BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGUYỄN ĐỨC M INH
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT
VỀ BẢO HIỂM TIỀN GỬI TẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành: L uật kinh tế
Mã số: 60 38 01 07
LUẬN VĂN TH ẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA H ỌC: TS. NGUYỄ N MINH HẰNG
HÀ NỘI - 2013
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứ u của tôi. Số
liệu, kết quả nghiên cứu đề cập trong luận án là trung thực, có nguồn gốc trích
dẫn rõ ràng.
Hà Nội, ngày … .. tháng … .. năm 2013
Học viên
Nguyễn Đức Minh
MỤC LỤC
CHƯƠNG 3. GIẢI PH ÁP HOÀN THIỆN VÀ NÂNG CAO HIỆU Q UẢ
THI HÀNH PH ÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM TIỀN GỬI Ở VIỆT NAM
HIỆN NAY .................................................................................................. 46
3.1. Định hướng hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam hiện
nay ............................................................................................................... 46
3.2. M ột số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm tiền gửi ở Việt
Nam hiện nay ............................................................................................... 47
3.2.1. Về các chủ thể thực thi pháp luật bảo hiểm tiền gửi ........................... 47
3.2.2. Về đối tượng bảo hiểm tiền gửi, phí bảo hiểm tiền gửi và hạn mức bảo
hiểm tiền gửi ................................................................................................ 49
3.2.3. Về việc chi trả Bảo hiểm tiền gửi, thu hồi nợ sau khi chi trả bảo hiểm
tiền gửi ......................................................................................................... 52
3.2.4. Về việc phát huy hiệu quả của hoạt động giám sát từ xa ..................... 54
3.3. M ột số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về bảo hiểm
tiền gửi ......................................................................................................... 54
3.4. Kết luận ................................................................................................. 56
KẾT LUẬN ................................................................................................. 58
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BHTG
Bảo hiểm tiền gửi
NHNN
Ngân hàng nhà nước
TCTD
qua việc ban hành các quy định pháp luật nhằm đem lại sự an toàn ở m ức độ
cao nhất có thể trong hoạt động ngân hàng.
Xét ở một khía cạnh khác, để bảo đảm cho sự bình ổn của hoạt động
ngân hàng rói riêng và cả nền kinh tế xã hội nói chung cần phải tính đến việc
bảo vệ người gửi tiền. Bởi lẽ, huy động vốn bằng tiền gửi là ng uồn vốn quan
trọng nhất của các ngân hàng , lượng vốn này đóng vai trò quyết định đến
lượng tiền mà các ngân hàng có thể sử dụng để cấp cho nền kinh tế.
Như vậy, vấn đề bảo vệ người gửi tiền và bảo vệ sự an toàn, bền vững
trong hoạt động của các ngân hàng phải được xem xét một cách đồng thời và
có mối quan hệ biện chứng với nhau. Bảo hiểm tiền gửi xuất hiện được xem
2
như hoạt động kết hợp hài hoà lợi ích, trước hết bảo vệ lợi ích của người gửi
tiền, mặt khác tạo điều kiện thuận lợi cho sự tồn tại và phát triể n an toàn, bền
vững của hệ thống ngân hàng.
Được thành lập và đi vào hoạt động từ năm 2000, BHTG Việt Nam đã
chứng minh được vai trò của mình trong việc bảo vệ người gửi tiền và đảm
bảo an sinh xã hội. Tuy nhiên, do thời gian hoạt động chưa nhiều và công t ác
thông tin tuyên truyền còn có những hạn chế nên công chúng chưa biết nhiều
về tổ chức BHTG Việt Nam. Hơn nữa, trong bối cảnh hệ thống ngân hàng
đang có những biến đổi mạnh mẽ, mặc dù Luật Bảo hiểm tiền gửi được ban
hành (2012) đã thống nhất điều chỉnh v ề bảo hiểm tiền gửi nhưng hệ thống
văn bản hướng dẫn thi hành về vấn đề này vẫn còn nhiều điểm bất cập, cần
được hoàn thiện hơn nữa đ ể bảo vệ quyền lợi cho người gửi tiền, đảm bảo an
toàn hệ thống ngân hàng và đảm bảo an sinh xã hội. Việc nghiên cứu những
vấn đề lý luận và thực tiễn pháp lý của hoạt động BHTG mang ý nghĩa đóng
góp to lớn, Luận văn “Hoàn thiện pháp luật về Bảo hiểm tiền gửi tại Việt
Nam” mong muốn đóng góp một vài ý kiến pháp lý về vấn đề BHTG ở Việt
tồn tại cần khắc phục, từ đó đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện pháp
luật về BHTG ở Việt Nam hiện nay.
- Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn : Để đạt được mục đích đã nêu
trên, các nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn được xác định cụ thể như sau:
+ Nghiên cứu làm rõ khái niệm bảo hiểm, bảo hiểm tiền gửi để từ đó
phân tích mục đích, vai trò của bảo hiểm tiền gửi;
+ Nghiên cứu lịch sử hình thành và phát triển của BHTG;
+ Phân tích thực trạng các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành
về tổ chức BHTG; tổ chức tham gia BHTG và chủ thể được thụ hưởng
BHTG.
4
+ Phân tích thực trạng các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành
về loại tiền được bảo hiểm; về phí bảo hiểm tiền gửi và hạn mức chi trả bảo
hiểm tiền gửi cho người thụ hưởng khi có sự kiện bảo hiểm phát sinh.
+ Phân tích thực trạng quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về
quy trình chi trả bảo hiểm tiền gửi.
Từ kết quả nghiên cứu thực trạng các quy định của pháp luật về BHTG
và thực tiễn thực hiện pháp luật về BHTG đề xuất phương hướng và giải
pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam t rong giai
đoạn hiện nay.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu : Luận văn tập trung nghiên cứu cơ chế pháp lý
điều chỉnh hoạt động BHTG ở Việt Nam hiện nay và thực trạng của hoạt
động BHTG, đồng thời tìm hiểu về pháp luật BHTG theo thông l ệ quốc tế
nhằm so sánh, đánh giá để tìm ra phương hướng hoàn thiện pháp luật về
BHTG Việt Nam.
- Phạm vi nghiên cứu: Bảo hiểm tiền gửi và pháp luật về bảo hiểm tiền
VỀ BẢO HIỂM TIỀN GỬI
1.1. Khái quát về bảo hiểm tiền gửi
1.1.1. Khái niệm bảo hiểm tiền gửi
Hoạt động tài chính - ngân hàng luôn gắn liền với sự nhạy cảm và ti ềm
ẩn nguy cơ rủi ro, chính vì vậy, mỗi quốc gia cần có một tổ chức đứng ra bảo
vệ người gửi tiền trong trường hợp hệ thống ngân hàng xảy ra đổ vỡ để ổn
định an ninh xã hội. Trong thực tế, các quốc gi a chưa hình thành hệ thống
BHTG cũng đã sử dụng công cụ "bảo hiểm ngầm" có nghĩa là mặc dù không
có cam kết công khai trước công chúng về việc bảo vệ tiền gửi của người gửi
tiền trong trường hợp ngân hàng đổ bể nhưng nếu điều đó xảy ra thì Chính
phủ vẫn đứng ra bảo vệ người gửi tiền [11, tr 12]. Để việc bảo vệ người gửi
tiền thật sự mang lại lợi ích cho quốc gia cũng như xây dựng niềm tin vững
chắc cho công chúng đối với hoạt động ngân hàng, hệ thống BHTG công
khai đã ra đời.
Nguồn gốc ra đời của BHTG gắn liền với việc chuyển từ bảo vệ ngầm
sang bảo vệ công khai tiền gửi. Theo đó, người gửi tiền sẽ được chi trả một
phần hoặc toàn bộ tiền gửi khi ngân hàng đổ vỡ theo hợp đồng hoặc cam kết
công khai. Sự kiện bảo hiểm tiền gửi công khai đầu tiên được hình thành ở
thành phố New York (M ỹ) vào năm 1829 với tên gọi: "Chương trình bảo
hiểm trách nhiệm ngân hàng". Từ năm 1908 đến năm 1917, ở M ỹ có 8 bang
thành lập hệ thống BHTG. Tuy nhiên, đến năm 1930 cả 8 bang này đều bị
đóng cửa do điều kiện kinh tế suy thoái, các ngân hàng M ỹ hoạt động rất khó
khăn, đỉnh điểm là năm 1933 đã có tới 4000 ngân hàng bị đóng cửa do suy
thoái kinh tế [11, tr 18]. Trong bối cảnh như vậy, Chính phủ M ỹ đã quyết
định thành lập BHTG liên bang (FDIC) vào năm 1933 nhằm ổn định tình
hình kinh tế, chính trị đất nước. FDIC bắt đầu đi vào hoạt động từ n gày
7
BHTG để có thêm kênh kiểm tra hoạt động của TCTD và xử lý các TCTD bị
phá sản.
Ngày 09/11/1999 Chính phủ đã ban hành quyết định số 218/QĐ-TTg
cho phép thành lập tổ chức BHTG Việt Nam (BHT G Việt Nam) nhằm bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền, duy trì sự phát triển ổn định, an
toàn và lành mạnh của hệ thống ngân hàng. Tổ chức chính thức đi vào hoạt
động từ ngày 7/7/2000, cho đến nay, văn bản pháp lý điều chỉnh hoạt động
BHTG ở Việt Nam là Nghị địn h 89/1999/NĐ-CP ngày 1/9/1999, Nghị định
109/2005/NĐ-CP ngày 24/8/2005 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của
Nghị định 89/1999/NĐ-CP ngày 1/9/1999 của Chính phủ về BHTG và Luật
Bảo hiểm tiền gửi số 06/2012/QH13 ngày 18/6/2012 .
Theo quy định tại khoản 1 Điều 4 Luật Bảo hiểm tiền gửi, khái niệm
về BHTG được định nghĩa như sau:
Bảo hiểm tiền gửi là sự bảo đảm hoàn trả tiền gửi cho người được bảo
hiểm tiền gửi trong hạn mức trả tiền bảo hiểm khi tổ chức tham gia bảo hiểm
tiền gửi lâm vào tình trạng mất khả năng chi trả tiền gửi cho người gửi tiền
hoặc phá sản.
1.1.2. Đặc điểm của bảo hiểm tiền gửi
BHTG cũng mang bản chất của các loại hình bảo hiểm nói chung, tức
là hoạt động theo nguyên lý lấy số đông bù số ít nhưng bên cạnh đó, BHTG
còn mang những tính chất đặc thù như sau:
Thứ nhất, BHTG là tổ chức tài chính nhà nước, hoạt động không vì
mục tiêu lợi nhuận. Khi xảy ra sự kiện bảo hiểm, tổ chức BHTG có trách
nhiệm thay tổ chức tín dụng trả các khoản tiền gửi được bảo hiểm của các cá
nhân gửi tiền ở tổ chức tham gia BHTG. Trong thực tế, hoạt động ngân hàng
là hoạt động nhạy cảm, mang tính rủi ro và lan truyền cao. Sự đổ vỡ của các
ngân hàng sẽ ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế và gây ra những bất ổn về xã
9
10
kinh doanh trong lĩnh vực ngân hàng là hoạt động có nhiều rủi ro, trong đó
rủi ro về tín dụng, ngoại tệ, rủi ro trong các nghiệp vụ thanh toán... là những
rủi ro lớn, dễ xảy ra và tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn của hệ thống ngân hàng.
Vì vậy, trong lịch sử phát triển của ngân hàng, các nước trên thế giới đã phải
tìm ra các giải pháp để kiểm soát và xử lý các rủi ro này. M ột trong những
giải pháp được đưa ra là xây dựng hệ thống BHTG để hỗ trợ cho khách hàng
khi xảy ra các tình huống rủi ro và quan trọng hơn là xây dựng niềm tin cho
khách hàng gửi tiền, giúp ngân hàng tăng thêm uy tín và thuận lợi trong hoạt
động huy động vốn.
Nhìn chung, vai trò của hoạt động BHTG đối với sự phát triển của hệ
thống ngân hàng của mỗi quốc gia có thể tóm tắt ở những điểm sau:
Một là, hoạt động BHTG có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ người
gửi tiền, nâng cao niềm tin của công chúng đối với hệ thống ngân hàng, góp
phần củng cố và tăng cường uy tín của các ngân hàng. Điều này được thực
hiện thông qua hoạt động chức năng của tổ chức BHTG trong giám sát, kiểm
tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về an toàn trong hoạt động của
các tổ chức tham gia BHTG; hỗ trợ tổ chức tham gia BHTG khi gặp khó
khăn về tài chính nhằm phục hồi hoạt động của tổ chức đó; xử lý tổ chức tín
dụng bị đổ vỡ, chi trả tiền bảo hiểm cho người gửi tiền ...
Hai là, BHTG góp phần đảm bảo sự phát triển lành mạnh của hoạt
động ngân hàng bằng việc tạo ra một sân chơi bình đẳng cho tất cả các
TCTD, đặc biệt là các TCTD có quy mô hoạt động nhỏ. Thông qua các
nghiệp vụ kiểm tra, giám sát rủi ro các TCTD, BHTG có thể cảnh báo đến
các cơ quan chức năng hoặc TCTD về tình hình hoạt động của TCTD có vấn
đề, từ đó giúp cơ quan chức năng và TCTD có vấn đề có những hành động
kịp thời nhằm đảm bảo an toàn trong hoạt động. Ngoài ra, trong trường hợp
TCTD gặp khó khăn thì BHTG sẽ sử dụng các biện pháp hỗ trợ tài chính
12
thống ngân hàng. Xuất phát từ vai trò quan trọng trên mà các quốc gia có
hoạt động BHTG đều nỗ lực xây dựng một hệ thống pháp luật về BHTG
ngày càng hoàn thiện hơn.
Trong đó, pháp luật về BHTG được hiểu: là tổng thể các quy phạm
pháp luật do cơ quan có thẩm quyền ban hành điề u chỉnh các quan hệ xã hội
phát sinh trong quá trình thực hiện BHTG .
Các quốc gia trên thế giới hầu như đều xây dựng Luật BHTG hoặc
Luật Bảo vệ người gửi tiền trước khi thành lập tổ chức BHTG [6]. Thông lệ
trên đã được áp dụng phổ biến, từ các quốc gia có hệ thống BHTG phát triển
lâu đời như M ỹ, Canada, từ các quốc gia Châu Âu đến các quốc gia Châu Á
có đặc thù phát triển tương tự Việt Nam. So với các nước trên thế giới, tổ
chức BHTG Việt Nam ra đời muộn hơn (Tổ chức BHTG Việt Nam chính
thức đi vào hoạt động từ năm 2000). Ở Việt Nam, vấn đề BHTG được đề cập
từ năm 1994 theo quyết định số 101/1994/TCQĐ/BH về việc ban hành quy
tắc bảo hiểm trách nhiệm của quỹ tín dụng nhân dân đối với các khoản tiền
có kỳ hạn. Đây là văn bản pháp luật đầu tiên của Việt Nam về bảo hiểm tiền
gửi. Tuy nhiên, BHTG trong giai đoạn này chỉ là một nghiệp vụ kinh doanh
của Bảo Việt, một doanh nghiệp chuyên kinh doanh các loại bảo hiểm thương
mại. Sau đó, hoạt động BHTG được tách thành một hoạt động độc lập và
mang tính chuyên biệt theo Nghị định số 89/1999/NĐ-CP ngày 01 tháng 9
năm 1999 về BHTG và hoạt động này được thực hiện bởi tổ chức BHTG
Việt Nam, tổ chức này được thành lập theo Quyết định số 218/1999/QĐ -TTg
ngày 09 tháng 11 năm 1999. Tiếp đến, ngày 16 tháng 3 năm 2000, Ngân hàng
Nhà nước Việt Nam đã ban hành Thông tư số 03/2000/TT -NHNN hướng dẫn
thi hành Nghị định số 89/1999/NĐ -CP về BHTG. Sau một thời gian áp dụng,
Nghị định số 89/1999/NĐ-CP đã bộc lộ những hạn chế nhất định nên ngày 24
các cơ quan quản lý và tổ chức BHTG, từ đó bảo vệ tốt nhất quyền lợi của
người gửi tiền và các bên liên quan.
14
Ba là, pháp luật về BHTG tạo ra một cơ chế pháp lý bảo vệ công khai
đối với người gửi tiền. Theo đó, khoản tiền trong một giới hạn nhất định của
người gửi tiền tại tổ chức nhận tiền gửi sẽ được tổ chức BHTG bảo đảm và
thực hiện chi trả cho người gửi tiền trong trư ờng hợp tổ chức nhận tiền gửi
mất khả năng thanh toán.
Bốn là, pháp luật về BHTG còn có vai trò trong việc quy định về
nghiệp vụ bảo hiểm tiền gửi; vị trí, chức năng, nhiệm vụ của tổ chức BHTG,
thẩm quyền được giao và mối quan hệ của tổ chức BHTG với các c ơ quan
khác nhằm tránh chồng chéo nhiệm vụ với các cơ quan khác và giúp hoạt
động bảo hiểm tiền gửi đạt hiệu quả cao hơn .
Năm là, pháp luật về BHTG khi được xây dựng thống nhất, đồng bộ
với các đạo luật có liên quan như Luật Ngân hàng Nhà nước, Luật Các tổ
chức tín dụng, Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật Bảo vệ người tiêu
dùng… sẽ là công cụ hữu hiệu đảm bảo hiệu quả hoạt động của tổ chức
BHTG và điều chỉnh hoạt động của hệ thống ngân hàng.
Pháp luật về BHTG điều chỉnh các quan hệ pháp luật về BHTG, qua
đó bảo đảm hiệu quả của hoạt động bảo hiểm tiền gửi, bảo vệ quyền lợi của
người gửi tiền và góp phần duy trì sự ổn định của hệ thống ngân hàng.
1.2.3. Nội dung cơ bản của Pháp luật về bảo hiểm tiền gửi
Chính sách BHTG muốn đi vào cuộc sống phải được thể ch ế hóa thành
pháp luật của Nhà nước. Pháp luật tạo cơ sở pháp lý cho việc tổ chức và hoạt
động của BHTG, đồng thời chính thức công khai việc bảo vệ quyền lợi của
người gửi tiền.
Quan hệ pháp luật về BHTG không hình thành trên cơ sở hợp đồng
hiệu quả nhất, bảo vệ tốt nhất quyền lợi của người gửi tiền là tổ chức có
nhiệm vụ, chức năng được quy định rõ ràng, được trao đầy đủ quyền hạn để
thực thi nhiệm vụ được giao và được tạo điều kiện độc lập trong hoạt động.
Hai là, tổ chức tham gia BHTG:
16
Tổ chức tham gia BHTG là các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng
nước ngoài. Theo thông lệ quốc tế, hiện nay trên thế giới có hai xu hướng
tham gia BHTG, đó là các tổ chức tham gia BHTG có thể tham gia BHTG
một cách bắt buộc hoặc tự nguyện. Điều này phụ thuộc vào chính sách tài
chính - ngân hàng của mỗi quốc gia. Tuy nhiên, qua nghiên cứu ở các nước,
cho thấy xu hướng phổ biến hiện nay là tham gia BHTG bắt buộc. Khi tham
gia BHTG các tổ chức này có trách nhiệm đóng góp tài chính cho tổ chức
BHTG và được quyền yêu cầu tổ chức BHTG chi trả tiền bảo hiểm cho người
gửi tiền tại tổ chức đó trong trường hợp tổ chức này bị mất khả năng thanh
toán và bị cơ quan có thẩm quyền chấm dứt hoạt động.
Ba là, chủ thể được bảo hiểm tiền gửi:
Chủ thể được bảo hiểm tiền gửi là khách hàng có tiền gửi thuộc đối
tượng được bảo hiểm tại tổ chức tham gia BHTG. Người gửi tiền không phải
đóng góp tài chính cho tổ chức BHTG nhưng có quyền yêu cầu tổ chức
BHTG thanh toán tiền gửi kể tiền lãi tích lũy trên t iền gửi đó trong hạn mức
chi trả tiền gửi được bảo hiểm của tổ chức BHTG, có thể là một phần hoặc
toàn bộ tiền gửi do chính sách của mỗi quốc gia. Ở các loại hình bảo hiểm
thương mại khác, khi chủ thể tham gia bảo hiểm sẽ xuất hiện mối quan hệ
trực tiếp giữa một bên là đối tượng bảo hiểm và một bên là đối tượng được
bảo hiểm. Còn ở BHTG, mặc dù người gửi tiền là người được hưởng lợi trực
tiếp từ chính sách bảo hiểm nhưng không xuất hiện mối quan hệ trực tiếp về
BHTG giữa người gửi tiền và tổ chức BHTG trừ t rường hợp xảy ra đổ vỡ của
tiền gửi được bảo hiểm là đồng Việt Nam và không áp dụng cho bất cứ ngoại
tệ nào. Việc pháp luật quy định không bảo hiểm đối với ngoại tệ đó là liên
quan đến chính sách ngoại hối của mỗi quốc gia. Ở nước ta cũng như nhiều
nước trên thế giới thông thường chỉ bảo hiểm cho đồng nội tệ để tránh tình
trạng đô la hóa.
Hai là, phí bảo hiểm tiền gửi:
18
Phí bảo hiểm tiền gửi là khoản tiền mà tổ chức tham gia BHTG có
nghĩa vụ nộp cho BHTG Việt Nam để được bảo hiểm cho tiền gửi khách
hàng khi xảy ra sự kiện bảo hiểm. Phí BHTG được hạch toán vào chi phí hoạt
động của tổ chức tham gia BHTG.
Hiện nay có hai hệ thống phí BHTG được áp dụng trên thế giới đó là
hệ thống phí đồng hạng và hệ thống phí trên cơ sở rủi ro. Tuy nhiên ngày
càng có nhiều nước đã chuyển từ hệ thống phí trên cơ sở đồng hạng sang hệ
thống phí trên cơ sở rủi ro. Hệ thống phí trên cơ sở rủi ro có nhiều ưu điểm
như đảm bảo công bằng giữa các tổ chức tham gia BHTG, đảm bảo nguyên
tắc, kỷ cương thị trường và kích thích sự phát triển của thị trường tài chính ngân hàng. M ột số quốc gia đang áp dụng mức phí trên cơ sở rủi ro như M ỹ,
Nhật bản, Philipine... [6]; hoặc chuyển từ phí đồng hạng sang mức phí trên cơ
sở rủi ro như Indonesia [7].
Ở Việt Nam, nhằm đảm bảo tính linh hoạt khi áp dụng phí bảo hiểm
tiền gửi và hạn mức trả tiền bảo hiểm trong điều kiện nền kinh tế tăng trưởng
với tốc độ nhanh, Luật không quy định một mức phí hay một khung phí cứng
mà trao thẩm quyền cho Thủ tướng Chính phủ quy định khung phí bảo hiểm
tiền gửi và hạn mức trả tiền bảo hiểm theo đề nghị của Ngân hàng Nhà nước.
Căn cứ vào khung phí bảo hiểm tiền gửi, Ngân hàng Nhà nước quy định mức
phí bảo hiểm tiền gửi cụ thể đối với tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi trên
cơ sở kết quả đánh giá và phân loại các tổ chức này. Phí bảo hiểm tiền gửi
mức đặt trong tình trạng kiểm soát đặc biệt thì tổ chức BHTG c ó thể hỗ trợ
tài chính cho tổ chức tham gia BHTG dưới các hình thức: cho vay, bảo lãnh,
mua lại các khoản nợ của các khách hàng tại tổ chức tham gia BHTG và các
hình thức khác phù hợp với quy định của pháp luật của từng quốc gia.
Sau khi thực hiện chi trả tài chính cho tổ chức tham gia BHTG, tổ chức
BHTG sẽ trở thành chủ nợ của tổ chức tham gia BHTG đối với số tiền bảo
hiểm đã chi trả. Việc thu hồi các khoản nợ này là cần thiết để đảm bảo cho
20
hoạt động của tổ chức BHTG, vì vậy, tổ chức BHTG được phân chia g iá trị
tài sản theo thứ tự như người gửi tiền và thu hồi số tiền bảo hiểm phải trả
trong quá trình xử lý tài sản của tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi theo quy
định của pháp luật.
Nội dung pháp luật về BHTG cũng như pháp luật nói chung được
quyết định bởi những điều kiện kinh tế xã hội cụ thể của mỗi quốc gia bao
gồm: sự phát triển của thị trường tiền tệ, thị trường vốn, sự phát triển của hệ
thống ngân hàng, mức độ cạnh tranh, minh bạch trong hoạt động ngân hàng,
sự hoạt động của các thiết chế quản lý, giá m sát có liên quan, mức độ hiểu
biết, thói quen tiết kiệm của người dân... Do đó, việc xây dựng và hoàn thiện
pháp luật về BHTG phải dựa trên cơ sở điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của mỗi
quốc gia, không thể sao chép máy móc kinh nghiệm xây dựng pháp luật
BHTG của các quốc gia khác.
1.3. Kết luận
Với việc Việt Nam chúng ta đã chính thức trở thành thành viên của
WTO (07/11/2007), tác động của Hội nhập kinh tế quốc tế và xu hướng tự do
hóa Tài chính, Ngân hàng có thể sẽ làm gia tăng rủi ro đối với hoạt động
Ngân hàng. Trong bối cảnh hội nhập với nhiều thách thức như vậy vai trò của
BHTG Việt Nam càng cần thể hiện là một định chế tài chính quan trọng