Ộ BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
TRẦN BẢO YẾN
PHÁP LUẬT VỀ ĐẦU TƯ, KINH DOANH VỐN NHÀ NƯỚC
TRONG CÁC TỔ CHỨC KINH TẾ- NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
VÀ THỰC TIỄN
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 60380107
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN:
PGS.TS. TRẦN NGỌC DŨNG
HÀ NỘI- 2013
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận
được sự hướng dẫn, giúp đỡ quý báu của các thầy cô và các bạn ở trường Đại
học Luật Hà Nội. Tôi xin được bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới Ban Giám
hiệu, Khoa Sau Đại học, Khoa Pháp luật Kinh tế Trường Đại học Luật Hà Nội
đã tận tình dạy dỗ, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian
qua. Đặc biệt, tôi xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc đến thầy giáo PGS.TS. Trần
Trách nhiệm hữu hạn
UBND
Ủy ban nhân dân
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
0
LỜI NÓI ĐẦU
3
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài:
1
2. Tình hình nghiên cứu đề tài:
2
3. Mục đích và nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài:
3
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu:
1.2.1. Chủ thể của hoạt động đầu tư, kinh doanh vốn nhà nước trong các tổ
chức kinh tế
8
1.2.2. Vốn nhà nước dùng cho hoạt động đầu tư, kinh doanh trong các tổ
chức kinh tế
12
1.2.3. Các nhóm hoạt động đầu tư, kinh doanh vốn nhà nước trong các tổ
chức kinh tế
16
1.2.4. Quản lý của nhà nước đối vốn nhà nước đầu tư trong các tổ chức kinh
tế
18
1.3. Khái niệm, hệ thống và nội dung của pháp luật về đầu tư, kinh doanh vốn
nhà nước trong các tổ chức kinh tế.
19
1.3.1. Khái niệm pháp luật về đầu tư, kinh doanh vốn nhà nước trong các tổ
chức kinh tế.
19
28
Chương 2. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ,
KINH DOANH VỐN NHÀ NƯỚC TRONG CÁC TỔ CHỨC KINH TẾ
32
2.1. Thực trạng các quy định pháp luật về hoạt động đầu tư kinh doanh vốn
nhà nước trong các tổ chức kinh tế
32
2.1.1. Quy định về chủ thể thực hiện quyền đầu tư kinh doanh vốn nhà nước
vào các tổ chức kinh tế
32
2.1.2. Quy định về vốn nhà nước được sử dụng đầu tư kinh doanh vào các tổ
chức kinh tế
37
2.1.3. Quy định về chính sách đầu tư của Nhà nước vào các tổ chức kinh tế 39
2.1.4. Quy định về quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu Nhà nước đối với hoạt
động đầu tư kinh doanh vốn nhà nước vào các tổ chức kinh tế
40
2.1.5 Quy định về cơ chế giám sát đánh giá hiệu quả hoạt động đầu tư kinh
3.2. Phương hướng hoàn thiện pháp luật về đầu tư, kinh doanh vốn Nhà nước
trong các tổ chức kinh tế.
60
3.3. Những giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về đầu tư, kinh doanh vốn
Nhà nước trong các tổ chức kinh tế
62
3.4. Những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động thi hành pháp
luật về đầu tư, kinh doanh vốn nhà nước trong các tổ chức kinh tế.
66
KẾT LUẬN
69
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài:
Từ Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI (1986) đến nay, 27 năm đã
trôi qua. Công cuộc đổi mới toàn diện và sâu rộng ở Việt Nam đã làm cho nền
kinh tế có những bước phát triển mạnh mẽ. Tốc độ tăng trưởng GDP hằng năm
của Việt Nam ở mức cao so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Đời
những giải pháp cho việc hoàn thiện các quy định pháp luật về đầu tư, kinh
doanh vốn nhà nước, nâng cao hiệu quả hoạt động đầu tư vốn nhà nước vào các
doanh nghiệp, tác giả đã chọn vấn đề: Pháp luật về đầu tư, kinh doanh vốn nhà
nước trong các tổ chức kinh tế - Những vấn đề lý luận và thực tiễn làm đề tài
luận văn Thạc sỹ Luật học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài:
Cho tới nay, ở Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu vấn đề liên quan
đến nội dung đề tài như:
Luận văn Thạc sỹ Luật học của tác giả Hoàng Công Dũng nghiên cứu vấn đề:
“Những giải pháp tăng cường quản lý của Nhà nước đối với tài sản đầu tư trong
các doanh nghiệp”, Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2012. Kết quả nghiên cứu
của luận văn này đã chỉ ra được những ưu điểm và hạn chế trong hoạt động quản
lý của Nhà nước đối với tài sản đầu tư trong các DN và kiến nghị các giải pháp
nhằm nâng cao hiệu quả của Nhà nước trên cơ sở tập trung vào hoàn thiện thể
chế, kiện toàn thiết chế quản lý và các biện pháp đảm bảo thực thi pháp luật trên
thực tế.
Luận văn Thạc sỹ Luật học của Nguyễn Thị Ngọc Hòa (2011, Khoa Luật Đại
học Quốc gia Hà Nội) nghiên cứu “Pháp luật về Tổng công ty đầu tư và kinh
doanh vốn nhà nước ở Việt Nam”. Kết quả nghiên cứu của luận văn này đã phân
tích làm rõ về một mô hình đầu tư kinh doanh vốn Nhà nước trong các tổ chức
kinh tế mới được hình thành giai đoạn gần đây đó là Tổng công ty đầu tư kinh
doanh vốn nhà nước và đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt
động của Tổng công ty này trên thực tế.
Liên quan đến việc quản lý vốn nhà nước đầu tư vào các tổ chức kinh tế, cũng
đã có những bài viết nhận xét về ưu điểm, hạn chế cũng như các giải pháp pháp
luật cho hoạt động này trên các báo, tạp chí, trang web điện tử.
3
Tuy nhiên, để nhìn nhận hoạt động đầu tư, kinh doanh vốn nhà nước dưới góc
4
5. Phương pháp nghiên cứu đề tài:
Việc nghiên cứu đề tài dựa trên cơ sở phương pháp luận biện chứng duy vật
của chủ nghĩa Mác-Lê nin: tác giả nghiên cứu sự phát triển của sự vật trong sự
tác động qua lại lẫn nhau, trong nhiều mối quan hệ. Tác giả cũng sử dụng
phương pháp duy vật lịch sử để thấy được sự phát triển của hoạt động đầu tư,
kinh doanh vốn nhà nước vào các tổ chức kinh tế, đánh giá hiệu quả của hoạt
động này trong bối cảnh tình hình phát triển kinh tế hiện nay.
Ngoài ra, tác giả luận văn còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể,
như: phân tích, diễn giải, hệ thống hoá, tổng hợp…Phương pháp phân tích, diễn
giải được tác giả sử dụng để đi sâu vào chi tiết, tìm hiểu từng vấn đề của pháp
luật về hoạt động đầu tư, kinh doanh vốn nhà nước trong các tổ chức kinh tế,
thực trạng hiệu quả cũng như hạn chế của các quy định này trên thực tế. Tác giả
sử dụng phương pháp hệ thống để thống nhất các vấn đề nhằm đưa ra những
đánh giá và nhận định về tính phù hợp, và những điểm cần hoàn thiện và các giải
pháp nâng cao hiệu quả hoạt động đầu tư, kinh doanh vốn nhà nước trong các tổ
chức kinh tế. Tác giả sử dụng phương pháp tổng hợp khi trình bày các kết quả
nghiên cứu đề tài trong phần Kết luận của luận văn
6. Những đóng góp mới của luận văn:
Với các kết quả nghiên cứu của mình, tác giả luận văn đã:
- Đưa ra một cách nhìn toàn diện, đầy đủ về các vấn đề lý luận cũng như về
pháp luật về hoạt động đầu tư, kinh doanh vốn nhà nước trong các tổ chức kinh
tế.
- Đánh giá thực trạng các quy định pháp luật về đầu tư, kinh doanh vốn nhà
nước trong các tổ chức kinh tế; đưa ra kết luận về những ưu điểm và nhược điểm
của các quy định pháp luật về vấn đề này.
- Đánh giá thực tiễn thi hành pháp luật về đầu tư, kinh doanh vốn nhà nước
trong các tổ chức kinh tế.
- Đưa ra phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về đầu tư, kinh
Thuật ngữ “đầu tư” theo định nghĩa trong Từ điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ
học là việc:“bỏ nhân lực, vật lực, tài lực vào công việc gì trên cơ sở tính toán
hiệu quả kinh tế, xã hội”[17,tr.301].
Dưới góc độ pháp lý giáo trình Luật Đầu tư của Trường Đại học Luật Hà Nội
quan niệm “đầu tư”: “là việc nhà đầu tư bỏ vốn, tài sản theo các hình thức và
cách thức do pháp luật quy định để thực hiện hoạt động nhằm mục đích lợi
nhuận hoặc mục đích kinh tế xã hội khác”. Một cách cụ thể hơn, khái niệm “đầu
tư” được định nghĩa tại Khoản 1 Điều 3 Luật Đầu tư năm 2005 như sau: “Đầu tư
là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình
thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư”[1,tr.16].
Dưới góc độ này, hoạt động đầu tư có các đặc điểm sau đây:
- Phải có sự bỏ ra hoặc hi sinh một nguồn lực (Khoản chi phí dưới hình thức
vốn, tài sản.v.v.) nào đó của hiện tại nhằm đạt tới một mục tiêu hoặc một kết quả
nào đó.
- Kết quả thu được từ hoạt động đầu tư có thể là các khoản lợi nhuận, sự gia
tăng vốn, tăng thêm tài sản, mở rộng hoạt động sản xuất, kinh doanh hoặc đạt
được một mục tiêu, một kết quả nào đó được chủ thể đầu tư được coi là có giá trị
lớn hơn so với giá trị của nguồn lực đã bỏ ra.
7
- Hoạt động đầu tư hướng tới các kết quả trong tương lai. Nghĩa là nhà đầu tư
bỏ chi phí đầu tư, hi sinh nguồn lực hiện tại để thu lại kết quả trong một khoảng
thời gian sắp tới.
Nhà đầu tư thực hiện hoạt động đầu tư có thể là cá nhân, pháp nhân, các tổ
chức và nhà nước. Trong đó, nhà đầu tư Nhà nước thường được coi là nhà đầu tư
lớn, chiếm tỷ trọng đầu tư đáng kể trong cơ cấu đầu tư toàn xã hội.
Khái niệm kinh doanh theo Từ điển Thuật ngữ Luật học được định nghĩa như
sau: Kinh doanh là: các hoạt động đầu tư, sản xuất, mua bán, cung ứng dịch vụ
cho các chủ thể kinh doanh tiến hành một cách độc lập, thường xuyên trên thị
b) Tổ chức tín dụng, DN kinh doanh bảo hiểm, quỹ đầu tư và các tổ chức tài
chính khác theo quy định của pháp luật;
c) Cơ sở dịch vụ y tế, giáo dục, khoa học, văn hóa, thể thao và các cơ sở dịch
vụ khác có hoạt động đầu tư sinh lợi;
d) Các tổ chức kinh tế khác theo quy định của pháp luật.
Tuy nhiên, trong phạm vi luận văn này, vấn đề chính được tác giả quan tâm
và tập trung phân tích đó là việc nhà nước đầu tư vốn vào các tổ chức kinh tế là
DN được tổ chức và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp. Đây là “địa điểm” đầu
tư chính được Nhà nước bỏ vốn vào thực hiện hoạt động kinh doanh với mục tiêu
tăng cường vốn Nhà nước và định hướng, điều tiết nền kinh tế vĩ mô. Trong luận
văn này, thuật ngữ: “doanh nghiệp” có giá trị tương đương như thuật ngữ: “tổ
chức kinh tế”.
1.2. Đặc điểm của hoạt động đầu tư, kinh doanh vốn nhà nước trong các
tổ chức kinh tế
1.2.1. Chủ thể của hoạt động đầu tư, kinh doanh vốn nhà nước trong các tổ
chức kinh tế
Trong hoạt động đầu tư vốn nhà nước vào các tổ chức kinh tế, Nhà nước đóng
vai trò là chủ đầu tư. Khác với các chủ đầu tư thông thường (nhất là các nhà đầu
tư tư nhân), Nhà nước bên cạnh tư cách là chủ sở hữu những nguồn lực đầu tư
còn mang trong mình vai trò tổ chức đại diện cho quyền lực công cộng. Nhà
nước có quyền sử dụng pháp luật để quản lý các hoạt động đầu tư của mình. Đây
là điều mà các chủ đầu tư khác không thể có được.
9
Với vai trò đặc biệt của mình, mục tiêu của hoạt động đầu tư của Nhà nước
cũng có những điểm khác biệt nhất định. Các điểm khác biệt có thể kể đến như
sau:
Thứ nhất, với các nhà đầu tư tư nhân, mục tiêu lợi nhuận thường được xem là
mục tiêu duy nhất thì trong việc đầu tư của Nhà nước, mục tiêu lợi nhuận không
bản phát triển), trong giai đoạn phát triển ban đầu của chủ nghĩa tư bản (còn gọi
là giai đoạn chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh) Nhà nước hầu như để mặc các lực
lượng thị trường (khu vực tư nhân) tự do phát triển. Nhà nước tôn trọng, bảo hộ
quyền sở hữu tài sản (sở hữu tư nhân), quyền tự do cạnh tranh và tự do hợp đồng
của các chủ thể hoạt động kinh tế (các DN tư), và chỉ can thiệp khi có tranh chấp,
bất đồng giữa các chủ thể. Trong lĩnh vực đầu tư, Nhà nước chủ yếu chỉ tiến hành
các hoạt động đầu tư phát triển, đó là việc nhà nước đầu tư các hạng mục, công
trình, lĩnh vực mà các thành phần kinh tế khác không có điều kiện đầu tư như cơ
sở hạ tầng kỹ thuật của nền kinh tế, cung cấp các dịch vụ công; đầu tư cho an
ninh, quốc phòng , hỗ trợ nền kinh tế như khai hoang, mở rộng lãnh thổ, đánh
thức các tiềm năng xã hội…( chức năng này thường được các nhà kinh tế gọi là
chức năng cung ứng hàng hóa, dịch vụ công cộng cho xã hội) [7, tr.84,85].
Những hoạt động đầu tư này cung cấp nền tảng chung cho sự phát triển kinh tế
xã hội. Nguồn lực thực hiện hoạt động đầu tư vượt ra ngoài khả năng của các
thành phần kinh tế khác do yêu cầu nguồn lực đầu tư rất lớn, khả năng thu hồi
thấp hoặc không thể thu hồi, những khoản đầu tư như vậy còn mang tính thường
xuyên, ổn định và chiếm tỷ trọng lớn trong nguồn ngân sách quốc gia. Kinh phí
để Nhà nước thực hiện chức năng này có nguồn từ các loại thuế, phí mà Nhà
nước thu được từ xã hội.
Tuy nhiên, với sự thất bại của mô hình kinh tế thị trường tự do (bằng sự trải
nghiệm của cuộc đại suy thoái và khủng hoảng giai đoạn 1929-1932) kinh tế thị
trường được coi là đã bộc lộ đầy đủ những khuyết tật cố hữu, mô hình nền kinh
tế hỗn hợp, trong đó ngoài “bàn tay vô hình” của thị trường, bàn tay hữu hình của
nhà nước thông qua các quy định của luật pháp, các công cụ thuế lũy tiến, các
chương trình an sinh xã hội, các DN công.v.v.cần được sử dụng để khắc phục các
khuyết tật của cơ chế thị trường, trở thành mô hình kinh tế phổ biến ở các nước
phát triển. Sự can thiệp này hướng tới các mục tiêu cơ bản là:
11
12
cân bằng phát triển kinh tế giữa các vùng, các lĩnh vực khác nhau trong nền kinh
tế, duy trì tăng trưởng và đảm bảo phát triển bền vững. Nghĩa là, kinh tế nhà
nước, đầu tư nhà nước đóng vai trò chèo lái con thuyền kinh tế quốc gia và việc
Nhà nước đầu tư kinh doanh hoàn toàn là đòi hỏi mang tính khách quan.
Mặc dù tính hợp lý, chính đáng của việc Nhà nước đầu tư kinh doanh có
nhiều ý kiến khác nhau, nhưng tại thời điểm hiện nay, quan điểm chính thức của
Việt Nam là Nhà nước đồng thời có thể thực hiện cả hoạt động đầu tư phát triển
và hoạt động đầu tư kinh doanh [4, tr.147,148]. Nhà nước sử dụng tài sản do Nhà
nước quản lý đầu tư vào các DN với mục tiêu là tăng giá trị tài sản của Nhà nước
và thực hiện việc kiểm soát sự ổn định kinh tế trong những lĩnh vực chiến lược
[1, tr.204].
1.2.2. Vốn nhà nước dùng cho hoạt động đầu tư, kinh doanh trong các tổ
chức kinh tế
Vốn là một trong những nhân tố có tầm quan trọng quyết định tới mọi hoạt
động kinh doanh của DN nói riêng và của cả nền kinh tế nói chung.
Đối với sự phát triển của một quốc gia, vốn được coi là một trong bốn nguồn
lực của nền kinh tế quốc dân. Đó là nhân lực, vốn, kỹ thuật công nghệ, và tài
nguyên. Như vậy, xét trong một quốc gia, muốn phát triển nền kinh tế quốc dân,
ngoài nhân lực, kỹ thuật công nghệ và tài nguyên thì cần phải có vốn.
Vốn kinh doanh của một DN là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản dùng
cho kinh doanh: Về phương diện vật chất, vốn bao gồm các loại máy móc, thiết
bị, nhà cửa, kho tàng, vật kiến trúc, vật tư hàng hoá…là các phạm trù gắn với nền
sản xuất hàng hoá. Vốn có thể là tiền như tiền Việt Nam, ngoại tệ, vàng bạc đá
quý…Nhưng tiền chỉ có thể trở thành hàng hoá khi nó được đưa vào lưu thông,
sản xuất kinh doanh. Tiền có sự luân chuyển từ hình thái vật chất sang tiền tệ với
một lượng lớn hơn và ngày càng mở rộng. Ngoài sự tồn tại dưới dạng vật chất
vốn còn tồn tại dưới dạng những tài sản vô hình như quyền sở hữu công nghệ, uy
tín của DN, nhãn mác độc quyền, kinh nghiệm tay nghề, nguồn nhân lực, nguồn
sách nhà nước cho công ty nhà nước khi thành lập, trong quá trình hoạt động
kinh doanh, vốn nhà nước tiếp nhận từ nơi khác chuyển đến theo quyết định của
cơ quan nhà nước có thẩm quyền; giá trị các khoản viện trợ, quà biếu, quà tặng;
tài sản vô chủ, tài sản dôi thừa khi kiểm kê công ty nhà nước; vốn bổ sung từ
14
nguồn lợi nhuận sau thuế; giá trị quyền sử dụng đất và các khoản được tính vào
vốn nhà nước theo quy định của pháp luật.
Mối quan hệ sở hữu giữa Nhà nước-các tổ chức kinh tế-tài sản đầu tư của Nhà
nước trong các tổ chức kinh tế được giải thích bằng mối quan hệ sở hữu giữa chủ
tài sản-Nhà nước và khách thể của nó-tài sản. Tài sản với tư cách khách thể của
quan hệ sở hữu, phải nằm trong mối quan hệ sở hữu nhất định, gắn liền với một
chủ sở hữu nhất định đó chính là Nhà nước. Nhà nước- thực hiện quyền năng của
chủ sở hữu- đầu tư bằng tài sản thì chuyển quyền sở hữu tài sản đó cho các tổ
chức kinh tế, tài sản lúc này thuộc sở hữu của các tổ chức kinh tế và độc lập với
tài sản của chủ sở hữu Nhà nước. Nhà nước có quyền sở hữu của nhà đầu tư các
quyền lợi vật chất đối với tài sản của tổ chức kinh tế hình thành từ tài sản đem
góp vốn mà không sở hữu các tài sản cụ thể của tổ chức kinh tế. Sau khi Nhà
nước đầu tư tài sản vào tổ chức kinh tế thì tổ chức kinh tế có quyền sử dụng với
tư cách pháp nhân đối với tài sản đó. Tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân, có tài
sản riêng và đầy đủ các quyền của chủ sở hữu tài sản gồm quyền chiếm hữu,
quyền sử dụng, quyền định đoạt. Lúc này, giữa Nhà nước và tổ chức kinh tế được
Nhà nước đầu tư vốn vào đã có sự tách biệt về mặt chủ thể.
Trên phương diện đầu tư, mối quan hệ giữa chủ sở hữu với tài sản thường là
mối quan hệ trực tiếp về cả mặt hiện vật và mặt giá trị. Tuy nhiên, trong hoạt
động đầu tư, hình thái hiện vật của tài sản không phải là mối quan tâm của nhà
đầu tư. Thay vào đó mặt giá trị của tài sản được coi trọng. Nhà đầu tư quan tâm
đến sự bảo toàn về giá trị và lợi tức thu về từ việc đầu tư. Trong hoạt động đầu
tư, tài sản phải có giá trị đầu tư, hoặc có giá trị quy đổi thì mới dùng để đầu tư.
sử dụng vốn [2, tr.19].
Vốn nhà nước đầu tư trong DN được xác định như thế nào cũng là một vấn đề
có nhiều quan điểm khác nhau:
Quan điểm thứ nhất cho rằng: vốn nhà nước đầu tư vào DN không bao gồm
vốn DN đó đầu tư vào DN khác.
Cơ sở lập luận của quan điểm này chính là tính độc lập giữa DN có vốn nhà
nước và chủ sở hữu nhà nước về tài sản. Như đã đề cập ở trên, tài sản nhà nước
đầu tư vào DN được tách rời khỏi khối tài sản của chủ sở hữu nhà nước, DN lúc
này có quyền sở hữu với tài sản này, Nhà nước nắm giữ quyền tài sản về mặt giá
16
trị. Trong quá trình sản xuất kinh doanh, khi cần thiết DN này thực hiện việc đầu
tư thành lập DN, vốn đầu tư thành lập DN mới là vốn của DN, không phải của
Nhà nước. Do đó, vốn DNNN đầu tư vào DN khác không phải là vốn nhà nước
[2, tr.19].
Quan điểm thứ hai cho rằng: vốn nhà nước đầu tư vào các DN bao gồm vốn
nhà nước đầu tư vào các DN và vốn DN đó đầu tư vào DN khác.
Quan điểm này được thể hiện trong pháp luật Việt Nam, theo đó tài sản vốn
của Nhà nước Việt Nam đầu tư trong các DN bao gồm vốn đầu tư vào công ty
nhà nước và vốn công ty nhà nước đầu tư vào DN khác. Với cách hiểu và quy
định như vậy, phạm vi vốn nhà nước đầu tư trong các DN được mở ra khá rộng.
Có lẽ quy định này xuất phát từ quan điểm cho rằng mọi nguồn vốn phát sinh từ
vốn có nguồn gốc từ Nhà nước đều phải coi là vốn nhà nước [2, tr.20].
1.2.3. Các nhóm hoạt động đầu tư, kinh doanh vốn nhà nước trong các tổ
chức kinh tế
Các tổ chức kinh tế mà luận văn này đề cập đến là DN hoạt động theo Luật
Doanh nghiệp năm 2005 và Luật Doanh nghiệp Nhà nước năm 2003 (đã hết hiệu
lực), cụ thể hơn đó là DN có vốn đầu tư của Nhà nước.
DN có vốn nhà nước vừa là địa điểm lại vừa là một trong những công cụ
DNNN được chia thành DNNN và DN khác có vốn nhà nước.
- Dựa trên tiêu chí mục tiêu hoạt động của DN, DN có vốn nhà nước được
chia thành DN hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận và DN có mục tiêu lợi
nhuận.
Trong đó, DN không có mục tiêu lợi nhuận thường là DN được Nhà nước đầu
tư toàn bộ số vốn để thành lập và hoạt động sản xuất, kinh doanh với sản phẩm
phục vụ lợi ích công cộng, an ninh, quốc phòng và những mục đích tương tự, lợi
nhuận có thể thấp, không có lợi nhuận hoặc thậm chí lỗ. Các DN này thường
mang tính đặc thù, thường được xác định rõ mặt hàng sản xuất, dịch vụ công
cộng thậm chí giá cả của sản phẩm. Đối với những DN này, đánh giá hiệu quả
sản xuất kinh doanh các tiêu chí về doanh thu, lợi nhuận không phải là tiêu chí
quan trọng nhất mà là việc các DN có hoàn thành tốt các yêu cầu đặc thù của
mình hay không, đó mới là tiêu chí quan trọng nhất.
Các DN có mục tiêu lợi nhuận là các DN được Nhà nước đầu tư vốn để tiến
hành sản xuất kinh doanh với mục tiêu thu lợi nhuận về cho Nhà nước. Đối với
18
những DN này, mục tiêu đặt ra là làm ăn có hiệu quả, làm cho tài sản thuộc sở
hữu nhà nước ngày càng tăng lên.
1.2.4. Quản lý của nhà nước đối vốn nhà nước đầu tư trong các tổ chức
kinh tế
Quản lý của Nhà nước đối với vốn nhà nước đầu tư vào các tổ chức kinh tế là
tổng thể các hoạt động quản lý của Nhà nước và các chủ thể được Nhà nước giao
phó để bảo đảm tài sản, vốn nhà nước được bảo toàn và phát triển, được khai
thác và sử dụng có hiệu quả. Hoạt động quản lý của Nhà nước đối với tài sản nhà
nước đầu tư trong các DN có những đặc điểm riêng như sau:
Thứ nhất, chủ thể quản lý ở đây là Nhà nước. Mặc dù về bản chất, đây là sự
quản lý của chủ sở hữu đối với tài sản của mình đã đầu tư vào một chủ thể khác
(DN) chứ không phải quản lý với tư cách là một tổ chức quyền lực công. Tuy
Đầu tư, kinh doanh vốn nhà nước trong các tổ chức kinh tế là hoạt động thực
hiện chức năng kinh tế của Nhà nước, tuy nhiên, để thực hiện hoạt động này có
sự tham gia của rất nhiều chủ thể và làm phát sinh rất nhiều các quan hệ pháp
luật khác nhau.
Như trên đã phân tích, vốn nhà nước có một khuyết tật cố hữu là khả năng bị
xâm phạm và thất thoát rất cao bởi sự thiếu rõ ràng về người chủ đích thực của
nguồn vốn này. Bởi vậy, đối với hoạt động đầu tư kinh doanh vốn nhà nước vào
các tổ chức kinh tế thì vấn đề được quan tâm nhất là làm sao để việc nhà nước
đầu tư vốn vào các tổ chức kinh tế được thực hiện một cách hiệu quả, không
những bảo toàn mà còn mở rộng được quy mô vốn của chủ sở hữu. Các nhà lập
pháp đã ban hành rất nhiều văn bản quy phạm pháp luật xoay quanh hoạt động
này. Các quy phạm pháp luật được ban hành nhằm điều chỉnh về các vấn đề như:
chủ thể đầu tư, phạm vi vốn được đem ra đầu tư, quyền và nghĩa vụ của các chủ
thể tham gia hoạt động, các quy định về quản lý, giám sát việc sử dụng vốn…Các
quy định này được thể hiện dưới nhiều hình thức như: bộ luật, luật, nghị định,
quyết định…Các quy định này đã tạo thành một hệ thống pháp luật về đầu tư,
kinh doanh vốn nhà nước.
Vì vậy, có thể định nghĩa pháp luật về đầu tư, kinh doanh vốn nhà nước là
tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong
quá trình thực hiện hoạt động đầu tư, kinh doanh vốn nhà nước vào các tổ chức