá, nhận xét về thực trạng hoạt động thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD
của hệ thống các cơ quan nhà nước tại Việt Nam, nêu rõ những thành tựu và
đặc biệt là những bất cập và nguyên nhân của những bất cập đó trong quá trình
hoạt động trong lĩnh vực bảo vệ quyền lợi NTD của hệ thống những cơ quan
Chương I. Những vấn đề lý luận chung về thực thi pháp luật bảo vệ
quyền lợi người tiêu dùng của hệ thống các cơ quan Nhà nước tại Việt Nam
Chương II. Thực trạng thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu
dùng của hệ thống các cơ quan Nhà nước tại Việt Nam
Chương III. Một số kiến nghị nâng cao hiệu quả hoạt động thực thi pháp
luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của hệ thống các cơ quan Nhà nước tại
Việt Nam.
5
NỘI DUNG
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ THỰC THI
PHÁP LUẬT BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG
CỦA HỆ THỐNG CÁC CƠ QUAN NHÀ NƯỚC TẠI VIỆT NAM
1.1. Nhận thức chung về thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu
dùng
1.1.1. Khái quát về pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
1.1.1.1. Khái niệm pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Theo quy định của pháp luật hiện hành, “người tiêu dùng là người mua,
sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng cá nhân, gia đình, tổ chức”1.
Từ định nghĩa này có thể thấy, quan hệ tiêu dùng là một loại quan hệ được hình
thành và thực hiện trên cơ sở hợp đồng mua bán, theo đó, NTD mua và/hoặc sử
dụng sản phẩm hàng hóa, dịch vụ của người cung cấp mà không vì mục đích
kinh doanh (bán lại). Đây là một quan hệ dân sự được điều chỉnh chung bởi Bộ
luật Dân sự (BLDS). Tuy nhiên, do tính chất xã hội của quan hệ tiêu dùng mà
NTD khó có thể có cơ hội được bình đẳng vì họ buộc phải tham gia vào mối
quan hệ với tư cách là “bên yếu thế”. Tính yếu thế ở đây thể hiện ở những khía
cạnh như: trong việc tiếp cận thông tin, xử lý, hiểu các thông tin về hàng hóa,
phạm pháp luật nhằm mục đích bảo đảm quyền lợi hợp pháp của NTD khi mua
hoặc sử dụng hàng hóa, dịch vụ. Theo quan niệm này, pháp luật bảo vệ quyền
lợi NTD gồm các quy phạm pháp luật thuộc nhiều ngành, lĩnh vực pháp luật
khác nhau, miễn sao có chung mục đích bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
NTD. Nó có đối tượng điều chỉnh rất rộng lớn, bao trùm hầu hết các quan hệ xã
hội, giao thoa đối tượng điều chỉnh với hầu hết các lĩnh vực pháp luật từ luật
công đến luật tư. Pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD tự hồ như một thứ bổ sung về
khả năng tự do và bình đẳng của NTD trong quan hệ với thương nhân, đồng
thời nó mang tính chất can thiệp vào quyền tự do của các thương nhân sản xuất,
kinh doanh hàng hóa, dịch vụ.
Bên cạnh đó, chúng ta cũng cần lưu ý rằng, trong các lĩnh vực khác như
pháp luật cạnh tranh, pháp luật về vệ sinh, an toàn thực phẩm, pháp luật về chất
lượng sản phẩm và rộng ra là cả pháp luật dân sự, hình sự, ở một chừng mực
nào đó, đều có mục đích bảo vệ NTD. Tuy nhiên, nếu như những pháp luật này
bảo vệ NTD theo phương pháp can thiệp vào hành vi của nhà sản xuất, kinh
doanh, cung cấp sản phẩm hàng hóa, dịch vụ thông qua những quy định hạn chế
7
hoặc cấm đoán hành vi thì pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD (với tư cách là một
chế định pháp luật độc lập) lại có mục đích xuất phát từ NTD. Theo đó, pháp
luật bảo vệ quyền lợi NTD sẽ tạo lập cho NTD những khả năng và cơ hội thuận
lợi hơn trong cơ chế điều chỉnh quan hệ pháp luật mua bán (theo luật dân sự)
mà một chủ thể pháp luật dân sự thông thường sẽ không có được. Nó xuất hiện
như một công cụ “can thiệp” từ bên ngoài để “uốn nắn” quan hệ tiêu dùng, một
quan hệ vốn mang tính dân sự, đang bị méo mó do đặc tính vốn có của nó là bất
cân xứng về thông tin, khả năng lựa chọn, tự do ý chí… của NTD. Từ cách hiểu
như vậy, pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD sẽ có vị trí độc lập tương đối với pháp
luật hợp đồng theo luật dân sự.
bỏ qua những quyền lợi của NTD. Do vậy, pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD
phải can thiệp, giúp các nhà sản xuất, kinh doanh nhận ra được tầm quan trọng
của việc bảo vệ quyền lợi NTD, không lợi dụng sự bất bình đẳng về vị thế của
mình với NTD để có hành vi lạm dụng, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả sản
xuất kinh doanh của các thương nhân, đảm bảo sự vận hành lành mạnh của thị
trường hàng hóa, dịch vụ, đảm bảo công bằng xã hội, đồng thời tái thiết niềm
tin của NTD vào thị trường.
Thứ ba, vai trò của pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD đối với sự phát triển
kinh tế - xã hội của các quốc gia. Thông qua việc bảo đảm quyền lợi cho NTD,
pháp luật cũng giúp bảo đảm được sự công bằng và văn minh trong xã hội.
Chính sách tiêu dùng hiệu quả cũng chính là nhân tố quan trọng giúp thị trường
hoạt động hiệu quả. Bảo vệ quyền lợi NTD không những chỉ là bảo vệ lợi ích
của số đông những NTD mà còn giúp cho xã hội ngày một công bằng hơn, văn
minh hơn, đẩy lùi những tệ nạn xã hội làm cho nền kinh tế phát triển, mang lại
cuộc sống ấm no cho người dân.
Để có thể phát huy được những vai trò quan trọng nói trên, pháp luật bảo
vệ quyền lợi NTD khi được các Nhà nước xây dựng và hoàn thiện, cần phải
đảm bảo những chức năng cơ bản như sau:
Thứ nhất, pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD cần ghi nhận hệ thống các
quyền của NTD. Đó là tám quyền được đề cập đến trong bản hướng dẫn của
Liên hợp quốc về bảo vệ người tiêu dùng năm 1985. Những quyền này được coi
là hệ thống quyền năng xương sống của NTD cần được bảo vệ trong một nền
kinh tế thị trường hiện đại và cần được ghi nhận đầy đủ trong pháp luật bảo vệ
quyền lợi NTD ở mỗi quốc gia.
Thứ hai, pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD cần quy định cơ chế đảm bảo
các quyền năng trên của NTD được tôn trọng trên thực tế. Bên cạnh đó, pháp
9
nghĩa vụ như: nghĩa vụ kiểm tra hàng hóa, dịch vụ trước khi tiến hành giao
dịch… Đồng thời, pháp luật của các quốc gia đều có những quy định cụ thể về
trách nhiệm củacác bên có liên quan.
-
Các hình thức trách nhiệm do vi phạm pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD
10
Hầu hết pháp luật về bảo vệ quyền lợi NTD của các quốc gia trên thế
giới đều quy định có ba biện pháp chế tài cơ bản, thường được sử dụng để điều
chỉnh hành vi của các tổ chức, cá nhân trong xã hội, đó là: Chế tài dân sự, chế
tài hành chính, chế tài hình sự.
-
Quy định về các cơ quan thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD
Theo quy định pháp luật của đa số các quốc gia trên thế giới, hệ thống
các cơ quan thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD thường được chia làm hai
bộ phận chính, như sau:
Thứ nhất là nhóm các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền bao gồm các cơ
quan quản lý chuyên trách về bảo vệ quyền lợi NTD, các bộ phận bảo vệ NTD
trong các cơ quan điều tiết ngành, hệ thống Tòa án.
Thứ hai là nhóm các tổ chức xã hội phi Chính phủ bao gồm các Hội/
Hiệp hội bảo vệ NTD tại trung ương và các địa phương.
Mỗi nhóm cơ quan thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD kể trên đều
được pháp luật các nước quy định tương đối đầy đủ, chi tiết về chức năng,
nhiệm vụ, quyền hạn. Trong phạm vi của luận văn, tác giả chủ yếu nghiên cứu
nhóm thứ nhất – hệ thống các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thực thi pháp
thi pháp luật là một trong những hình thức để thực hiện các chức năng, nhiệm
vụ của nhà nước, quản lý và bảo vệ xã hội; còn đối với các tổ chức phi nhà
nước và các cá nhân, thực thi pháp luật là hoạt động sử dụng các quyền, tự do
pháp lý và thi hành các nghĩa vụ pháp lý mà pháp luật quy định cho họ.
Theo nghĩa hẹp, thực thi pháp luật được hiểu như hoạt động áp dụng
pháp luật, một trong những hình thức thực hiện pháp luật, theo đó, nhà nước
thông qua các cơ quan nhà nước hoặc nhà chức trách có thẩm quyền tổ chức
cho các chủ thể pháp luật thực hiện những quy định của pháp luật hoặc tự mình
căn cứ vào các quy định của pháp luật để tạo ra các quyết định làm phát sinh,
thay đổi, đình chỉ hoặc chấm dứt những quan hệ pháp luật cụ thể. Như vậy, với
cách hiểu này, thực thi pháp luật là hoạt động luôn có sự can thiệp của cơ quan
nhà nước hay nhà chức trách có thẩm quyền. Trong một số trường hợp đặc biệt,
theo quy định của pháp luật, một số tổ chức xã hội cũng có thể được thực hiện
hoạt động này3.
2
Trường Đại học Luật Hà Nội (2013), Giáo trình Lý luận Nhà nước và Pháp luật, NXB. Công an nhân
dân, Hà Nội, tr. 183.
3
Trường Đại học Luật Hà Nội (2013), Giáo trình Lý luận Nhà nước và Pháp luật, NXB. Công an nhân
dân, Hà Nội, tr. 184
12
Hiện nay, các cơ quan nhà nước, nhà nghiên cứu, học giả… đa số hiểu
khái niệm thực thi pháp luật theo nghĩa rộng. Hoạt động thực thi pháp luật là
hoạt động được thực hiện bởi các toàn thể các tổ chức, cá nhân trong xã hội.
Trên cơ sở đó, có thể đưa ra khái niệm về hoạt động thực thi pháp luật
-
Các cơ quan quản lý hành chính nhà nước trong việc bảo vệ quyền lợi
NTD.
Trong số đó phải kể đến các cơ quan quan trọng như: Cục Quản lý cạnh
tranh (Bộ Công thương); Cục Quản lý thị trường (Bộ Công thương) cùng các
Sở Công thương các tỉnh, thành phố; các Chi cục Quản lý thị trường; Cục Vệ
sinh an toàn thực phẩm và Cục Quản lý Dược (Bộ Y tế) cùng các Sở Y tế các
tỉnh, thành phố; Tổng cục Tiêu chuẩn – Đo lường – Chất lượng (Bộ Khoa học
và Công nghệ). Ngoài ra, các cơ quan thanh tra chuyên ngành thương mại, y tế
các cấp cũng có vai trò rất quan trọng trong công tác bảo vệ quyền lợi NTD.
-
Tòa án nhân dân các cấp
-
Hội bảo vệ NTD.
Thứ ba, hoạt động thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD chỉ có thể
tiến hành được khi có yếu tố nguồn lực, điều kiện đảm bảo cho pháp luật và các
thiết chế thực thi pháp luật vận hành hiệu quả. Các điều kiện đảm bảo này bao
gồm điều kiện về nguồn lực, nguồn tài chính và các điều kiện về kỹ năng, nhận
thức của không chỉ các cơ quan, tổ chức hữu quan mà còn của chính NTD và
các nhà sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ trong xã hội.
1.2.3. Hệ thống các cơ quan Nhà nước thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi
người tiêu dùng
1.2.3.1. Khái niệm hệ thống các cơ quan Nhà nước thực thi pháp luật bảo vệ
NTD là hệ thống các cơ quan trực thuộc Bộ. Tại các nước này, thông thường
các cơ quan bảo vệ NTD được thành lập dưới dạng Cục hoặc Vụ thuộc các Bộ
có chức năng quản lý Nhà nước về kinh tế, thương mại và công nghiệp.
Bên cạnh đó, đối với hệ thống Tòa án, nhiều quốc gia đã xây dựng một
hệ thống Tòa án chuyên biệt về bảo vệ NTD để giải quyết các tranh chấp như ở
Ấn Độ, Singapore, Malaysia… Còn ở những nước không xây dựng Tòa án
riêng biệt chuyên bảo vệ quyền lợi NTD thì hệ thống Tòa án các cấp sẽ có thẩm
quyền xét xử các vụ việc vi phạm quyền lợi NTD như ở Pháp, Hoa Kỳ…
1.2.3.2. Vai trò và chức năng của hệ thống các cơ quan Nhà nước thực thi pháp
luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Tham gia vào hoạt động bảo vệ quyền lợi NTD, hệ thống các cơ quan
Nhà nước có những vai trò và chức năng được pháp luật quy định rõ ràng, cụ
thể đối với từng nhóm cơ quan, như sau:
Thứ nhất, hệ thống các cơ quan quản lý Nhà nước về bảo vệ NTD có
trách nhiệm xây dựng và hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, hệ thống các tiêu chuẩn
phục vụ công tác bảo vệ quyền lợi NTD. Trong đó, các cơ quan hành pháp (đặc
15
biệt là các Bộ, ban, ngành trực thuộc Chính phủ) thực hiện việc áp dụng pháp
luật bảo vệ NTD, thực hiện hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động
của thị trường, cung cấp các thông tin và dịch vụ hỗ trợ NTD.
Tuy nhiên, như phần 1.2.3.1. đã nêu, cách phân loại hệ thống các cơ
quan quản lý Nhà nước về bảo vệ quyền lợi NTD của các quốc gia khác nhau là
khác nhau. Do đó, vai trò và chức năng của các nhóm cơ quan quản lý Nhà
nước cũng có sự khác biệt, cụ thể:
Đối với nhóm cơ quan quản lý Nhà nước được thiết kế theo mô hình hệ
thống cơ quan hình chóp, hệ thống các cơ quan quản lý Nhà nước về bảo vệ
NTD là các Ủy ban hoặc Hội đồng có vị trí cao trong tổ chức bộ máy Nhà nước.
trường, hạn chế sản lượng đối với một mặt hàng nào đó, cấu kết, lũng đoạn đấu
thầu…
Ngoài ra, Tòa án còn có chức năng kiểm tra hình hợp hiến, hợp pháp của
các quyết định do các cơ quan quản lý hành chính Nhà nước ban hành cũng như
của các văn bản pháp luật có liên quan đến vấn đề bảo vệ quyền lợi NTD.
1.2.3.3. Hệ thống các cơ quan Nhà nước thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi người
tiêu dùng tại Việt Nam
Theo quy định của pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD hiện hành, hệ thống các
cơ quan Nhà nước thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD tại Việt Nam bao gồm
hai nhóm cơ quan, đó là:
-
Các cơ quan quản lý Nhà nước về bảo vệ quyền lợi NTD;
-
Tòa án.
a. Các cơ quan quản lý Nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Các cơ quan quản lý Nhà nước được coi là chủ thể giữ vai trò chủ đạo trong
hệ thống các cơ quan Nhà nước thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD ở Việt
Nam gồm:
Chính phủ
Chính phủ là cơ quan hành chính Nhà nước cao nhất của nước ta, có vai
trò thống nhất quản lý việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế - xã hội,
quốc phòng, an ninh và đối ngoại của đất nước; đảm bảo hiệu lực của bộ máy
Nhà nước từ trung ương đến cơ sở; đảm bảo việc tôn trọng và chấp hành Hiến
pháp và pháp luật; phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc; đảm bảo ổn định và nâng cao đời sống vật chất và tinh
quản lý thị trường, xúc tiến thương mại, thương mại điện tử, quản lý cạnh
tranh…
4
Điều 1 Luật Tổ chức Chính phủ năm 2001
5
Điều 18 Luật Tổ chức Chính phủ năm 2001
18
Thứ hai, trong hoạt động bảo vệ quyền lợi NTD một cách trực tiếp, Bộ
Công thương được quy định thực hiện các nhiệm vụ cụ thể tại Điều 48 Luật bảo
vệ quyền lợi NTD năm 2010.
Bên cạnh đó, trong cơ cấu tổ chức của Bộ Công thương được quy định
tại Điều 3 Nghị định số 95/2012/NĐ-CP ngày 12/11/2012 của Chính phủ quy
định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công
thương, có hai cơ quan được giao nhiệm vụ trực tiếp thực thi pháp luật bảo vệ
quyền lợi NTD đó là Cục Quản lý Cạnh tranh và Cục Quản lý Thị trường, trong
đó Cục Quản lý Cạnh tranh là cơ quan chuyên trách được giao nhiệm vụ giúp
Bộ trưởng Bộ Công thương thực hiện quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi
NTD và Cục Quản lý Thị trường là cơ quan giúp việc Bộ trưởng Bộ Công
thương thực hiện quản lý nhà nước về công tác kiểm soát thị trường, đấu tranh
chống các hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động thương mại ở thị trường
trong nước, thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành thương mại theo quy
định của pháp luật.
Bộ Khoa học và Công nghệ
Bộ Khoa học và Công nghệ là cơ quan của Chính phủ thực hiện chức
phạm pháp luật quy định chi tiết các Luật, Pháp lệnh, Nghị định liên quan đến
bảo vệ quyền lợi NTD thuộc trách nhiệm quản lý của mình. Để đảm bảo sức
khỏe, tính mạng của NTD, Bộ chủ trì ban hành hoặc phối hợp với các cơ quan
nhà nước có thẩm quyền quy định các tiêu chuẩn, quy chuẩn, yêu cầu bắt buộc áp
dụng về bảo đảm chất lượng, an toàn, vệ sinh đối với các hàng hóa, dịch vụ thuộc
phạm vi quản lý.
Để thực hiện những vai trò kể trên, Bộ Y tế đã thành lập nhiều đơn vị
quan trọng trong cơ cấu tổ chức của mình như Cục An toàn vệ sinh thực phẩm,
Cục Quản lý Dược, Vụ pháp chế, Thanh tra Bộ Y tế… Trong các đơn vị này,
Cục An toàn vệ sinh thực phẩm là đơn vị đầu mối đảm nhiệm nhiều nhiệm vụ
quan trọng trong quản lý nhà nước có liên quan tới hoạt động bảo vệ quyền lợi
NTD.
Các Bộ, cơ quan ngang Bộ và một số cơ quan khác thuộc Chính phủ
Bên cạnh các Bộ vừa kể trên, hoạt động bảo vệ quyền lợi NTD nói chung
và thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD nói riêng còn là trách nhiệm của tất
cả các Bộ ở trung ương. Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có
trách nhiệm phối hợp với các cơ quan quản lý nhà nước trực tiếp bảo vệ quyền
lợi NTD thực hiện những nhiệm vụ và quyền hạn nhất định. Ngoài ra, trách
nhiệm, công việc của một số Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có
20
liên quan chặt chẽ đến công tác bảo vệ quyền lợi NTD được quy định tại khoản 2
Điều 26 Nghị định số 55/2008/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết thi hành
Pháp lệnh Bảo vệ quyền lợi NTD, như sau:
- Bộ Xây dựng thực hiện việc quản lý, kiểm tra, thanh tra trong tất cả các
khâu từ quy hoạch, thiết kế, thi công, nghiệm thu công trình xây dựng dân
dụng;
- Bộ Giao thông vận tải thực hiện việc quản lý, kiểm tra, thanh tra chất
- Đài truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam thường xuyên cập
nhật, đăng tải các thông tin liên quan đến bảo vệ NTD; dành thời lượng phát
sóng thích hợp để tuyên truyền các vấn đề liên quan đến pháp luật bảo vệ NTD.
Ủy ban nhân dân các cấp
Ủy ban nhân dân (UBND) các cấp đóng vai trò quản lý cấp địa phương
trong hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi NTD ở Việt
Nam. Hoạt động của các UBND có một vị trí then chốt trong hiệu quả chung về
công tác bảo vệ quyền lợi NTD trên cả nước. Điều 49 Luật bảo vệ quyền lợi
NTD năm 2010 có quy định cụ thể về trách nhiệm của UBND các cấp. Trong
đó, UBND cấp tỉnh là cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi NTD ở địa
phương. UBND cấp huyện quyết định đơn vị giúp UBND thực hiện chức năng
quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi NTD trên địa bàn huyện mình6. UBND
cấp xã còn được giao các trách nhiệm cụ thể trong việc bảo vệ NTD khi tham
gia các giao dịch với các cá nhân hoạt động thương mại độc lập, thường xuyên
không phải đăng ký kinh doanh7.
Ngoài các quy định chung kể trên, Luật bảo vệ quyền lợi NTD còn có
một số quy định về thẩm quyền của các cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ
quyền lợi NTD cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã trong những trường hợp cụ thể.
Chẳng hạn, theo quy định tại Điều 22 của Luật bảo vệ quyền lợi NTD năm
2010, cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ NTD cấp tỉnh là cơ quan tiếp nhận
báo cáo kết quả thu hồi hàng hóa có khuyết tật của tổ chức, cá nhân sản xuất,
nhập khẩu hàng hóa. Bên cạnh đó, khoản 1 Điều 25 Luật này quy định cơ quan
quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi NTD cấp huyện sẽ là cơ quan tiếp nhận
và giải quyết yêu cầu bảo vệ quyền lợi NTD hoặc của tổ chức xã hội trong
trường hợp NTD, tổ chức xã hội phát hiện hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ
6
Khoản 2, 3 Điều 34 Nghị định số 99/2011/NĐ-CP ngày 27/10/2011 của Chính phủ quy định chi tiết và
hướng dẫn thi hành một số điều của Luật bảo vệ quyền lợi NTD