Nâng cao hiệu quả xét xử vụ án hành chính nhìn từ góc độ bảo đảm tính độc lập của tòa án - Pdf 48

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƢ PHÁP

TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

NGUYỄN THỊ HƢƠNG

NÂNG CAO HIỆU QUẢ XÉT XỬ VỤ ÁN
HÀNH CHÍNH – NHÌN TỪ GÓC ĐỘ
BẢO ĐẢM TÍNH ĐỘC LẬP CỦA TÕA ÁN

Chuyên ngành: Luật Hành chính – Hiến Pháp
Mã số
: 60380102

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. PHẠM HỒNG QUANG

Hà Nội – 2013


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu được trích dẫn theo nguồn đã công bố. Kết quả nêu trong luận văn này là
trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác.

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Hƣơng

: Tố tụng hành chính

XHCN

: Xã hội chủ nghĩa

XXHC

: Xét xử hành chính


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
Chƣơng 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ XÉT XỬ VỤ
ÁN HÀNH CHÍNH DƢỚI GÓC ĐỘ BẢO ĐẢM TÍNH ĐỘC LẬP CỦA
TÒA ÁN ........................................................................................................... 7
1.1 Tính độc lập của Tòa án trong xét xử vụ án hành chính và yêu cầu bảo
đảm tính độc lập của Tòa án trong xét xử vụ án hành chính ....................... 7
1.1.1 Khái niệm xét xử vụ án hành chính .................................................... 7
1.1.2 Tính độc lập của Tòa án trong xét xử vụ án hành chính................... 11
1.1.3 Yêu cầu bảo đảm tính độc lập của tòa án trong xét xử vụ án hành chính..17
1.2 Hiệu quả xét xử vụ án hành chính ....................................................... 19
1.2.1 Khái niệm hiệu quả xét xử vụ án hành chính ................................... 19
1.2.2 Các tiêu chí xác định hiệu quả xét xử vụ án hành chính: ................. 21
1.2.3. Những yếu tố quy định và chi phối hiệu quả xét xử vụ án hành chính
của Tòa án: ................................................................................................. 23
1.3 Mối quan hệ giữa hiệu quả xét xử vụ án hành chính và bảo đảm tính
độc lập của Tòa án trong xét xử hành chính. ............................................. 25
Chƣơng 2.THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XÉT XỬ VỤ ÁN HÀNH CHÍNH
GẮN VỚI YÊU CẦU BẢO ĐẢM TÍNH ĐỘC LẬP CỦA TÕA ÁN VÀ

3.3.1. Nâng cao nhận thức về vai trò và yêu cầu bảo đảm tính độc lập của
tòa án trong xét xử vụ án hành chính: ........................................................ 55
3.3.2 Đổi mới tổ chức bộ máy tòa án ......................................................... 57
3.3.3 Hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm sự tuân thủ nguyên tắc độc lập
của tòa án.................................................................................................... 60
3.3.4 Hoàn thiện hệ thống pháp luật về tố tụng hành chính ...................... 64
3.3.5. Nâng cao chất lượng của cơ quan, người tiến hành tố tụng trong việc
giải quyết vụ án hành chính ....................................................................... 66
3.3.6 Một số giải pháp khác ....................................................................... 68
KẾT LUẬN ....................................................................................................69
TÀI LIỆU THAM KHẢO


1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tòa án nhân dân ở nước ta chính thức được trao quyền xét xử vụ án hành
chính từ năm 1996. Ngày 28/10/1995 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa
Việt Nam khóa IX, kỳ họp thứ 8 đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều
của Luật tổ chức Tòa án nhân dân, trong đó giao cho tòa án nhân dân chức năng
xét xử những vụ án hành chính, thiết lập tòa hành chính trong tòa án nhân dân tối
cao và các tòa án nhân dân tỉnh, bên cạnh các tòa hình sự, dân sự, kinh tế, lao
động. Sau hơn 15 năm thực hiện chức năng xét xử hành chính, tòa án ngày càng
khẳng định vị trí quan trọng trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá
nhân, tổ chức trong mối quan hệ với cơ quan công quyền. Một thực tế không thể
phủ nhận được là giải quyết các tranh chấp hành chính bằng con đường tòa án
dần đang trở nên quen thuộc đối với các cơ quan, tổ chức và cá nhân. Có khá
nhiều vụ việc hành chính đã được xét xử tại tòa án, trong đó cá nhân, tổ chức với
tư cách là người khởi kiện đã thắng kiện. Hoạt động xét xử hành chính ở nước ta

việc nâng cao hiệu quả xét xử hành chính gắn với yêu cầu bảo đảm tính độc lập
của tòa án hiện nay là một yêu cầu cấp thiết.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, đặc biệt là từ khi nước
ta chính thức trở thành thành viên của WTO, nhiệm vụ nâng cao hiệu quả xét xử
hành chính ở nước ta ngày càng trở nên cấp bách. Trong khuôn khổ của WTO,
chúng ta đã cam kết hoàn thiện pháp luật và thể chế của mình phù hợp với những
yêu cầu mà WTO đã đề ra trong đó có yêu cầu nâng cao hiệu lực của hệ thống
kiểm tra hoạt động hành chính, đảm bảo giải quyết hiệu quả các tranh chấp hành
chính phát sinh trong quản lý hành chính nhà nước.
Từ những thực tiễn hoạt động xét xử hành chính, dựa trên quan điểm chỉ
đạo của Đảng và yêu cầu hội nhập quốc tế, tác giả đã lựa chọn đề tài "Nâng cao
hiệu quả xét xử vụ án hành chính - nhìn từ góc độ bảo đảm tính độc lập của
tòa án" làm đề tài luận văn thạc sĩ.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Liên quan đến vấn đề nâng cao hiệu quả xét xử vụ án hành chính của tòa
án, đã có nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả trong nước đề cập đến ở
các mức độ khác nhau như:
Công trình nghiên cứu khoa học cấp Bộ "Một số giải pháp nâng cao hiệu
quả, chất lượng giải quyết khiếu kiện hành chính tài Tòa án nhân dân theo tinh
thần cải cách tư pháp" của Tòa án nhân dân Tối cao, năm 2005 do nhóm tác giả
Ths. Đặng Xuân Đào, Ths. Lê Văn Minh và Vũ Tiến Trí thực hiện. Công trình
nghiên cứu khái quát về thực trạng tổ chức và hoạt động của hệ thống tòa án
nhân dân, đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả xét xử hành chính bao gồm
những giải pháp tăng cường vai trò của Thẩm phán hành chính, những đòi hỏi
đối với Tòa hành chính trong điều kiện mới, hoặc các biện pháp tăng cường cơ
sở vật chất cho hệ thống tòa án hoặc tăng cường hợp tác quốc tế...
Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu đề tài KX.04.06 trong Chương trình
khoa học - xã hội cấp nhà nước (2001 – 2005)"Cải cách các cơ quan tư pháp,
hoàn thiện hệ thống các thủ tục tư pháp, nâng cao hiệu quả và hiệu lực xét xử


tích đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam về tính độc lập của tòa án trong xét
xử và đưa ra một số kiến nghị nhất định nhìn nhận từ những góc độ khác nhau.
Cuốn sách chuyên khảo về "Tính độc lập của tòa án - Nghiên cứu pháp lý về các
khía cạnh lý luận, thực tiễn ở Đức, Mỹ, Pháp, Việt Nam và các kiến nghị đối với
Việt Nam" của TS. Tô Văn Hòa đã giới thiệu và phân tích tính độc lập của tòa án
ở một số nước như Hoa Kỳ, Pháp, Đức, phân tích một cách cụ thể thực trạng tính
độc lập của tòa án ở Việt Nam. Tuy nhiên, công trình nghiên cứu đó được thực
hiện cách đây 7 năm nên một số vấn đề độc lập của tòa án trong bối cảnh xây
dựng nhà nước pháp quyền và cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay chưa được
đề cập đến.
Mặc dù các công trình nghiên cứu nêu trên ở những giác độ khác nhau đã
đề cập đến một số vấn đề về nâng cao hiệu quả xét xử vụ án hành chính và tính
độc lập của tòa án trong xét xử hành chính, song cho đến nay chưa có một công
trình nào nghiên cứu một cách cơ bản, toàn diện về vấn đề này.
Do đó, tiếp thu những kết quả nghiên cứu nêu trên, luận văn nghiên cứu
một cách hệ thống, toàn diện và có mối liên hệ giữa nâng cao hiệu quả xét xử
hành chính và yêu cầu bảo tính độc lập của tòa án trong xét xử hành chính


5

3. Mục đích, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu của đề tài
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận văn là làm sáng tỏ những cơ sở lý luận và thực tiễn của
yêu cầu bảo đảm tính độc lập của tòa án trong xét xử hành chính và hiệu quả xét
xử vụ án hành chính gắn với yêu cầu bảo đảm tính độc lập của tòa án, trên cơ sở
đó đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả xét xử vụ án hành chính hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được mục đích nghiên cứu trên, luận văn có nhiệm vụ:
- Phân tích một cách có hệ thống cơ sở lý luận về tính độc lập của tòa án,

độc lập của tòa án và hiệu quả xét xử hành chính. Trong phần đánh giá thực
trạng công tác xét xử hành chính, tác giả sử dụng phương pháp thống kê và phân
tích để đánh giá các số liệu. Việc sử dụng kết hợp các phương pháp là điều cần
thiết trong quá trình thực hiện luận văn để đảm bảo tính khoa học và thực tiễn
của công trình nghiên cứu.
5. Những đóng góp mới của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ mang đến một số đóng góp sau đây:
Thứ nhất, luận văn đã làm sáng tỏ được các vấn đề lý luận liên quan đến
quan niệm về tính độc lập của tòa án, khái quát hóa và xây dựng được một số
khái niệm như: "xét xử hành chính", "tính độc lập của tòa án trong xét xử hành
chính", "hiệu quả xét xử hành chính".
Thứ hai, luận văn đã phân tích và đánh giá một cách khách quan và sâu
sắc về thực trạng công tác xét xử hành chính, thực trạng bảo đảm tính độc lập
của tòa án trong xét xử hành chính; đánh giá được những ưu điểm và hạn chế
của công tác xét xử hành chính và những ảnh hưởng của thực trạng xét xử hành
chính đến công tác xét xử hành chính hiện nay.
Thứ ba, luận văn đã nêu ra những giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu
quả xét xử hành chính gắn với yêu cầu bảo đảm tính độc lập của tòa án, như các
giải pháp về nhận thức, giải pháp về đổi mới tổ chức tòa án, giải pháp hoàn thiện
pháp luật, nâng cao năng lực của cơ quan và người tiến hành tố tụng.
6. Kết cấu luận văn
Ngoài mục lục, phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận
văn được chia làm 3 chương
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về hiệu quả xét xử vụ án hành chính
dưới góc độ bảo đảm tính độc lập của tòa án
Chương 2: Thực trạng công tác xét xử vụ án hành chính gắn với yêu cầu
bảo đảm tính độc lập của tòa án và ảnh hưởng của yêu cầu bảo đảm tính độc lập
của tòa án đến hiệu quả xét xử vụ án hành chính
Chương 3: Một số phương hướng và giải pháp nhằm tăng cường tính độc
lập của tòa án trong xét xử vụ án hành chính, nâng cao hiệu quả xét xử vụ án

luật.
Hoạt động xét xử của tòa án là lĩnh vực thể hiện tập trung nhất của quyền
tư pháp, đây là hoạt động "nhân danh quyền lực nhà nước nhằm xét xử, đánh giá
và ra phán quyết về tính hợp pháp và tính đúng đắn của hành vi pháp luật hay
quyết định pháp luật khi có sự tranh chấp và mâu thuẫn giữa các bên có lợi ích
khác nhau trong các tranh chấp hay mâu thuẫn đó" [50, tr. 13]. Nội dung của
hoạt động xét xử của tòa án là xét xử các hành vi vi phạm pháp luật và giải quyết
cách tranh chấp trong đời sống xã hội. Những tranh chấp trong đời sống xã hội


8

vô cùng đa dạng và phong phú, đó có thể là tranh chấp phát sinh giữa các cá
nhân, tổ chức với nhau trong xã hội, đó cũng có thể là những tranh chấp giữa cá
nhân công dân với cơ quan công quyền trong quá trình cơ quan công quyền sử
dụng quyền lực nhà nước, đòi hỏi tòa án phải giải quyết để bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của công dân.
Quản lý hành chính là hoạt động quản lý nhà nước trong lĩnh vực thực thi
quyền hành pháp, được thực hiện chủ yếu bởi hệ thống cơ quan hành chính nhà
nước và các cá nhân có thẩm quyền. Các chủ thể quản lý hành chính được trao
quyền lực nhà nước trong lĩnh vực hành pháp để thực hiện những hoạt động
quản lý mang tính chất chấp hành - điều hành. Trong quá trình thực hiện các
hoạt động này, các chủ thể quản lý có quyền ban hành các quyết định hành chính
hoặc thực hiện các hành vi hành chính mang tính quyền lực nhà nước, có tính
đơn phương và bắt buộc thi hành đối với các đối tượng quản lý. Vì nhiều lý do
khác nhau, các quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính do các chủ thể
quản lý hành chính thực hiện có thể trái pháp luật, xâm hại đến quyền, lợi ích
hợp pháp của các cá nhân, tổ chức là đối tượng quản lý, hoặc cũng có thể các đối
tượng quản lý chủ quan cho rằng mình bị xâm hại bởi các quyết định hành chính,
hành vi hành chính. Tất cả những trường hợp như vậy đều có thể nảy sinh những

xử các vụ án hành chính đối với các quyết định hành chính và hành vi hành
chính.
Xét xử hành chính có đối tượng xét xử đặc thù đó là các tranh chấp phát
sinh từ QĐHC hoặc HVHC của cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức bị cá nhân,
tổ chức khởi kiện sau khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết theo thủ
tục hành chính nhưng không thỏa đáng [22, tr. 40]. Khác với hoạt động xét xử
các vụ án hình sự, dân sự hay kinh tế... trong xét xử hành chính, các bên đương
sự bao gồm có một bên là chủ thể quản lý hành chính nhà nước, một bên là đối
tượng quản lý nhà nước. Người bị kiện trong trường hợp này là một chủ thể
mang quyền lực nhà nước trong quá trình tác động tới đối tượng quản lý của
mình. Mối quan hệ giữa chủ thể quản lý nhà nước và đối tượng quản lý nhà nước
là mối quan hệ "quyền lực - phục tùng". Việc xét xử hành chính là xét xử tranh
chấp giữa hai đối tượng này, cụ thể là xét xử đối với việc đối tượng quản lý hành
chính nhà nước kiện chủ thể quản lý hành chính nhà nước mà dân gian thường
gọi là “dân kiện quan”. Do vậy, đây chính là một hoạt động nhà nước đặc biệt,
trong đó, tòa án là cơ quan xem xét, đánh giá và ra phán quyết về tính hợp pháp
của hoạt động quản lý hành chính nhà nước nói trên.
Thực chất của việc xét xử hành chính đó là việc tòa án xem xét và ra
phán quyết về tính hợp pháp các hoạt động hành pháp của cơ quan hành chính
nhà nước trong quá trình tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước, quyền lực hành
pháp. Trong quá trình hoạt động, các cơ quan hành chính có nhiều cách thức và
phương pháp quản lý khác nhau để thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn
của mình. Một trong những hình thức vừa cơ bản, vừa thường xuyên phản ánh
tập trung nhất chức năng quản lý hành chính nhà nước của quyền hành pháp là
ban hành văn bản áp dụng quy phạm pháp luật (quyết định hành chính). Đây là
hình thức hoạt động thường nhật, phổ biến trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội


10


chính đó gây ra trong thực tế là bao nhiều? và xác định mức bồi thường thiệt hại
mà cơ quan công quyền phải gánh chịu trước cá nhân, tổ chức đó? Thông quan
bản án hành chính, tòa án sẽ đưa ra những phán quyết cụ thể về những tranh
chấp xảy ra giữa chủ thể quản lý hành chính nhà nước và đối tượng quản lý hành
chính nhà nước xảy ra trong quá trình quản lý hành chính nhà nước. Các đối
tượng liên quan có nghĩa vụ thi hành.


11

Xét xử hành chính là một phương thức hữu hiệu để bảo vệ quyền và lợi
ích của công dân trước cơ quan công quyền. Các quyền và lợi ích hợp pháp
chính đáng của công dân có thể bị vi phạm từ nhiều phía: đó có thể là sự vi phạm
bởi hành vi trái pháp luật của các cơ quan nhà nước nói chung (cơ quan lập pháp,
cơ quan tư pháp, cơ quan hành chính nhà nước và các cán bộ, công chức của
những cơ quan này) cũng như bởi các hành vi trái pháp luật của các tổ chức xã
hội, tổ chức kinh tế, hoặc của công dân khác. Nhưng có thể nói, sự vi phạm của
các cơ quan hành chính và các cán bộ, công chức hành chính làm thiệt hại quyền
và lợi ích hợp pháp của công dân và vấn đề khiếu kiện hành chính để bảo vệ các
quyền, lợi ích hợp pháp chính đáng đó là điều đáng nói hơn cả. Bởi mối quan hệ
qua lại về quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa nhà nước và công dân được thực hiện
trực tiếp, cụ thể, thường xuyên trên thực tế chính là mối quan hệ giữa các cơ
quan hành chính nhà nước với công dân. Vì vậy, xét về mặt khách quan, cả về số
lượng và đối tượng bị thiệt hại bởi các quyết định hành chính, và đối tượng bị
thiệt hại bởi các hành vi hành chính trái pháp luật là nhiều hơn cả. Do vậy, xét
xử hành chính là một phương thức hữu hiệu để bảo vệ quyền và lợi ích của công
dân.
Từ những nhận định trên đây, có thể đưa ra một khái niệm về xét xử hành
chính như sau:
Xét xử hành chính là việc tòa án trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của

phán quyết sự hợp pháp của những hoạt động của nhánh hành pháp và lập pháp.
Việc xét xử các hành vi của các quan chức nhà nước, và của cả các cơ quan hành
pháp và lập pháp thuộc chức năng của tòa án là một cửa ải của tư pháp để hạn
chế quyền lực nhà nước [7, tr. 610]. Thứ hai, tư pháp không chỉ thực hiện chức
năng nhà nước, mà còn thực thi chức năng xã hội thiêng liêng là bảo vệ, duy trì
công lý, công bằng xã hội... Tư pháp không chỉ nhân danh nhà nước mà còn
nhân danh công lý. Bởi vậy nhiệm vụ của tư pháp là xét xử công bằng, đưa ra
những phán quyết công bằng. Thứ ba, một vai trò quan trọng của quyền tư pháp
đó chính là bảo vệ quyền con người, quyền công dân trước mối đe dọa của hành
pháp và lập pháp.
Bởi vậy, bản thân của quyền tư pháp cũng phải có những đòi hỏi riêng
khác với các cành quyền lực khác. Theo GS.TS Nguyễn Đăng Dung " …Đối với
ngành quyền lực tư pháp, bên cạnh việc cũng bị hạn chế trong việc phải tuân thủ
các quy định của pháp luật, nhưng lại khác với các cành quyền lực lập pháp và
hành pháp là việc tư pháp ngày càng can thiệp sâu vào các hoạt động của xã hội
và phải có trách nhiệm loại trừ mức thấp nhất những oan sai trong hoạt động
xét xử của mình. Với tư cách là thành trì của tự do, tòa án có nhiệm vụ quan
trọng cuối cùng cho việc hạn chế sự lạm dụng quyền lực của các cơ quan và các
nhân viên của nhà nước, bằng cách xét xử các vụ việc vi phạm và lạm dụng
quyền lực nhà nước. Chính việc xét xử này của tòa cũng là một trong những hình
thức quan trọng bậc nhất của sự hạn chế quyền lực nhà nước. Một trong những
đòi hỏi của tư pháp trong nhà nước pháp quyền là phải độc lập trước các cành
quyền lực khác của nhà nước. Khi vai trò của các nhà lập pháp và quan tòa
được trao cho hai cơ quan khác nhau, sự quản lý tùy tiện sẽ không còn hoặc ít


13

nhất là có sơ sở cho việc bị hạn chế. Khi quyền làm luật được tách khỏi quyền
hiểu, tức là quyền giải thích và áp dụng pháp luật, thì chính nền tảng của pháp

ra quyết định hành chính và không có quyền lợi thực chất nào liên quan tới kết
quả của vụ việc”[51, tr. 66]. Tính độc lập của tòa án trong xét xử nói chung
cũng đã trở thành một nguyên tắc hiến định được ghi nhận trong Hiến pháp
1946, Hiến pháp 1959, Hiến pháp 1980, Hiến pháp 1992 được sửa đổi, bố sung
năm 2001. Tại điều 30 Hiến pháp 1992 quy định: “Khi xét xử, Thẩm phán và
Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”. Nguyên tắc này cũng được ghi
nhận lại trong các Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002, Bộ luật tố tụng hình
sự 2009 và Bộ luật tố tụng dân sự 2005 được sửa đổi, bổ sung năm 2011, Luật tố
tụng hành chính 2010.
b) Khái niệm tính độc lập của tòa án trong xét xử vụ án hành chính
Ngoài việc ghi nhận tính độc lập của tòa án, rất nhiều văn bản cam kết
quốc tế đã tìm cách đưa ra khái niệm chính xác về tính độc lập của tòa án. Theo


15

Tuyên bố Bắc Kinh về các nguyên tắc của tính độc lập của tòa án trong khu vực
của tổ chức LAWASIA (Hiệp hội Pháp luật châu Á và Tây Thái Bình Dương)
tính độc lập của tòa án được định nghĩa như sau: “Hệ thống tòa án phải quyết
định các vấn đề thuộc thẩm quyền theo sự đánh giá khách quan của nó về các
yếu tố sự kiện (của vụ việc) và theo cách hiểu của nó về pháp luật mà không có
sự can thiệp không phù hợp, cho dù là trực tiếp hay gián tiếp, từ bất cứ nguồn
nào” [18, tr. 95]. Bộ tiêu chuẩn tối thiểu của tính độc lập của tòa án của Hiệp hội
Đoàn luật sư quốc tế(IBA) tiếp cận khái niệm tính độc lập của tòa án từ góc độ
tính độc lập của thiết chế tòa án và tính độc lập của cá nhân thẩm phán. Tính độc
lập của cá nhân thẩm phán được chia thành hai loại nhỏ: Độc lập cá nhân và độc
lập nội dung. "Tính độc lập của cá nhân có nghĩa là “nhiệm kỳ và điều kiện làm
việc của thẩm phán phải được quy định đầy đủ, để đảm bảo rằng cá nhân các
thẩm phán không phụ thuộc vào sự điều khiển của cơ quan hành pháp”. Độc lập
nội dung có nghĩa là “trong quá trình thực hiện chức năng xét xử, thẩm phán

phán hoặc hội thẩm nhân dân phải độc lập với nhau và độc lập với các yếu tố tác
động bên ngoài. Theo đó, độc lập của tòa án Việt Nam được hiểu một cách phổ
biến là sự độc lập của cá nhân thẩm phán và hội thẩm nhân dân. Sự độc lập của
thiết chế của tòa án không được nhắc đến. Tuy nhiên cần phải thấy rằng tính độc
lập của thiết chế tòa án và tính độc lập của cá nhân thẩm phán phải có mối quan
hệ mật thiết với nhau. "Mục đích của tính độc lập của thiết chế tòa án nhằm bảo
vệ tính độc lập của cá nhân thẩm phán trong hệ thống tòa án. Tòa án độc lập thì
càng đem lại sự độc lập cho cá nhân thẩm phán làm việc trong đó. Tuy nhiên,
nếu hệ thống tòa án, như một thiết chế mà không được độc lập thì sự độc lập của
mỗi cá nhân thẩm phán làm việc trong đó chắc chắn sẽ không được đảm bảo, bởi
vì sự phụ thuộc của cả hệ thống đương nhiên kéo theo sự phụ thuộc của từng cá
nhân. Ngược lại, sự độc lập của thiết chế có thể sẽ vô ích nếu như cá nhân những
thẩm phán, người chịu trách nhiệm thực thi chức năng xét xử, lại phải lệ thuộc
vào cơ quan lập pháp hay hành pháp. Chính vì mối quan hệ mật thiết này, tính
độc lập của tòa án phải được xem như hai mặt của một vấn đề và lý thuyết về
tính độc lập của tòa án phải đề cập đến cả hai mặt đó" [18, tr. 83].
Từ những phân tích nêu trên có thể đưa ra một định nghĩa về tính độc lập
của tòa án đó là “địa vị của tòa án và thẩm phán được quyết định những vấn đề
của vụ án phù hợp với sự đánh giá khách quan của các Thẩm phán trên cơ sở
các tình tiết, sự kiện của vụ án và sự hiểu biết của Thẩm phán về pháp luật mà
không có sự can thiệp hay tác động trực tiếp hay gián tiếp của bất cứ cơ quan, tổ
chức hay cá nhân nào để họ có thể thực hiện nhiệm vụ xét xử chỉ tuân theo pháp
luật và lý trí của mình nhằm đưa ra những quyết định công bằng và khách
quan”
Theo đó thì tính độc lập của tòa án trong xét xử vụ án hành chính có nghĩa
là địa vị của tòa án và thẩm phán khi xem xét và ra phán quyết về tính hợp pháp
của quyết định hành chính, hành vi hành chính của cá nhân, cơ quan quản lý
hành chính nhà nước bị khiếu kiện chỉ dựa trên cơ sở các tình tiết, sự kiện của vụ
án, cơ sở pháp luật pháp luật và niềm tin nội tâm của thẩm phán mà không bị
phụ thuộc vào bất kỳ chủ thể nào khác nhằm đưa ra một phán quyết công bằng

chỉnh. Các biện pháp bảo đảm tính độc lập của tòa án sẽ làm tòa án yên tâm hơn
khi đưa ra những quyết định khách quan, không sợ sự đe dọa từ cơ quan hành
pháp đến vị trí của mình.
Sự cần thiết của việc bảo đảm tính độc lập của tòa án trong xét xử hành
chính còn thể hiện ở chỗ, xuất phát từ đối tượng đặc thù của xét xử hành chính,
đó là những tranh chấp phát sinh giữa một bên là cơ quan hành chính nhà nước
và một bên là công dân. Nếu như trong các quan hệ tố tụng khác (tố tụng dân sự,
kinh tế, lao động), các bên tham gia quan hệ trước đó đều bình đẳng quyền và
nghĩa vụ trên cơ sở thoả thuận theo ý chí của mình, vì vậy khi xảy ra tranh chấp
các bên đều có quyền kiện ra trước Toà án để bảo vệ quyền lợi cho mình. Tranh


18

chấp hành chính lại xuất phát từ mối quan hệ vốn không bình đẳng đó là quan hệ
hành chính: quan hệ giữa người quản lý và đối tượng bị quản lý. Tuy nhiên, việc
thực hiện quyền của cơ quan hành chính (người quản lý) và nghĩa vụ chấp hành
của công dân (người bị quản lý) đều được pháp luật quy định. Và vì vậy, khi có
tranh chấp xảy ra, công dân kiện đến cơ quan tài phán, quan hệ hành chính
chuyển sang quan hệ tố tụng mà đặc trưng của nó phải là sự bình đẳng giữa các
bên. Nhiệm vụ của tố tụng hành chính chính là "cân bằng hóa" mối quan hệ đó
nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của người dân. Đó chính là vai trò xét xử hành
chính mà không một hoạt động nào khác của nhà nước có thể làm được. Một nhu
cầu đặt ra là tòa án cần phải có một vị trí ngang bằng, thậm chí là cao hơn cơ
quan hành chính nhà nước để bảo đảm cho tòa án có thể đưa ra những phán
quyết buộc cơ quan hành chính phải thi hành. Để làm được điều đó thì việc bảo
đảm tính độc lập của tòa án trong xét xử hành chính là vô cùng cần thiết.
Tóm lại, một quy luật tất yếu cho bất kỳ hoạt động nào của nhà nước đó là
muốn khách quan thì phải trung lập, để trung lập thì cần phải độc lập. Đó cũng
chính là bản chất của xét xử cần được bảo đảm độc lập của tòa án nói chung, của

sách của mình lên quốc hội. Vì tòa hiểu biết về nhu cầu của mình hơn ai hết, biết
phải làm thế nào để có thể hoạt động hiệu quả, và việc tòa án tự kiểm soát chi
tiêu ngân sách của mình sẽ duy trì được tính độc lập của tòa án.
Đảm bảo tính độc lập cho cá nhân thẩm phán: Để thẩm phán có những
điều kiện thực hiện hoạt động xét xử một cách độc lập, Thẩm phán cần được
đảm bảo các yếu tố cơ bản như: Được tuyển chọn, bổ nhiệm bởi một quy trình
công khai, minh bạch và dựa trên trình độ, năng lực và đạo đức của thẩm phán;
Nhiệm kỳ vững chắc, lâu dài; Được trả lương thích đáng; Việc kỷ luật, miễn
nhiệm, cách chức thẩm phán phải dựa trên cơ sở và quy trình xem xét công khai,
minh bạch và khách quan...
1.2 Hiệu quả xét xử vụ án hành chính
1.2.1 Khái niệm hiệu quả xét xử vụ án hành chính
Nhà nước khi thực hiện bất kỳ một hoạt động nào cũng nhằm đạt đến một
mục đích nhất định. Xét xử hành chính là một hoạt động áp dụng pháp luật của
tòa án và thẩm phán nhằm đạt được những mục đích nhất định do nhà nước đặt
ra cho công tác xét xử hành chính. Những mục đích đó là:
- Tránh cho hành pháp vi phạm pháp luật; hành pháp phải phục tùng luật,
tôn trọng luật
- Hạn chế sự lạm quyền của các cơ quan hành chính nhà nước, tăng cường
vai trò trách nhiệm của họ trong việc giải quyết các công việc liên quan đến công
dân, tổ chức, nhất là tăng cường vai trò trách nhiệm bảo đảm an ninh trật tự xã
hội, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân.
- Hạn chế, khắc phục tình trạng hoạt động của hành pháp xâm hại đến
quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức
- Giải quyết tốt các tranh chấp, mâu thuẫn phát sinh từ khiếu kiện của
công dân giữa chính quyền với công dân, tổ chức [2, tr. 16]



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status