BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
LÊ MẠNH HÙNG
KIỂM SOÁT HÀNH VI QUẢNG CÁO GÂY NHẦM LẪN
THEO PHÁP LUẬT CẠNH TRANH CỦA VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60 38 01 07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. BÙI NGỌC CƢỜNG
HÀ NỘI - 2013
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên
cứu khoa học của riêng tôi. Các số liệu, ví dụ và
trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính
xác và trung thực. Những kết luận khoa học của
luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ
công trình nào khác.
Tác giả luận văn
Kinh nghiệm về kiểm soát hành vi cạnh tranh không lành mạnh
nói chung và hành vi quảng cáo gây nhầm lẫn nói riêng trong
pháp luật của một số nước trên thế giới
Chương 2:
18
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT KIỂM SOÁT HÀNH VI
QUẢNG CÁO GÂY NHẦM LẪN VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP
NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT, TĂNG CƢỜNG
HIỆU LỰC THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SOÁT
HÀNH VI QUẢNG CÁO GÂY NHẦM LẪN Ở VIỆT NAM
2.1.
Thực trạng quảng cáo gây nhầm lẫn ở Việt Nam
2.2.
Nội dung cơ bản của pháp luật kiểm soát hành vi quảng cáo
gây nhầm lẫn
2.3
34
44
Một số đánh giá về các quy định pháp luật kiểm soát hành vi
quảng cáo gây nhầm lẫn
1/7/2005 khi Luật Cạnh tranh bắt đầu có hiệu lực, đã góp phần tạo một môi
trường cạnh tranh bình đẳng, lành mạnh cho nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa của nước ta, với những quy định phù hợp với điều
ước quốc tế và thực tiễn của Việt Nam.
Trong số các hành vi cạnh tranh được Luật điều ch nh, hành vi quảng
cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh nằm trong nhóm các hành vi bị cấm
thực hiện. Tuy nhiên, trước bối cảnh sức ép từ thị trường ngày càng gay gắt,
các doanh nghiệp luôn coi quảng cáo như một công cụ hữu hiệu trong việc
thuyết phục người tiêu dùng sử dụng sản phẩm của mình, từ đó dẫn đến tình
trạng hoạt động quảng cáo ngày càng có nhiều biến tướng cả về nội dung và
hình thức, tiềm ẩn nguy cơ bị doanh nghiệp lạm dụng để lừa dối khách hàng
bằng những chiêu thức ngày càng tinh vi. Có thể nói rằng, trong số những
hình thức quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh, quảng cáo gây nhầm
lẫn được các doanh nghiệp sử dụng phổ biến. Những loại hình quảng cáo với
thông tin dễ dàng khiến người tiêu dùng nhầm lẫn, khiến cho họ mua sản phẩm
của doanh nghiệp với chất lượng, giá cả không đúng như mong muốn của mình,
không ch gây thiệt hại cho người tiêu dùng mà còn có tác động xấu tới các
nhà kinh doanh chân chính khác, khiến cho thị trường trở nên bất ổn. Trước tình
hình này, pháp luật cạnh tranh vẫn chưa thực sự phát huy được vai trò của mình
trong việc điều ch nh những hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành
mạnh nói chung và hành vi quảng cáo gây nhầm lẫn nói riêng của các doanh
2
nghiệp. Nghị định số 116/2005/NĐ-CP của Chính phủ ngày 15/9/2005 quy định
chi tiết thi hành một số điều của Luật Cạnh tranh không có hướng dẫn cụ thể về
hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh nói chung cũng như hành
vi quảng cáo gây nhầm lẫn nói riêng, hay trong Nghị định số 120/2005/NĐ-CP
ngày 30/9/2005 của Chính phủ về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực cạnh
quyền lợi người tiêu dùng và các doanh nghiệp trên thị trường một cách tốt
hơn là một việc làm cần thiết.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Trước hết, luận văn sẽ tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý liên
quan tới hành vi quảng cáo gây nhầm lẫn, từ đó đưa ra những đặc trưng cơ
bản của loại hành vi này và của pháp luật kiểm soát hành vi quảng cáo gây
nhầm lẫn. Mặt khác, luận văn sẽ đi sâu phân tích, bình luận những vấn đề liên
quan tới thực tiễn áp dụng pháp luật trong hoạt động kiểm soát hành vi quảng
cáo gây nhầm lẫn tại Việt Nam trong thời gian vừa qua, để từ đó đưa ra những
giải pháp nhằm tăng cường hiệu lực thi hành pháp luật trong lĩnh vực này.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Về đối tượng nghiên cứu, luận văn tập trung nghiên cứu về hành vi
quảng cáo gây nhầm lẫn nhằm mục đích cạnh tranh không lành mạnh.
Về phạm vi nghiên cứu, từ việc xác định đối tượng nghiên cứu nói
trên, trước hết luận văn sẽ tập trung phân tích những vấn đề lý luận chung liên
quan đến hoạt động quảng cáo trong pháp luật cạnh tranh; sau đó tìm hiểu
những quy định của pháp luật cạnh tranh hiện hành, đặc biệt là quy định trong
Luật Cạnh tranh năm 2004 và các văn bản hướng dẫn liên quan điều ch nh
hành vi quảng cáo gây nhầm lẫn và quá trình thi hành các quy định này trên
thực tế.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài, học viên sẽ sử dụng các phương pháp nghiên cứu
của các ngành khoa học xã hội nói chung và luật học nói riêng như: phương
4
pháp tiếp cận hệ thống, phương pháp tiếp cận liên ngành, phương pháp phân
tích, tổng hợp, diễn dịch, quy nạp, thống kê, so sánh luật...
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
thông qua ngày 21-6-2012 có hiệu lực từ ngày 01-01-2013, thì quảng cáo là
"Việc sử dụng các phương tiện nhằm giới thiệu đến công chúng sản phẩm
hàng hóa, dịch vụ có mục đích sinh lợi, sản phẩm, dịch vụ không có mục đích
sinh lợi, tổ chức, cá nhân kinh doanh sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ được giới
thiệu trên tin thời sự, chính trị, xã hội, thông tin cá nhân" [25].
Từ khái niệm trên, cho thấy quảng cáo là giới thiệu thông tin. Trong
đó có hoạt động quảng cáo vì mục đích sinh lợi hay còn gọi là quảng cáo
thương mại. Bản chất của quảng cáo là thông tin, tuy nhiên, để cho những
thông tin mà hoạt động quảng cáo mang lại có giá trị thì thông tin đó cần phải
chính xác và đầy đủ. Có thể thấy rằng, người tiêu dùng ch có thể đạt được
mục đích mua sản phẩm đúng như mong muốn khi đã được cung cấp nhưng
thông tin đúng và đủ về chất lượng, nguồn gốc, giá thành… sản phẩm đó.
Những quảng cáo mang tính chất gây nhầm lẫn hoặc gian dối thường đưa ra
những thông tin sai sự thật hoặc cũng có thể đưa những thông tin thiếu sót,
mơ hồ, tạo ra nhận thức sai lệch cho người tiếp nhận, khiến họ nhầm lẫn và
hiểu sai về sản phẩm. Thông tin dạng này hiển nhiên gây ra những tác hại xấu
tới người tiêu dùng.
Vai trò quan trọng của quảng cáo đối với hoạt động thúc đẩy sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp nói riêng cũng như đối với sự phát triển của thị
trường hàng hóa, dịch vụ nói chung là điều không thể phủ nhận. Tuy nhiên,
6
với sự xuất hiện ồ ạt trên các phương tiện thông tin đại chúng như hiện nay,
hoạt động quảng cáo đang có nhiều biến tướng cả về hình thức và nội dung
truyền tải. Trong nhiều trường hợp, "quảng cáo trở thành phương tiện để
doanh nghiệp thực hiện các hành vi cạnh tranh không lành mạnh, xâm hại đến
lợi ích của người tiêu dùng". Một trong những hình thức vi phạm phổ biến
trong lĩnh vực quảng cáo hiện nay là quảng cáo gây nhầm lẫn. Trong những
thông tin này thường được các doanh nghiệp "ngụy trang" bằng những hình
thức tinh vi, phức tạp. Và với những nhận thức thông thường của mình về sản
phẩm, dịch vụ, người tiêu dùng khó có thể phân biệt được đâu là những thông
tin chính xác, đâu là những thông tin gây hiểu nhầm.
Tại Việt Nam, pháp luật cạnh tranh tách biệt nội hàm của hai khái
niệm quảng cáo gian dối và quảng cáo gây nhầm lẫn (tại khoản 3 Điều 45
Luật Cạnh tranh năm 2004). Tuy nhiên, theo quan điểm cá nhân, xét về bản
chất, thì hành vi quảng cáo gây nhầm lẫn, nếu được thực hiện một cách có chủ
ý nhằm lôi kéo người tiêu dùng sử dụng hàng hóa, dịch vụ cũng chính là hành
vi quảng cáo gian dối, hay quảng cáo không trung thực, nếu có sự tách biệt là
ch xuất phát từ hình thức thể hiện của mẫu quảng cáo.
1.1.2. Các hình thức quảng cáo gây nhầm lẫn
Ở một khía cạnh khác, quảng cáo gây nhầm lẫn hay quảng cáo gian
dối nói chung là việc đưa ra những tuyên bố sai sự thật trong quảng cáo (bao
gồm cả quảng cáo so sánh do một bên doanh nghiệp sản xuất, cung ứng một
loạt hàng hóa, dịch vụ đơn phương đưa ra, mà không dựa trên các căn cứ
khoa học cụ thể được công nhận). Do những quảng cáo này có khả năng lôi
kéo người tiêu dùng vào các giao dịch thương mại mà lẽ ra họ có thể tránh
được, nhiều chính phủ trên thế giới đã đưa ra các quy định để kiểm soát loại
hình quảng cáo này. Tại Việt Nam, quy định về quảng cáo gây nhầm lẫn
nhằm thực hiện hành vi cạnh tranh không lành mạnh được thể chế hóa trong
Luật Cạnh tranh, Luật Quảng cáo và Luật Thương mại. Tuy nhiên, khung
pháp lý hiện hành mới ch đề cập chung chung, từ cấu tạo pháp lý của hành vi
cho đến các biện pháp chế tài, mà chưa quy định và giải thích cụ thể đến
8
người tiêu dùng cũng như các doanh nghiệp - những đối tượng chịu sự điều
ch nh của các quy định pháp lý này. Trên thực tế, hoạt động quảng cáo gây
thấp hơn nhiều. Từ đó người tiêu dùng tin tưởng rằng họ có thể thực sự tiết
kiệm được một khoản tiền bằng cách mua hàng giảm giá hoặc dịch vụ được
chiết khấu phần trăm lớn. Ở phương diện khác, các doanh nghiệp cũng phóng
đại mức giá bán cũ của chính họ để so sánh với mức giá hiện thời. Điều đó tác
động đến tâm lý mua hàng của người tiêu dùng, với niềm tin là đã mua được
hàng giá rẻ mà chất lượng vẫn không đổi.
- Mua sản phẩm X tặng sản phẩm Y miễn phí
Với hình thức này, người tiêu dùng sẽ được khuyến khích mua càng
nhiều càng tốt. Nhiều người tiêu dùng đã bị nhầm lẫn với những chương trình
khuyến mãi có tên hấp dẫn như "Mua 1 tặng 1", "mua sản phẩm nào tặng sản
phẩm đó"… Vậy thực chất của việc miễn phí là thế nào? Bằng cách tăng giá
của một mặt hàng lên 5 lần so với giá gốc, hình thức mua 5 tặng 1 được đưa
ra mà vẫn giữ nguyên mức lợi nhuận như cũ. Trong một số trường hợp khác,
sản phẩm tặng thêm có chất lượng kém hơn so với sản phẩm được bán ban
đầu, hoặc giá trị của sản phẩm đó được phóng đại quá mức. Thông thường thì
việc mua bán 1 tặng 1 ch đơn giản là một sự thay thế cho từ "miễn phí" trong
quảng cáo. Về bản chất, mặt hàng đó được giảm giá 50% hoặc người mua
hàng có thể bị miễn cưỡng phải mua ít nhất hai mặt hàng hoặc bội số của hai.
Thực chất, người tiêu dùng phải bỏ tiền ra mua một cái gì đó bởi mặt hàng
miễn phí không phải là thứ cho không. Và chất lượng của mặt hàng miễn phí
này xem ra cũng còn nhiều điều phải bàn.
- Bán hàng "câu và đổi"
"Câu và đổi" là việc giới thiệu một dịch vụ hoặc sản phẩm với giá
thấp, nhưng lại không muốn bán loại dịch vụ hoặc sản phẩm đó, thì với mức
giá này nhiều tiêu chuẩn của sản phẩm như bảo hành, chất lượng sẽ bị giảm
xuống và như vậy bản thân sản phẩm đó không giống như kì vọng nữa. Một
hình thức nữa là quảng cáo hàng hóa với "số lượng có hạn". Như vậy một khi
khách hàng đã cất công đến cửa hàng, họ cũng sẽ cố gắng phải mua những
11
cũng đã có từ lâu ở nhiều nước trên thế giới, đặc biệt được phát huy trong thời
điểm khủng hoảng kinh tế. Trên thực tế, giá bán của mặt hàng thanh lý đó đã
được nâng lên gấp đôi. Do đó mà nhiều khi giá bán hàng thanh lý tại một cửa
hàng sắp đóng cửa còn cao hơn giá bán của một cửa hàng bán lẻ.
Một số cửa hiệu trưng biển thanh lý cửa hàng ch là thực hiện một
hành vi lừa bịp. Bằng cách lợi dụng các hình thức quảng cáo như "thanh lý
toàn bộ", "đóng cửa hàng"…, các cửa hiệu đã ngầm đưa một thông điệp về sự
gấp rút cũng như sự giảm giá đột ngột để lôi kéo khách hàng, trong khi thực
tế họ không hề có ý định tiếp tục bán hàng nữa. Trong nhiều trường hợp, khi
khách hàng đến xem thì lại phát hiện ra họ ch muốn bán một lô hàng nào đó
đi trước khi nó quá hạn hoặc lỗi thời.
- Giá bán hàng tính theo đơn vị
Thêm một hình thức quảng cáo gây nhầm lẫn nữa là đơn vị tính giá
nhỏ hơn so với đơn vị hàng bắt buộc. Ví dụ như trong hàng không, giá vé một
chiều được đưa ra trong khi để mua được với giá đó, hành khách lại bị buộc
phải mua vé hai chiều với tổng giá cao hơn. Tương tự, người mua hàng sẽ bị
buộc phải mua một đôi loa trong khi giá lại ch đưa ra cho một chiếc. Hành vi
này cũng có thể được người bán sử dụng trong các gói viễn thông khi khách
hàng phải mua hai hoặc nhiều hơn máy điện thoại di động, điện thoại cố định,
internet để có được mức giá quảng cáo.
- Quảng cáo không bán hàng
Cũng có trường hợp sản phẩm, dịch vụ được trình bày giới thiệu nhưng
thực sự lại không có một giao dịch thực sự nào. Do phần lớn quảng cáo là
phục vụ việc bán hàng khiến người tiêu dùng nhầm tưởng rằng các mặt hàng
được bán với giá đặc biệt trong khi thực tế lại không phải vậy. Điển hình,
Walmart và một số siêu thị khác được biết đến với khẩu hiệu "Giảm giá hàng
ngày", đặc biệt là trong ngày mua sắm Giáng sinh cũng sử dụng hình thức
Pháp luật về chống cạnh tranh không lành mạnh là "chế định bao gồm
các quy phạm pháp luật xác định những hành vi bị coi là cạnh tranh không lành
13
mạnh; trách nhiệm pháp luật của các chủ thể thực hiện những hành vi này; trình
tự, thủ tục khiếu kiện và giải quyết; các biện pháp chế tài được áp dụng…" [15].
Theo quy định tại Điều 10 Công ước Paris:
Cạnh tranh không lành mạnh là những hành vi cạnh tranh
không trung thực, vi phạm những nguyên tắc cơ bản của đạo đức
kinh doanh, được tiến hành trong quá trình sản xuất, tiêu thụ sản
phẩm, nhằm hưởng lợi bất hợp pháp từ thành quả kinh doanh của
người khác hoặc gièm pha đối thủ cạnh tranh, qua đó, giành giật
khách hàng về phía mình [15].
Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh điển hình được Công ước
Paris quy định gồm:
- Tất cả các hành vi có thể dẫn tới sự nhầm lẫn của khách hàng về nơi
sản xuất, sản phẩm hàng hóa, tên thương mại hoặc xuất xứ hàng hóa;
- Hành vi lừa dối, tạo ra một ấn tượng giả về hàng hóa, dịch vụ của
đối tác cạnh tranh;
- Vi phạm bí mật thương mại;
- Lợi dụng không chính đáng thành quả trong kinh doanh của người khác;
- Quảng cáo không trung thực;
- Bán phá giá;
- Khuyến mãi quá đáng;
- Mua vét hàng hóa, gây khủng hoảng giả tạo làm rối loạn thị trường.
Theo quy định tại khoản 4 Điều 3 Luật Cạnh tranh năm 2004 quy định:
Hành vi cạnh tranh không lành mạnh là hành vi cạnh tranh
của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh trái với các chuẩn
Các quy phạm pháp luật điều ch nh hành vi quảng cáo gây nhầm lẫn là
những quy tắc xử sự chung, được Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận qua
việc thể chế hóa thành những quy phạm pháp luật, quy định trong các văn bản
15
quy phạm pháp luật. Trách nhiệm pháp lý của những chủ thể thực hiện đối
với các hành vi vi phạm đều cần được pháp luật kiểm soát hành vi quảng cáo
gây nhầm lẫn điều ch nh.
- Về chủ thể: Chủ thể thực hiện hành vi quảng cáo gây nhầm lẫn là các
thương nhân, các doanh nghiệp kinh doanh hàng hóa, dịch vụ.
- Về hành vi: Quảng cáo gây nhầm lẫn (đưa ra các thông tin không rõ
ràng, không đầy đủ làm cho người tiêu dùng hiểu nhầm về hàng hóa, dịch vụ
hoặc hoạt động kinh doanh của thương nhân, của doanh nghiệp).
- Về mức độ và giới hạn kiểm soát: Một trong những đặc trưng cơ bản
của nền kinh tế thị trường là mọi thương nhân và doanh nghiệp được quyền tự
do kinh doanh và tự do cạnh tranh, trong khuôn khổ của pháp luật. Quyền tự
do kinh doanh của công dân đã được ghi nhận tại Hiến pháp năm 1992. Điều
này cũng đồng nghĩa với việc Nhà nước công nhận và tôn trọng sự tồn tại
cũng như cạnh tranh của tất cả các loại hình doanh nghiệp. Tuy nhiên, trong
bối cảnh tự do kinh doanh và tự do cạnh tranh đó, sự điều tiết và can thiệp của
Nhà nước vẫn là việc rất cần thực hiện. Thực tế cho thấy, nếu Nhà nước
buông lỏng quản lý vĩ mô hoặc có quản lý những không hiệu quả, không theo
sát với thực tiễn thì nền kinh tết khó có thể vận hành đúng hướng. Do vậy,
việc giám sát và kiểm soát hoạt động của nền kinh tế nói chung cũng như
kiểm soát hành vi quảng cáo trong hoạt động của các doanh nghiệp nói riêng
là vấn đề cần làm. Mặc dù vậy, mức độ và giới hạn kiểm soát thế nào cho phù
hợp, để sự can thiệp của Nhà nước không làm kìm hãm, cản trở hoạt động của
các doanh nghiệp mà vẫn đạt được mục đích trong quản lý vĩ mô. Về vấn đề
quảng cáo sản phẩm do doanh nghiệp mình sản xuất; tuy nhiên nội dung
quảng cáo đã cung cấp những thông tin gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về
công dụng của sản phẩm, và sự nhầm lẫn này đã được cơ quan quản lý nhà
nước có thẩm quyền xác định, thì theo quy định của pháp luật cạnh tranh,
doanh nghiệp A đã thực hiện hành vi quảng cáo gây nhầm lẫn (theo khoản 3
Điều 45 Luật Cạnh tranh). Việc xác định hậu quả gây thiệt hại trong trường
hợp này (do người tiêu dùng nhầm lẫn về công dụng sản phẩm) không phải là
17
tình tiết cấu thành để xác định hành vi vi phạm của doanh nghiệp A, mà ch
có ý nghĩa trong việc xem xét và quyết định hình thức xử phạt đối với doanh
nghiệp này.
Cần lưu ý rằng, tính không lành mạnh của hành vi gây nhầm lẫn và
mức độ thiệt hại phụ thuộc vào nhiều yếu tố của quan hệ thị trường. Tuy
nhiên, ch xác định là quảng cáo không lành mạnh khi hành vi của một chủ
thể xâm phạm quyền lợi của chủ thể khác đang cùng tồn tại trong một thị
trường hàng hóa, dịch vụ hay thị trường liên quan; những hành vi này được
tiến hành vì mục đích cạnh tranh và có biểu hiện không lành mạnh thông qua
việc cung cấp các thông tin gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng. Về nguyên tắc,
các chủ thể có quyền lợi bị xâm phạm có quyền kiện các chủ thể đã thực hiện
hành vi quảng cáo gây nhầm lẫn tới cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu
được giải quyết. Biện pháp chế tài được áp dụng trong các trường hợp này là
buộc phải chấm dứt hành vi vi phạm và bồi thường thiệt hại. Như vậy, pháp
luật chống cạnh tranh không lành mạnh nói chung cũng như pháp luật về
kiểm soát hành vi quảng cáo gây nhầm lẫn nói riêng được áp dụng như một
chế định đặc biệt bao hàm cả tính mệnh lệnh của chế tài hành chính (buộc
chấm dứt hành vi vi phạm, buộc khôi phục lại trình trạng hợp pháp ban đầu
trước khi bị hành vi cạnh tranh không lành mạnh xâm hại); đồng thời lại như
Thương mại; Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và Luật Cạnh tranh.
Trong đó Luật Cạnh tranh có vị trí, vai trò quan trọng trong việc kiểm soát
các hành vi quảng cáo gây nhầm lẫn (như đã trình bày ở phần trên).
1.3. KINH NGHIỆM VỀ KIỂM SOÁT HÀNH VI CẠNH TRANH KHÔNG
LÀNH MẠNH NÓI CHUNG VÀ HÀNH VI QUẢNG CÁO GÂY NHẦM LẪN NÓI
RIÊNG TRONG PHÁP LUẬT CỦA MỘT SỐ NƢỚC TRÊN THẾ GIỚI
Mặc dù pháp luật về chống cạnh tranh không lành mạnh đã có từ lâu
đời nhưng tính tới thời điểm hiện tại vẫn chưa có một khái niệm nhất quán
cho tất cả các quốc gia về hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Vì vậy, quy
định của từng quốc gia khác nhau cũng rất khác nhau liên quan đến hành vi
19
cạnh tranh không lành mạnh nói chung cũng như hành vi quảng cáo gây nhầm
lẫn nói riêng. Do đó, việc tìm hiểu cũng như học tập kinh nghiệm xây dựng và
thi hành pháp luật của các nước trên thế giới trong lĩnh vực này là việc làm
cần thiết để hướng tới mục tiêu củng cố và hoàn thiện pháp luật cạnh tranh.
Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn này, học viên xin được trình bày một
số vấn đề về pháp luật kiểm soát hành vi cạnh tranh không lành mạnh nói
chung và hành vi quảng cáo gây nhầm lẫn nói riêng trong hệ thống pháp luật
cạnh tranh của Nhật Bản, Đức và Đài Loan.
1.3.1. Nhật Bản
Luật Cạnh tranh Nhật gồm Luật chống độc quyền (Luật chống độc
quyền tư nhân và duy trì cạnh tranh công bằng) và hai luật bổ trợ là Luật
chống các điều khoản thu lợi bất chính và các trình bày gây nhầm lẫn, và Luật
hợp đồng phụ. Luật hợp đồng phụ là bộ luật đặc thù của Nhật và không có
mối liên hệ với các quy định hiện hành của Việt Nam về chống cạnh tranh
không lành mạnh. Bên cạnh các quy định về chống độc quyền tư nhân,
không chính đáng căn cứ trên các hành vi kinh doanh thông thường;
5) Ép buộc trong kinh doanh (Tie - in sales): khiến một bên khác mua
hàng hóa hoặc dịch vụ từ mình hoặc từ một doanh nghiệp được ch định bởi
chính mình bằng cách ép buộc bên đó giao dịch với mình hoặc với một doanh
nghiệp đã ch định.
6) Gây rối hoạt động kinh doanh của đối thủ cạnh tranh (Interference
with a competitor’s transactions): gây rối không chính đáng một giao dịch của
một doanh nghiệp là đối thủ cạnh tranh nội địa của chính mình hoặc với tập
đoàn mà mình là một cổ đông hoặc là một nhân viên, bằng cách ngăn cản việc
thực thi kết quả của hợp đồng, hoặc bằng cách tạo ra sự vi phạm hợp đồng,
hoặc bằng bất kì biện pháp nào khác.
Ngoài ra, Điều 8 của Luật chống độc quyền quy định cấm các Hiệp
hội thương mại thực hiện một số hành vi, trong đó các hành vi sau tương tự
21
với các quy định về Phân biệt đối xử hiệp hội (Điều 47 Luật Cạnh tranh Việt
Nam). Cụ thể, các Hiệp hội thương mại tại Nhật bị cấm không được thực hiện
các hành vi:
1) Hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể trong bất kì một lĩnh vực
thương mại nào;
2) Hạn chế số lượng doanh nghiệp hiện tại hoặc tương lai trong bất kì
một lĩnh vực kinh doanh cụ thể nào;
3) Cản trở một cách không chính đáng các chức năng hoặc hoạt động
của các doanh nghiệp thành viên.
Luật chống các khoản thu lợi bất chính và ch dẫn gây nhầm lẫn là luật
bổ trợ cho Luật chống độc quyền tư nhân và duy trì cạnh tranh công bằng với nội
dung chính quy định cấm các khoản thu lợi bất chính (unjustifiable premiums),
các ch dẫn gây nhầm lẫn về thành phần của hàng hóa, gây nhầm lẫn về điều
i) Cố tình che giấu sự thật hoặc các thông tin nhầm lẫn về chủng loại,
mẫu mã, hoặc chất lượng của hàng hóa, che đậy các vấn đề liên quan đến các
ràng buộc trách nhiệm đã được quy định, các vấn đề liên quan đến sự hủy bỏ,
liên quan đến lợi nhuận đã được quy định…;
ii) Đe dọa hoặc gây rối một người nhằm khiến anh ta/ cô ta miễn
cưỡng kí hợp đồng hoặc nhằm cản trở người đó hủy bỏ hợp đồng đã ký với
công ty bán hàng đa cấp;
iii) Dụ dỗ một người ký hợp đồng bán hàng đa cấp tại một địa điểm
không phải địa điểm công cộng hoặc trụ sở kinh doanh của Công ty.
Luật cấm bán hàng đa cấp dạng hình tháp là luật cấm hoàn toàn các
dạng bán hàng đa cấp nào thực hiện theo phương thức hình tháp. Đây là một
hệ thống tập hợp và phân phối tiền dựa trên sự gia tăng không giới hạn số
người tham gia vào mạng lưới đa cấp, bằng cách người tham gia trước có thể
nhận được lợi nhuận dựa vào tiền tham gia mạng lưới của những người gia
nhập sau.