BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
HOÀNG QUỐC HƢNG
CĂN CỨ CHẤM DỨT NGHĨA VỤ DÂN SỰ
- MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Chuyên ngành
: Luật Dân sự và Tố tụng dân sự
Mã số
: 60.38.0103
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. LÊ ĐÌNH NGHỊ
HÀ NỘI - 2013
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công
trình nghiên cứu của riêng tôi. Những
kết luận khoa học của luận văn chưa
Luật HN&GĐ
Luật Hôn nhân và Gia đình
Luật SHTT
Luật Sở hữu trí tuệ
Nxb
Nhà xuất bản
Tr
Trang
XHCN
Xã hội chủ nghĩa
MỤC LỤC
NỘI DUNG
STT
Trang
DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT (theo thứ tự ABC)
1.2.1
Khái niệm căn cứ chấm dứt nghĩa vụ dân sự
14
1.2.2
Phân loại căn cứ chấm dứt nghĩa vụ dân sự
16
1.3
1.3.1
1.3.2
1.3.3
1.3.4
1.3.5
Sơ lƣợc lịch sử phát triển của pháp luật dân sự Việt Nam về căn cứ
chấm dứt nghĩa vụ dân sự
Căn cứ chấm dứt nghĩa vụ dân sự thời kỳ Hùng Vương – An Dương Vương
Căn cứ chấm dứt nghĩa vụ dân sự theo quy định của pháp luật thời kỳ
phong kiến (từ năm 905 đến năm 1858).
Căn cứ chấm dứt nghĩa vụ dân sự theo quy định của pháp luật thời kỳ
Pháp thuộc
Căn cứ chấm dứt nghĩa vụ dân sự theo quy định của pháp luật từ năm
1945 đến năm 1995
Căn cứ chấm dứt nghĩa vụ dân sự theo quy định của pháp luật từ năm
1995 đến nay
2.1.3
2.1.4
Nghĩa vụ dân sự chấm dứt khi bên có quyền miễn việc thực hiện nghĩa
vụ cho bên có nghĩa vụ
Nghĩa vụ dân sự chấm dứt trong trường hợp nghĩa vụ được thay thế
bằng nghĩa vụ dân sự khác
2.1.5 Nghĩa vụ dân sự chấm dứt trong trường hợp bù trừ nghĩa vụ
2.1.6
Nghĩa vụ chấm dứt khi bên có quyền và bên có nghĩa vụ hoà nhập làm
một
2.1.7 Nghĩa vụ chấm dứt khi thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ dân sự đã hết
38
40
43
47
48
Nghĩa vụ chấm dứt trong trường hợp bên có quyền (hoặc bên có nghĩa
2.1.8
vụ) là cá nhân chết hoặc là pháp nhân, chủ thể khác chấm dứt mà
quyền (hoặc nghĩa vụ) phải do chính cá nhân, pháp nhân, chủ thể đó
51
68
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
70
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Trong đời sống xã hội, con người tham gia vào nhiều quan hệ dân sự,
thương mại khác nhau, đồng thời cũng phải thực hiện nhiều nghĩa vụ khác
nhau phát sinh từ các quan hệ đó. Nghĩa vụ, theo nghĩa thông thường, được
hiểu là xử sự bắt buộc của một chủ thể với một chủ thể khác. Khi quan hệ
nghĩa vụ dân sự được xác lập, người có nghĩa vụ phải thực hiện đúng đầy đủ
nghĩa vụ trước người có quyền theo thỏa thuận giữa các bên hoặc theo quy
định của pháp luật, nếu bên có nghĩa vụ dân sự vi phạm nghĩa vụ dân sự của
mình trước bên có quyền sẽ phải chịu trách nhiệm trước bên có quyền. Nghĩa
vụ dân sự giống như bất cứ một quan hệ pháp luật dân sự nào khác cũng có
căn các căn cứ làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt. Căn cứ chấm dứt nghĩa vụ
dân sự được coi là cơ sở pháp lý để bên có nghĩa vụ thoát khỏi sự “ràng buộc”
đối với bên có quyền.
BLDS 2005 được Quốc hội khoá XI thông qua ngày 14/6/2005, có hiệu
lực thi hành từ ngày 01/01/2006 với các quy định về các căn cứ chấm dứt
nghĩa vụ dân sự được kế thừa và phát triển từ BLDS 1995. Các qui định cụ
thể của chế định này được quy định tại Mục 6, từ Điều 374 đến Điều 387
BLDS 2005.
Qua bảy năm thực hiện và áp dụng các quy định về các căn cứ chấm
dứt nghĩa vụ dân sự trong BLDS 2005 vào thực tiễn xét xử, về cơ bản đã giải
khoa học Bộ luật Dân sự” (phần Nghĩa vụ dân sự và hợp đồng dân sự), Nxb
Lao động, Hà Nội do Trương Anh Tuấn làm chủ biên (2009), Viện nghiên
cứu khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp (2008) cũng cho ra đời cuốn “Bình luận
BLDS năm 2005”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội... Một số luận văn cao học
chuyên ngành luật cũng đề cập đến căn cứ chấm dứt nghĩa vụ dân sự như học
viên Nguyễn Thái Mai (1998), “Một số vấn đề cơ bản về nghĩa vụ dân sự”,
3
Luận văn thạc sỹ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội, học viên Vũ
Thị Hoài Phương (1996), “Một số vấn đề cơ bản về nghĩa vụ dân sự trong
BLDS”, Luận văn thạc sỹ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội.
Trên cơ sở tìm hiểu các tác phẩm nêu trên chúng tôi nhận thấy rằng,
việc nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện về các căn cứ chấm dứt nghĩa vụ dân
sự dưới góc độ lý luận và thực tiễn thì chưa được thể hiện ở các công trình
này, đặc biệt là sau khi BLDS 2005 ra đời. Với đề tài “Căn cứ chấm dứt
nghĩa vụ dân sự - một số vấn đề lý luận và thực tiễn” chúng tôi mong muốn
đây sẽ là công trình nghiên cứu một cách tổng thể và cơ bản về tất cả các khía
cạnh pháp lý phát sinh xoay quanh việc chấm dứt nghĩa vụ dân sự.
3. Đối tƣợng, mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những căn cứ chấm dứt nghĩa vụ
dân sự được quy định trong BLDS 2005 đồng thời xem xét thực tiễn vận dụng
các căn cứ chấm dứt nghĩa vụ dân sự.
* Mục đích nghiên cứu đề tài
Trên cơ sở đối tượng nghiên cứu, mục đích của việc nghiên cứu đề tài
được xác định: Phân tích làm rõ các nội dung lý luận về căn cứ chấm dứt
nghĩa vụ dân sự, phân tích các quy định của luật thực định về căn cứ chấm dứt
nghĩa vụ dân sự và thực tiễn vận dụng từ đó đưa ra giải pháp hoàn thiện pháp
luật trong lĩnh vực tương ứng.
- Luận văn phân tích và làm rõ các căn cứ phát sinh nghĩa vụ dân sự
theo quy định của BLDS 2005;
- Luận văn chỉ ra những bất cập của căn cứ chấm dứt nghĩa vụ dân sự
và hướng hoàn thiện pháp luật về căn cứ chấm dứt nghĩa vụ dân sự trên cơ sở
5
tìm hiểu thực tiễn vận dụng các quy định của pháp luật về căn cứ chấm dứt
nghĩa vụ dân sự.
6. Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn gồm 2 chương:
Chương 1: Lý luận chung về căn cứ chấm dứt nghĩa vụ dân sự
Chương 2: Nội dung căn cứ chấm dứt nghĩa vụ dân sự theo quy định của
Bộ luật Dân sự năm 2005 và hướng hoàn thiện pháp luật về căn cứ chấm dứt
nghĩa vụ dân sự
6
Chƣơng 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ
CĂN CỨ CHẤM DỨT NGHĨA VỤ DÂN SỰ
1.1.
KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA NGHĨA VỤ DÂN SỰ
1.1.1. Khái niệm nghĩa vụ dân sự
Sống trong xã hội, con người không thể tồn tại một cách độc lập mà
luôn luôn có mối quan hệ với các chủ thể khác. Trong cuộc sống hàng ngày,
để tồn tại và phát triển, con người phải tham gia vào nhiều quan hệ xã hội
có nghĩa vụ phải gánh chịu các hậu quả pháp lý bất lợi do pháp luật quy định,
điều này có nghĩa các chủ thể tham gia quan hệ nghĩa vụ dân sự đã có sự ràng
buộc về mặt pháp lý nhất định.
Điều 280, BLDS 2005 quy định: “Nghĩa vụ dân sự là việc mà theo đó,
một hoặc nhiều chủ thể (sau đây gọi chung là bên có nghĩa vụ) phải chuyển
giao vật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá, thực hiện công việc
khác hoặc không được thực hiện công việc nhất định vì lợi ích của một hoặc
nhiều chủ thể khác (sau đây gọi chung là bên có quyền)”.
Cách tiếp cận nghĩa vụ dân sự theo Điều 280 BLDS 2005 cũng nhận
được nhiều ý kiến khác nhau. Có ý kiến cho rằng:
“Điều 280 nói trên chỉ xuất phát từ hành vi của bên phải
thực hiện một đối tượng vì lợi ích của người khác. Sự định nghĩa
thiếu chính xác này có lẽ là do sự nhầm lẫn về thuật ngữ. “Nghĩa
vụ dân sự”có hai nghĩa. Một nghĩa chỉ hành vi phải thực hiện
của một bên theo yêu cầu của bên kia (nghĩa hẹp). Một nghĩa
khác chỉ một quan hệ mà theo đó một bên có quyền yêu cầu, còn
bên kia phải thực hiện hành vi nhất định theo yêu cầu đó, có
nghĩa là chỉ mối quan hệ giữa trái chủ và người thụ trái xác định
(nghĩa rộng). Vì vậy, với nghĩa thứ hai này, khi nói hợp đồng là
căn cứ phát sinh ra nghĩa vụ, thì có nghĩa là hợp đồng làm phát
9
sinh ra quan hệ giữa trái chủ và người thụ trái xác định.”2
Một cách tiếp cận khác, trong cuốn “Việt Nam dân luật lược khảo Quyển II: Nghĩa vụ và khế ước”, Vũ Văn Mẫu định nghĩa: “Nghĩa vụ là mối
liên hệ pháp lý giữa hai người, nhờ đó một người là trái chủ (hay chủ nợ) có
quyền đòi người kia là người phụ trái (hay con nợ) phải thi hành một cung
khoản có thể trị giá bằng tiền”3.
Dù tiếp cận nghĩa vụ dân sự ở góc độ nào thì nghĩa vụ dân sự cũng
được biết đến là mối liên hệ pháp lý giữa các chủ thể, theo đó có sự ràng buộc
thực hiện nghĩa vụ4. Chúng tôi cho rằng đặc điểm (iv) đã được bao hàm trong
đặc điểm (i) (bản chất của chế tài chính là sự ràng buộc về mặt pháp lý giữa
bên có quyền với bên có nghĩa vụ).
Khi tiếp cận nghĩa vụ dân sự, TS Ngô Huy Cương cho rằng nghĩa vụ
dân sự có ba đặc điểm sau: Thứ nhất, nghĩa vụ là một quan hệ pháp lý; Thứ
hai, nghĩa vụ là một quan hệ đối nhân (quyền đối nhân); Thứ ba, nghĩa vụ là
một quyền sản nghiệp5. Chúng tôi thấy rằng các quan điểm trên đây đã phản
ánh được phần nào bản chất của nghĩa vụ dân sự nhưng một số nội dung
không được đề cập như lợi ích của chủ thể trong quan hệ, tính xác định chủ
thể quyền và chủ thể mang nghĩa vụ…
Qua sự phân tích trên, chúng tôi cho rằng nghĩa vụ dân sự có các đặc
điểm sau đây:
Thứ nhất, nghĩa vụ dân sự là quan hệ tài sản (quyền sản nghiệp)6: Bên
cạnh quan hệ nhân thân thì quan hệ tài sản là đối tượng điều chỉnh của Luật
Dân sự. Quan hệ tài sản được hiểu là quan hệ giữa chủ thể này với chủ thể
4
Nguyễn Xuân Quang -Lê Nết -Nguyễn Hồ Bích Hằng (2007), Luật Dân sự Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia
TP. Hồ Chí Minh, tr. 277
5
TS. Ngô Huy Cương (2008), “Nghĩa vụ dân sự và quan niệm nghĩa vụ dân sự ở Việt Nam”, Tạp chí Nghiên
cứu lập pháp, 121, tr 6 – 11.
6
Một cách gọi khác cho rằng nghĩa vụ dân sự là quyền sản nghiệp. Tiếp cận góc độ này, TS Ngô Huy Cương
cho rằng: “Đặc điểm này xuất phát từ việc nghĩa vụ có thể trị giá được bằng tiền và liên quan tới các phân
hệ xã hội này được các quy phạm pháp luật dân sự tác động tới thì trở thành
quan hệ pháp luật về nghĩa vụ. Xác định nghĩa vụ dân sự là một quan hệ pháp
luật dân sự vì trong quan hệ nghĩa vụ xác định được cụ thể các yếu của một
quan hệ pháp luật dân sự như yếu tố chủ thể, yếu tố khách thể, nội dung
(quyền và nghĩa vụ của chủ thể), căn cứ phát sinh, thay đổi, chấm dứt nghĩa
12
vụ dân sự cũng như các biện pháp cưỡng chế do Nhà nước quy định...
Thứ ba, nghĩa vụ dân sự là sự ràng buộc về mặt pháp lý giữa các chủ
thể trong quan hệ nghĩa vụ dân sự mà chủ thể tham gia, sự ràng buộc này
được đảm bảo thực hiện bằng các biện pháp cưỡng chế của Nhà nước. Trong
một quan hệ xã hội thông thường cũng có thể có sự ràng buộc giữa các chủ
thể (tình thương, trách nhiệm...) nhưng sự ràng buộc đó không dựa trên cơ sở
pháp lý. Đối với quan hệ nghĩa vụ dân sự, sự ràng buộc về mặt pháp lý giữa
các chủ thể tham gia quan hệ nghĩa vụ dân sự là yếu tố quan trọng để đảm bảo
quyền lợi cho bên có quyền.
Khẳng định nghĩa vụ dân sự là một mối liên hệ pháp lý giữa các chủ thể
đã được BLDS 1995 quy định tại Điều 285:
“Nghĩa vụ dân sự là việc mà theo quy định của pháp luật, thì một hoặc
nhiều chủ thể (gọi là người có nghĩa vụ) phải làm một công việc hoặc không
được làm một công việc vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác (gọi là
người có quyền).”
BLDS 2005 khi quy định về nghĩa vụ dân sự đã giản lược nội dung này
với cách tiếp cận nghĩa vụ dân sự có thể được phát sinh theo ý chí của chủ thể
(chứ không chỉ đơn thuần là việc mà theo quy định của pháp luật), tuy nhiên
điều đó không có nghĩa là quan hệ nghĩa vụ dân sự giữa các chủ thể không
chịu sự ràng buộc về mặt pháp lý. Mặt khác, theo các căn cứ phát sinh nghĩa
vụ dân sự (Điều 281, BLDS 2005) thì nghĩa vụ dân sự luôn luôn là một mối
liên hệ pháp lý giữa các chủ thể tham gia quan hệ nghĩa vụ, các quyền và
ý nghĩa trong việc xác định phạm vi quyền của chủ thể mang quyền đồng thời
còn có ý nghĩa xác định các hành vi xâm phạm quyền cũng như trách nhiệm
dân sự được áp dụng cho chủ thể xâm phạm trong từng quan hệ cụ thể.
Thứ năm, lợi ích trong quan hệ nghĩa vụ dân sự luôn luôn được các chủ
thể quan tâm. Nói cách khác, lợi ích là khách thể trong quan hệ nghĩa vụ dân
14
sự. Trong quan hệ nghĩa vụ, hành vi thực hiện nghĩa vụ của chủ thể luôn
mang lại lợi ích cho chủ thể khác. Nghĩa vụ là một quan hệ pháp luật dân sự,
tham gia quan hệ pháp luật dân sự, chủ thể luôn nhằm đạt được những lợi ích
nhất định, đó có thể là lợi ích vật chất hoặc lợi ích tinh thần. Nghĩa vụ dân sự
có thể phát sinh theo ý chí của chủ thể, có thể phát sinh theo ý chí của Nhà
nước nhưng trong các quan hệ đó, lợi ích của chủ thể khác vẫn đạt được thông
qua hành vi thực hiện nghĩa vụ của người có nghĩa vụ. Hành vi thực hiện
nghĩa vụ của người có nghĩa vụ có thể đem lại lợi ích vật chất cụ thể (hành vi
được vật chất hóa) nhưng cũng có thể không đem lại lợi ích vật chất cụ thể
(hành vi không được vật chất hóa).
1.2.
KHÁI NIỆM VÀ PHÂN LOẠI CÁC CĂN CỨ CHẤM DỨT
NGHĨA VỤ DÂN SỰ
1.2.1. Khái niệm căn cứ chấm dứt nghĩa vụ dân sự
Là một hiện tượng xã hội giống như bất cứ hiện tượng xã hội nào khác,
nghĩa vụ dân sự khi phát sinh sẽ làm xuất hiện sự ràng buộc pháp lý giữa bên
có nghĩa vụ với bên có quyền. Tuy nhiên, sự ràng buộc đó không tồn tại một
cách “vĩnh cửu” mà sẽ chấm dứt khi xuất hiện những căn cứ làm chấm dứt
nghĩa vụ dân sự.
Xét trên phương diện vận động và biến đổi thì sự vật, hiện tượng không
cứ chấm dứt nghĩa vụ. Tuy nhiên, quy định này cũng có phần hạn chế nhất
định bởi nếu liệt kê các căn cứ chấm dứt nghĩa vụ dân sự sẽ có thể không tiên
liệu hết các căn cứ chấm dứt nghĩa vụ trên thực tế. Có lẽ xuất phát từ nguyên
nhân này mà pháp luật còn dự liệu “Các trường hợp khác do pháp luật quy
định”(Khoản 11, Điều 374, BLDS 2005).
Chúng tôi cho rằng việc xác định căn cứ chấm dứt nghĩa vụ phải dựa
trên một số tiêu chí: (i) có một nghĩa vụ dân sự được xác lập (theo ý chí của
chủ thể trong quan hệ nghĩa vụ hoặc theo ý chí của Nhà nước); (ii) xuất hiện
căn cứ chấm dứt nghĩa vụ dân sự do luật định.
Qua việc phân tích trên đây, có thể đưa ra khái niệm về căn cứ chấm
dứt nghĩa vụ dân sự như sau:
Căn cứ chấm dứt nghĩa vụ dân sự là những sự kiện pháp lý do pháp
luật quy định mà khi xuất hiện các sự kiện đó thì quan hệ nghĩa vụ được
xác lập giữa các bên chấm dứt.
16
1.2.2. Phân loại căn cứ chấm dứt nghĩa vụ dân sự
Dưới góc độ lý luận, có thể có nhiều cách phân loại căn cứ chấm dứt
nghĩa vụ dân sự dựa theo các tiêu chí khác nhau. Việc phân nhóm các căn cứ
chấm dứt nghĩa vụ dân sự cũng chỉ mang ý nghĩa tương đối bởi có những căn
cứ chấm dứt nghĩa vụ dân sự vừa có thể ở nhóm này nhưng cũng có thể ở
nhóm khác theo các tiêu chí nhất định.
* Dựa vào ý chí của chủ thể trong việc chấm dứt nghĩa vụ dân sự thì
căn cứ chấm dứt nghĩa vụ dân sự bao gồm các căn cứ chấm dứt theo ý chí của
chủ thể tham gia quan hệ nghĩa vụ dân sự và căn cứ chấm dứt nghĩa vụ dân sự
theo ý chí của Nhà nước:
- Các căn cứ chấm dứt nghĩa vụ dân sự theo ý chí của chủ thể tham gia
quan hệ nghĩa vụ dân sự bao gồm: (i) Theo thoả thuận của các bên; (ii) Bên
có quyền miễn việc thực hiện nghĩa vụ; (ii) Nghĩa vụ được thay thế bằng
với chính chủ nợ của mình khi họ là người thừa kế của người có quyền đối
với người chủ nợ đó. Những trường hợp còn lại thì việc chấm dứt nghĩa vụ do
sáp nhập được thực hiện theo ý chí của chủ thể.
* Dựa vào mức độ phổ biến để chấm dứt nghĩa vụ dân sự thì các căn cứ
chấm dứt nghĩa vụ dân sự được chia thành:
- Căn cứ chấm dứt nghĩa vụ dân sự mang tính phổ biến: Đây là căn cứ
được xảy ra thường xuyên đối với các nghĩa vụ dân sự. Thuộc về trường hợp
này bao gồm các căn cứ: Nghĩa vụ được hoàn thành; nghĩa vụ chấm dứt theo
thoả thuận của các bên; Nghĩa vụ chấm dứt khi bên có quyền miễn việc thực
hiện nghĩa vụ; Nghĩa vụ chấm dứt khi nghĩa vụ được thay thế bằng nghĩa vụ
dân sự khác; Nghĩa vụ chấm dứt khi vật đặc định là đối tượng của nghĩa vụ
dân sự không còn và được thay thế bằng nghĩa vụ khác.
- Căn cứ chấm dứt nghĩa vụ dân sự ít phổ biến: Đây là các căn cứ chấm
dứt nghĩa vụ dân sự cũng xảy ra trong thực tế nhưng mức độ phổ biến không
18
nhiều. Ví dụ: Nghĩa vụ chấm dứt khi bên có quyền và bên có nghĩa vụ hoà
nhập làm một; Nghĩa vụ chấm dứt khi thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ dân sự đã
hết; Nghĩa vụ chấm dứt khi bên có nghĩa vụ là cá nhân chết hoặc là pháp
nhân, chủ thể khác chấm dứt mà nghĩa vụ phải do chính cá nhân, pháp nhân,
chủ thể đó thực hiện; Nghĩa vụ chấm dứt khi bên có quyền là cá nhân chết mà
quyền yêu cầu không thuộc di sản thừa kế hoặc là pháp nhân, chủ thể khác
chấm dứt mà quyền yêu cầu không được chuyển giao cho pháp nhân, chủ thể
khác; Các trường hợp khác do pháp luật quy định.
* Dựa vào các căn cứ làm phát sinh nghĩa vụ dân sự, căn cứ chấm dứt
nghĩa vụ dân sự được chia thành:
- Căn cứ chấm dứt nghĩa vụ dân sự được áp dụng chung cho mọi quan hệ
nghĩa vụ dân sự: Tất cả các căn cứ chấm dứt nghĩa vụ dân sự được quy định
tại Điều 374 BLDS 2005 được áp dụng cho mọi quan hệ nghĩa vụ dân sự
vụ được bù trừ;
Tóm lại, về cơ bản căn cứ chấm dứt nghĩa vụ xuất phát từ sự thoả thuận
của các bên chủ thể trong quan hệ nghĩa vụ. Đặc điểm này phù hợp với tính
chất chung của quan hệ pháp luật dân sự là tự do, tự nguyện cam kết, thoả
thuận. Ngoài ra, trong một số trường hợp nhất định nghĩa vụ dân sự còn chấm
dứt dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định. Điều đó cho thấy sự can thiệp
nhất định của Nhà nước vào sự phát triển và tồn tại của các quan hệ dân sự
nói chung và quan hệ nghĩa vụ dân sự nói riêng. Sự can thiệp đó là yêu cầu tất
yếu nhằm mục đích tạo sự ổn định cho các quan hệ nghĩa vụ trong giao lưu
dân sự, kịp thời bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức và chủ
thể khác trong quan hệ nghĩa vụ dân sự.
20
1.3.
SƠ LƢỢC LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA PHÁP LUẬT DÂN
SỰ VIỆT NAM VỀ CĂN CỨ CHẤM DỨT NGHĨA VỤ DÂN
SỰ
Ở Việt Nam, pháp luật về nghĩa vụ dân sự có quá trình hình thành và
phát triển gắn liền với quá trình và sự phát triển của pháp luật dân sự. Căn cứ
vào các tài liệu mà sử sách để lại có thể chia quá trình hình thành và phát triển
của pháp luật về nghĩa vụ dân sự nói chung, căn cứ chấm dứt nghĩa vụ dân sự
nói riêng ở Việt Nam thành một số giai đoạn chủ yếu sau:
1.3.1. Căn cứ chấm dứt nghĩa vụ dân sự thời kỳ Hùng Vƣơng –
An Dƣơng Vƣơng
Thời kỳ Hùng Vương – An Dương Vương với sự ra đời của nhà nước
Văn Lang Âu Lạc đã đánh dấu sự phát triển vượt bậc về mọi mặt trong tiến
trình lịch sử: Từ thời đại mông muội dã man sang thời đại văn minh. Nhà