BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
CHU VĂN MAI
CHỨC NĂNG QUẢN LÝ ĐÔ THỊ CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN
PHƢỜNG Ở THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN HIỆN NAY
Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử Nhà nƣớc và pháp luật
Mã số: 60 38 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS. TS. Nguyễn Văn Động
HÀ NỘI - 2013
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là luận văn do chính bản thân tự nghiên cứu và hoàn
thành trên cơ sở lý luận và thực tiễn quản lý ở địa phương. Các tư liệu, kết quả
nghiên cứu của Luận văn do chính tôi nghiên cứu chưa được công bố ở bất kỳ tài
liệu nào khác.
Tác giả
Chu Văn Mai
những yêu cầu của dân đến Đảng và Nhà nước. Để thực hiện được những chức
năng, nhiệm vụ đó, chính quyền phường phải thực hiện hoạt động quản lý hành
chính nhà nước trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, an ninh quốc
phòng, trật tự và an toàn xã hội ở địa phương theo chức năng, nhiệm vụ thuộc thẩm
quyền do pháp luật qui định; đảm bảo cho các chủ trương, chính sách của Đảng và
pháp luật của Nhà nước đi vào cuộc sống.
Quản lý đô thị là một trong những chức năng cơ bản trong hoạt động quản lý
nhà nước của chính quyền phường nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị
chung tại địa phương. UBND các phường ở Thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An hiện
nay là những cơ quan quản lý nhà nước có chức năng nhiệm vụ chung của cấp
chính quyền cơ sở theo qui định của pháp luật, trong đó chức năng quản lý đô thị là
nội dung quan trọng trong hoạt động quản lý của các phường ở Thành phố Vinh
hiện nay, với mục tiêu chung của Thành phố là từng bước xây dựng Thành phố
Vinh ngày càng hiện đại, văn minh, xứng tầm đô thị loại một và phấn đấu để trở
thành trung tâm kinh tế, văn hóa của vùng Bắc Trung bộ. Trong những năm qua,
hoạt động quản lý đô thị của Thành phố Vinh nói chung và của các phường trên địa
bàn Thành phố nói riêng có nhiều cố gắng; đã đổi mới về nội dung, hình thức quản
lý trên các mặt của lĩnh vực đô thị vì vậy cơ sở hạ tầng, cảnh quan và bộ mặt đô thị
của toàn Thành phố có nhiều thay đổi. Tuy vậy, thực trạng công tác quản lý đô thị ở
các phường của Thành phố Vinh còn nhiều tồn tại, bất cập chưa tương xứng với
tiềm năng, lợi thế và mục tiêu phát triển của Thành phố đặt ra trong việc qui hoạch,
2
kiến trúc, xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng, giao thông, cảnh quan và môi trường
v.v. Những tồn tại, bất cập đó có nhiều nguyên nhân trong đó có nguyên nhân cơ
bản quan trọng là cơ cấu tổ chức bộ máy, năng lực và trình độ của cán bộ làm công
tác quản lý đô thị của Thành phố nói chung và ở các phường của Thành phố Vinh
nói riêng còn nhiều hạn chế. Thành ủy và UBND Thành phố luôn quan tâm tới việc
quản lý đô thị ở cấp phường, đặc biệt là ở các phường của Thành phố Vinh, tỉnh
Nghệ An hiện nay, nhằm chỉ ra những hạn chế, bất cập, vướng mắc và đề xuất giải
pháp hoàn thiện pháp luật, đảm bảo hoạt động quản lý đô thị nói chung và ở các
phường của Thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của Luận văn
Mục đích nghiên cứu của Luận văn là trên cơ sở phân tích, làm rõ một số
vấn đề lý luận về quản lý đô thị, nội dung pháp luật hiện hành về quản lý đô thị nói
chung, thực tiễn quản lý đô thị ở các phường của Thành phố Vinh nói riêng, những
hạn chế, vướng mắc trong quá trình quản lý đô thị, đề xuất được những giải pháp
nâng cao hiệu quả thực hiện chức năng quản lý đô thị của UBND phường ở Thành
phố Vinh hiện nay. Để đạt được mục đích trên, Luận văn luận giải cơ sở lý luận về
chức năng quản lý đô thị của UBND phường ở Thành phố Vinh, tỉnh Nghệ an hiện
nay; đánh giá thực trạng thực hiện chức năng này và đề xuất các giải pháp nâng cao
hiệu quả thực hiện chức năng quản lý đô thị của UBND phường ở Thành phố Vinh,
tỉnh Nghệ an hiện nay.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của Luận văn
Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là hoạt động quản lý của UBND phường
ở Thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An hiện nay. Đây là một chủ đề lớn, phức tạp, cho
nên, trong khuôn khổ một Luận văn thạc sỹ, chúng tôi chỉ nghiên cứu chức năng
quản lý đô thị của UBND phường ở Thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An hiện nay.
5. Cơ sở phƣơng pháp luận và các phƣơng pháp nghiên cứu của Luận văn
Luận văn được hoàn thành trên cơ sở chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ
Chí Minh và các quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về quản lý nhà nước nói chung,
quản lý đô thị nói riêng. Ngoài ra, Luận văn còn sử dụng các phương pháp nghiên
cứu cụ thể như phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê,…
6. Đóng góp mới về khoa học của Luận văn
Luận văn này là một trong những công trình nghiên cứu chuyên về chức
năng quản lý đô thị của UBND phường ở Thành phố Vinh. Nội dung của Luận văn
đề cập một cách có hệ thống khái niệm, nguyên tắc, ý nghĩa của chức năng quản lý
Theo lý luận chung về nhà nước và pháp luật, chức năng của nhà nước là
những hoạt động cơ bản, thường xuyên, liên tục, trực tiếp thể hiện bản chất, nhiệm
vụ và mục tiêu lâu dài của nhà nước. Cần phân biệt chức năng của nhà nước nói
chung với chức năng của mỗi cơ quan nhà nước nói riêng. Chức năng của nhà nước
nói chung là hoạt động chủ yếu, thường xuyên, liên tục của nhà nước mà tất cả các
cơ quan nhà nước đều phải tham gia thực hiện, còn chức năng của mỗi cơ quan nhà
nước là hoạt động chủ yếu, thường xuyên, liên tục của riêng cơ quan đó nhằm góp
phần thực hiện chức năng của nhà nước nói chung. Chức năng của mỗi cơ quan nhà
nước do bản chất, nhiệm vụ, mục tiêu và chức năng của nhà nước nói chung quy định.
Về mặt lý luận, nhà nước là một tổ chức quyền lực công thực hiện chức năng
quản lý xã hội bằng các công cụ pháp luật, quy hoạch, kinh tế và hành chính, nhằm
bảo vệ quyền lợi của giai cấp thống trị trong xã hội. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân, vì vậy, nhà
nước phải phục vụ nhân dân, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ
chức. Nhà nước thực hiện quyền lực nhằm tổ chức và quản lý xã hội, vì hạnh phúc
của nhân dân.
Từ nhận thức như trên về chức năng của nhà nước nói chung chúng ta thấy
rằng chức năng Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thể hiện rõ nét bản
chất Nhà nước ta là nhà nước dân chủ, của dân, do dân và vì dân, thể hiện rõ vai trò
xã hội to lớn của Nhà nước trong việc giữ cân bằng giữa lợi ích xã hội, ổn định xã
hội và bảo vệ lợi ích quốc gia, thể hiện được mục đích mà toàn Đảng, toàn dân ta
phấn đấu "xây dựng một xã hội dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ
văn minh" [32, tr.23].
6
UBND phường do HĐND phường bầu ra nhằm thực hiện mục tiêu, nhiệm
vụ và chức năng của Nhà nước do pháp luật quy định, trong đó có chức năng quản
lý nhà nước về đô thị.
chức làm nhiệm vụ quản lý, điều hành, còn đối tượng quản lý là bộ phận hay đối
tượng chịu sự quản lý dựa trên qui luật khách quan. Do đó, hoạt động quản lý sẽ có
hai loại: quan hệ tác động của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý và tác động
phản hồi từ đối tượng quản lý lên chủ thể quản lý [34. tr. 24,25].
Quản lý là chức năng và hoạt động của hệ thống tổ chức, quản lý tồn tại
trong mọi xã hội để duy trì tổ chức và phân công lao động xã hội, điều hòa các mối
quan hệ xã hội giữa những người trong một tổ chức và giữa các tổ chức xã hội trong
quá trình sản xuất vật chất, trong các hoạt động xã hội nhằm đạt được mục tiêu nhất
định [43. tr. 47] .
Quản lý theo nghĩa rộng là làm cho các công việc được hoàn thành thông
qua các nhân sự. Quản lý liên quan đến việc ra quyết định hoặc lựa chọn cách thức,
kế hoạch tổ chức, bảo vệ và sử dụng các nguồn lực có được để sản xuất hàng hóa và
dịch vụ phục vụ cho việc tiêu thụ, thương mại, hưởng thụ hoặc để xây dựng vốn và
tài sản cho phát triển trong tương lai.
Tóm lại, quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản
lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra [30], [34. tr. 24]
- Khái niệm "đô thị".
Có nhiều cách tiếp cận khái niệm này (từ góc độ đô thị học, văn hóa và xã
hội học. Từ điển Petin La Rousse xuất bản năm 1976 ở Pháp định nghĩa: “Đô thị là
một nơi quần cư trong đó đa số dân cư hoạt động thương nghiệp, công nghiệp hoặc
hành chính". Từ điển Bách khoa Xô Viết năm 1963 định nghĩa: “Đô thị là một điểm
dân cư lớn, trong đó dân cư hoạt động chủ yếu trong công nghiệp, thương nghiệp”.
Một cách chung nhất, chúng ta có thể tiếp cận khái niệm đô thị thông qua định
nghĩa của Từ điển Bách khoa Việt Nam: “Đô thị là không gian cư trú của cộng
đồng người sống tập trung và hoạt động trong những khu vực kinh tế phi nông
nghiệp” [33. tr.836], [36. tr.16].
Như vậy, chúng ta thấy rằng, đô thị cũng như nông thôn, đều là không gian
sống của con người, nói chính xác hơn đó là nơi tụ cư của con người, nghĩa là
những nơi mà con người sống tập trung trên một phạm vi lãnh thổ nhất định. Thế
theo đó, ở đô thị chủ yếu con người tương tác với nhau theo vai trò xã hội, khác với
nông thôn là con người tương tác với nhau theo quan hệ tình cảm. Xã hội học cũng
nghiên cứu một vấn đề khá phức tạp và lý thú đó là yếu tố gắn kết xã hội của đô thị.
Nói chung, người ta cho rằng nếu như sự gắn kết xã hội ở nông thôn là gắn kết tình
cảm, thì sự gắn kết ở đô thị chủ yếu là và cần phải là sự gắn kết theo luật lệ thị
9
trường. Như vậy, dù tiếp cận ở góc độ nào, khi nghiên cứu đô thị, người ta vẫn quan
tâm đến cả hai khía cạnh, hai nhóm yếu tố chính cấu thành đô thị đó là: khía cạnh
không gian vật chất, như không gian kiến trúc, qui hoạch, cảnh quan đô thị, cơ sở hạ
tầng kỹ thuật, điều kiện khí hậu, địa hình...và khía cạnh tổ chức - xã hội, như cộng
đồng cư dân, các thiết chế xã hội, các luật lệ…Và tất nhiên là hai nhóm yếu tố này
không thể tách rời mà còn có mối liên quan chặt chẽ với nhau, tạo nên môi trường
sống cho cư dân đô thị [35. tr.17,18,19].
Còn có nhiều khái niệm khác nhau về đô thị theo các góc độ tiếp cận khác
nhau. Nhưng khái niệm chung nhất là: "Đô thị là điểm dân cư tập trung với mật độ
cao, chủ yếu là lao động phi nông nghiệp, họ sống và làm việc theo phong cách và
lối sống văn minh, hiện đại hơn, khoa học và có hiệu quả kinh tế, văn hóa cao. Đó
là phong cách, lối sống thành thị, lối sống công nghiệp" [35. tr. 6].
Ngoài ra, còn có những khái niệm chuyên biệt khác nhau về đô thị tùy theo
cách tiếp cận của các lĩnh vực khoa học, kinh tế, văn hóa, xã hội, kiến trúc, môi
trường…do có sự khác nhau về phát triển kinh tế - xã hội, về phát triển của hệ thống
đô thị và về cơ cấu hành chính mà mỗi nước có những qui định riêng về điểm dân
cư đô thị và do đó các tiêu chí, tiêu chuẩn qui định của các nước cũng khác nhau. Ở
Việt Nam, khái niệm đô thị tiếp cận theo quan điểm quản lý trong Nghị định
72/2001/NĐ-CP ngày 5/10/2001 của Chính phủ thì đô thị là khu dân cư có đủ hai
điều kiện như sau:
Về cấp quản lý: phải là thành phố, thị xã, thị trấn được cơ quan nhà nước có
và ngoại ô. Các đơn vị hành chính của nội thị gồm: quận và phường, còn các đơn vị
hành chính của ngoại thị gồm: huyện và xã.
+ Qui mô dân số nội thành, nội thị tối thiểu 4000 người. Qui mô dân số đô
thị gồm dân số thường trú và dân số tạm trú từ 6 tháng trở lên tại nội thành phố, thị
xã. Đối với thành phố trực thuộc trung ương, dân số đô thị bao gồm dân số khu vực
nội thành, dân số của nội thị xã trực thuộc (nếu có) và dân số của thị trấn. Quy mô
dân số tối thiểu của một đô thị không nhỏ hơn 4000 người. Riêng ở miền núi, quy
mô dân số tối thiểu của một đô thị không nhỏ hơn 2000 người. Quy mô này chỉ tính
trong nội thị [34. tr. 7, 8].
+ Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp tối thiểu là 65% tổng số lao động.
Lao động phi nông nghiệp của một đô thị là lao động trong khu vực nội
thành phố, nội thị xã, thị trấn thuộc các ngành: công nghiệp, xây dựng, giao thông
vận tải, bưu điện, thương nghiệp, cung ứng vật tư, văn hóa, nghệ thuật, y tế, bảo
11
hiểm, thể thao, tài chính, tín dụng, ngân hàng, quản lý nhà nước, lao động làm
muối, đánh bắt xa bờ và các lao động khác không thuộc ngành sản xuất nông
nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp. Đây là tiêu chí và tiêu chuẩn phân biệt đô thị và
nông thôn về cơ cấu lao động theo các khu vực kinh tế, trong đó đối với đô thị tổng
số lao động ngoài khu vực nông thôn (lâm, ngư) nghiệp phải là chủ yếu (65% trở
lên) để một mặt đáp ứng các chức năng và hoạt động động sản xuất phi nông nghiệp
đô thị, mặt khác phản ánh lối sống công nghiệp, văn minh, văn hóa, khác hẳn so với
nông thôn.
+ Cơ sở hạ tầng tối thiểu đạt 70% tiêu chuẩn, qui chuẩn qui định cho từng
loại đô thị.
Cơ sở hạ tầng kỹ thuật phục vụ các hoạt động của cư dân tối thiểu phải đạt
70% mức tiêu chuẩn, qui chuẩn qui định với từng loại đô thị (ít nhất là bước đầu
xây dựng một số công trình công cộng và hạ tầng kỹ thuật cơ bản). Kết cấu hạ tầng
kinh tế - xã hội, hệ thống dân cư. Mỗi nước có quy định riêng tùy theo yêu cầu và
khả năng quản lý của mình. Việt Nam quy định đô thị là những thành phố, thị xã,
thị trấn, thị tứ với tiêu chuẩn về quy mô dân số cao hơn, nhưng cơ cấu lao động phi
nông nghiệp thấp hơn. Điều đó xuất phát từ đặc điểm nước ta là một nước đông dân,
đất không rộng, đi từ một nước nông nghiệp lên xã hội chủ nghĩa. Điều đó cũng thể
hiện sự nhận thức đầy đủ hơn về mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ
sản xuất trong điều kiện nước ta.
- Những đặc điểm của đô thị.
Đó là các trung tâm kinh tế, chính trị văn hóa của vùng và của cả nước, có
vai trò chủ đạo trong phát triển kinh tế; có những vấn đề xã hội luôn luôn tiềm ẩn,
như: tội phạm, tệ nạn xã hội, thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh, ô nhiễm môi trường…;
có các thách thức về kinh tế luôn được đặt ra: cung cấp dịch vụ, đất đai, nhà ở, đảm
bảo công ăn việc làm, giao thông, đi lại…; có cơ sở hạ tầng hoàn chỉnh hoặc đã
được quy hoạch và hoàn chỉnh từng phần, mật độ các công trình cao là những đặc
trưng cơ bản của đô thị. Cơ sở hạ tầng, mật độ dân số cao và quy mô dân số là
những yếu tố tạo ra những lợi thế, hiệu quả kinh tế về tính tập trung của đô thị; có
cơ cấu lao động, sự phân công lao động theo hướng chuyên môn hóa cao là tiền đề
cơ bản của việc nâng cao năng suất lao động, là cơ sở đời sống kinh tế - xã hội của
đô thị; có cấu trúc xã hội, công nghiệp khác với làng, xã và người dân đô thị gắn với
cuộc sống thương mại, công nghiệp.
13
- Khái niệm "quản lý đô thị".
Quản lý đô thị đã trở nên một chủ đề rất quan trọng đối với tất cả các nước
và các tổ chức phát triển quốc tế trên thế giới, vì vậy có nhiều cách hiểu và nhìn
nhận khác nhau để đưa ra các khái niệm về quản lý đô thị: Quản lý đô thị là sự tác
động bằng các cơ chế, chính sách của các chủ thể quản lý đô thị (các cấp chính
quyền, các tổ chức xã hội, các sở, ban, ngành chức năng) vào các hoạt động đô thị
tế, xã hội, quy hoạch xây dựng, kiến trúc, kết cấu hạ tầng và bảo vệ môi trường,
đảm bảo cho các đô thị phát triển bền vững, trật tự và trường tồn trong quá trình tạo
lập môi trường sống cho dân cư đô thị [34. tr.26]. Chủ thể quản lý là các cấp chính
quyền và cơ quan chức năng chuyên môn được ủy quyền từ trung ương cho tới địa
phương, gọi chung là các cơ quan hành chính nhà nước hay còn gọi là hệ thống
hành chính công. Hệ thống hành chính công gắn liền với các cơ quan thực thi quyền
hành pháp của Nhà nước [34. tr 26]. Đối tượng quản lý là tất cả các cơ quan, tổ
chức, đơn vị, doanh nghiệp, cá nhân, cộng đồng, nhóm dân cư có các hoạt động
diễn ra trên địa bàn đô thị. Công tác quản lý nhà nước về đô thị có hai đặc điểm cơ
bản là kết hợp quản lý ngành và quản lý theo lãnh thổ; quản lý tổng hợp đa ngành,
đa lĩnh vực. Trong đó, tính kết hợp giữa quản lý ngành và theo lãnh thổ trong quản
lý nhà nước về đô thị có thể thấy rõ như sau tiến hành đồng thời theo các qui định
pháp luật, của nhà nước, cụ thể hóa các qui định quản lý nhà nước và ban hành các
quyết định hành chính cho phù hợp với điều kiện, đặc điểm riêng của từng địa
phương, nhưng không trái với quy định pháp luật; các quyết định hành chính do
chính quyền và các cơ quan chức năng chuyên môn của đô thị chỉ có giá trị trong
phạm vi địa bàn đô thị; tính quản lý tổng hợp đa ngành, đa lĩnh vực thể hiện rõ khi
hoạt động quản lý nhà nước về đô thị là quản lý tất cả các hành vi, hoạt động của
các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân, nhóm cộng đồng dân cư tham gia vào hoạt
động đời sống xã hội của đô thị, do vậy quản lý nhà nước về đô thị là quản lý nhiều
ngành, nhiều lĩnh vực nhưng chủ yếu là quản lý về qui hoạch, xây dựng, kiến trúc,
quản lý bất động sản, quản lý khai thác, sử dụng hạ tầng cơ sở, quản lý vệ sinh môi
trường, quản lý trật tự, an ninh, an toàn đô thị, quản lý hành chính đô thị [34. tr. 27,
28]. Hiện nay, các lĩnh vực quản lý nhà nước về đô thị thường được chia thành ba
nhóm, bao gồm các hoạt động quản lý quá trình tạo dựng không gian và cơ sở vật
chất của đô thị; quản lý khai thác sử dụng cơ sở vật chất - kỹ thuật của đô thị; quản
lý các lĩnh vực khác như hành chính đô thị, an toàn, trật tự đô thị, phòng chống tệ
nạn xã hội…Quản lý nhà nước về đô thị được phân thành ba nhóm cụ thể là: a,
lực của đô thị, giữ gìn trật tự đô thị, giải quyết các tranh chấp và xử lý vi phạm. Các
chỉ tiêu được xác định trong đồ án qui hoạch được duyệt là căn cứ quan trọng để lập
16
kế hoạch phát triển đô thị. Qui hoạch đô thị xác định rõ địa giới, nguồn lực có thể sử
dụng của từng cá nhân và tổ chức được giao quyền xây dựng, khai thác, phát triển
đất đai, bất động sản hoặc dịch vụ công cộng đô thị… Khi được coi là công cụ quản
lý nhà nước về đô thị, qui hoạch đô thị phải bảo đảm tính thống nhất, tính đồng bộ,
tính khoa học, tính dự báo và tầm nhìn hướng tới tương lai. Các loại đồ án qui
hoạch đô thị nói chung và qui hoạch xây dựng đô thị nói riêng được cấp có thẩm
quyền phê duyệt là cơ sở pháp lý để tiến hành quản lý đô thị, tiến hành đầu tư cải
tạo, chỉnh trang, phát triển đô thị phải được thể hiện trên bản đồ qui hoạch và được
công khai hóa nhằm ngăn chặn các hành vi trục lợi. Việc tuân thủ các qui hoạch đô
thị được duyệt là thước đo đánh giá chất lượng của công tác quản lý nhà nước về đô
thị [34. tr. 29, 30].
+ Kế hoạch phát triển đô thị: kế hoạch phát triển đô thị được lập để xác định
phương hướng, mục tiêu, và các biện pháp để đạt được các mục tiêu, chỉ tiêu phát
triển đô thị trên các mặt kinh tế, xã hội, bảo vệ môi trường. Kế hoạch phát triển đô
thị đảm bảo sử dụng hiệu quả các nguồn lực để đạt được mục tiêu. Các kế hoạch
phát triển đô thị là công cụ để điều tiết theo định hướng của nhà nước đối với các tổ
chức, cá nhân có các hoạt động liên quan tới các nguồn lực của đô thị như đất, khí,
nước, công trình xây dựng, không gian đô thị, dịch vụ công cộng, cơ sở hạ tầng
kinh tế, xã hội và kỹ thuật đô thị… Kế hoạch phát triển đô thị là cơ sở để đảm bảo
tiến trình thực hiện các chiến lược về qui hoạch phát triển kinh tế, xã hội, bảo vệ
môi trường, và qui hoạch đô thị. Vì vậy, kế hoạch phát triển đô thị là công cụ quan
trọng nhằm đảm bảo sự lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất của nhà nước đối với tiến trình
phát triển đô thị. Kế hoạch phát triển đô thị thường được xác lập theo khung thời
gian dài hạn, trung hạn, ngắn hạn và theo các chủ thể quản lý như kế hoạch cấp nhà
hướng và mục tiêu mong đợi. [34. tr. 33]
Phương pháp hành chính thường được áp dụng khi Nhà nước cần tác động
trực tiếp và bắt buộc mọi cá nhân, mọi tổ chức phải tuân thủ nghiêm ngặt pháp luật,
mọi hành vi vi phạm sẽ bị xử lý nghiêm khắc. Phương pháp hành chính được dùng
khi có sự phân công, phân quyền rõ ràng để đảm bảo các hoạt động phối kết hợp
của các cơ quan quản lý nhà nước trong công tác quản lý nhà nước về đô thị. Vì
vậy, phương pháp hành chính thường được dùng để xác lập trật tự, kỷ cương xã hội.
Tuy nhiên, việc sử dụng phương pháp hành chính cần được bổ trợ của các phương
pháp khác, nhằm tránh căn bệnh quan liêu, mệnh lệnh hành chính của nhà nước và
cán bộ nhà nước thực hiện. [34. tr. 33]
18
Phương pháp kinh tế thường được áp dụng khi nhà nước sử dụng các lợi ích
kinh tế để điều chỉnh một cách gián tiếp các đối tượng quản lý. Phương pháp kinh tế
thường được coi là phương pháp quản lý mềm dẻo nhất và ngày càng trở nên thông
dụng do sự tác động của nó khiến cho đối tượng quản lý thiết lập và lựa chon mục
tiêu phát triển phù hợp với mục tiêu chung của xã hội. Phương pháp này cho phép
mở rộng sự tham gia của các cá nhân và tổ chức vào các công việc thuộc trách
nhiệm kiểm tra, giám sát của nhà nước để giảm các chi phí và tính cứng nhắc, mệnh
lệnh hành chính đơn thuần, đồng thời có thêm được các giải pháp sáng tạo khác.
Việc sử dụng phương pháp kinh tế luôn phải đi cùng với các cơ chế chính sách về
đầu tư, khai thác, sử dụng các nguồn lực đô thị và đòi hỏi năng lực quản lý cao để
giám sát việc thực hiện một cách công bằng [34. tr. 33].
Phương pháp tuyên truyền giáo dục thường được sử dụng để tác động gián
tiếp thông qua việc nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các đối tượng quản lý và
thường được kết hợp cùng với phương pháp khác để nâng cao hiệu quả công tác
quản lý nhà nước về đô thị. Việc tuyên truyền giáo dục nâng cao ý thức trách nhiệm
của từng cá nhân, tổ chức, cơ quan liên quan tới phát triển và quản lý đô thị nhằm