BẢO hộ QUYỀN sở hữu CÔNG NGHIỆP đối với CHỈ dẫn địa lý QUA THỰC TIỄN THI HÀNH tại TỈNH NGHỆ AN (tt) - Pdf 48

ĐẠI HỌC HUẾ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT

TRẦN QUANG HÙNG

BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP
ĐỐI VỚI CHỈ DẪN ĐỊA LÝ QUA THỰC TIỄN
THI HÀNH TẠI TỈNH NGHỆ AN

Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 838 01 07
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

THỪA THIÊN HUẾ, năm 2017


Công trình đƣợc hoàn thành tại:
Trƣờng Đại học Luật, Đại học Huế

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. Trần Văn Hải

Phản biện 1: ........................................:..........................
Phản biện 2: ...................................................................

Luận văn sẽ đƣợc bảo vệ trƣớc Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ họp
tại: Trƣờng Đại học Luật
Vào lúc...........giờ...........ngày...........tháng .......... năm...........


MỤC LỤC



49

CHƢƠNG 1. CƠ SỞ PHÁP LUẬT VỀ BẢO HỘ VÀ KHAI THÁC
QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI CHỈ DẪN ĐỊA LÝ 50
1.1. Khái niệm chỉ dẫn địa lý và bảo hộ chỉ dẫn địa lý
1.1.1. Khái niệm chung về chỉ dẫn địa lý

50

50

1.1.2. Khái niệm chỉ dẫn địa lý theo pháp luật quốc tế

50

1.1.3. Khái niệm chỉ dẫn địa lý theo quy định của Liên minh châu Âu

50

1.1.4. Khái niệm chỉ dẫn địa lý theo quy định của pháp luật Việt Nam 51
1.1.5. Khái niệm bảo hộ chỉ dẫn địa lý 51
1.2. Hệ thống bảo hộ chỉ dẫn địa lý trên thế giới

51

1.2.1. Bảo hộ chỉ dẫn địa lý không qua hệ thống đăng ký
1.2.2. Bảo hộ chỉ dẫn địa lý qua hệ thống đăng ký

51

2.2. Thực trạng khai thác quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý
55
2.2.1. Bất cập trong khai thác quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý
55
2.2.2. Bất cập trong thực thi quyền đối với chỉ dẫn địa lý

55

2.3. Thực trạng bảo hộ và khai thác quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn
địa lý tại tỉnh Nghệ An 55
2.3.1. Thực trạng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý tại
tỉnh Nghệ An
55
2.3.2. Thực trạng bảo hộ sở hữu công nghiệp nói chung và bảo hộ chỉ dẫn địa
lý nói riêng tại tỉnh Nghệ An 56
Tiểu kết Chƣơng 2 56
CHƢƠNG 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ
BẢO HỘ VÀ KHAI THÁC QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI
CHỈ DẪN ĐỊA LÝ
57
3.1. Giải pháp xây dựng mô hình hiệp hội tham gia bảo hộ và khai thác quyền
sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý 57


3.1.1. Kinh nghiệm quốc tế về bảo hộ và khai thác quyền đối với chỉ dẫn địa
57

3.1.2. Xây dựng mô hình tổng quát bảo hộ và khai thác quyền đối với chỉ dẫn
địa lý có sự tham gia của hiệp hội
58

sử dụng mà không đƣợc phép của chủ sở hữu, đồng thời bảo vệ danh tiếng sản
phẩm trên thị trƣờng. Khái niệm CDĐL lần đầu tiên đƣợc đề cập đến tại Hiệp định
TRIPS năm 1994. Cùng với quá trình gia nhập WTO và tham gia ký kết Hiệp định
TRIPS, Việt Nam đã ban hành một hệ thống pháp luật theo tiêu chuẩn quốc tế về
sở hữu trí tuệ trong đó có các quy định cụ thể về CDĐL.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu
- Lê Thị Thu Hà (2001) Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp dƣới góc độ
thƣơng mại đối với chỉ dẫn địa lý của Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế
quốc tế, NXB Thông tin và truyền thông. Đây là tác phẩm đã hệ thống hóa, phân
tích hoàn thiện cơ sở lý luận về bảo hộ quyền đối với chỉ dẫn địa lý dƣới góc độ
thƣơng mại. Tác phẩm cũng đề xuất bốn nhóm giải pháp để thực thi quyền đối với
chỉ dẫn địa lý đó là: hoàn thiện môi trƣờng pháp lý, giải pháp đối với các cơ quan
quản lý, giải pháp đối với tổ chức tập thể và giải pháp đối với các cơ sở sản xuất
kinh doanh.
- Đỗ Lê Văn (2013), Nâng cao vai trò của Hiệp hội để quản lý và thực thi
quyền sở hữu công nghiệp đối với CDĐL ở Việt Nam, Luận văn thạc sỹ chuyên
ngành quản lý khoa học và công nghệ;
- Luận án Tiến sĩ của Vũ Hải Yến (2008) “Bảo hộ chỉ dẫn địa lý trong điều
kiện hội nhập kinh tế quốc tế”, Luận án này nghiên cứu, phân tích vấn đề bảo hộ
chỉ dẫn địa lý dƣới góc độ pháp luật, xác lập và bảo hộ quyền SHCN đối với chỉ
dẫn địa lý.
Trên địa bàn tỉnh Nghệ An từ trƣớc tới nay chƣa có một công trình nghiên
cứu nào nghiên cứu đến vấn đề Bảo hộ quyền SHCN đối với chỉ dẫn địa lý mà chỉ
có một số Đề án về bảo hộ quyền SHCN nhƣ “Đẩy mạnh xác lập và thực thi quyền
sở hữu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Nghệ An giai đoạn 2006 - 2010” do Sở Khoa
học và Công nghệ chủ trì, đƣợc UBND tỉnh phê duyệt theo Quyết định số
104/2005/QĐ-UBND ngày 08 tháng 12 năm 2005. Đề án “Xây dựng và phát sóng
chƣơng trình sở hữu trí tuệ và cuộc sống trên đài phát thanh truyền hình Nghệ An”
do Sở Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp với Đài phát thanh và truyền hình
Nghệ An thực hiện. Dự án “Ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học để quản lý và

- Phạm vi về thời gian: các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam đƣợc
ban hành trong giai đoạn 2005-2016;
- Phạm vi về không gian: địa bàn tỉnh Nghệ An.
6. Câu hỏi nghiên cứu
- Thực trạng bảo hộ và khai thác quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn
địa lý đang diễn ra nhƣ thế nào?
- Cần có những giải pháp nào nhằm nâng cao hiệu quả bảo hộ và khai thác
quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý?
7. Giả thuyết nghiên cứu


- Thực trạng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý trên địa
bàn tỉnh Nghệ An, hiện chƣa xây dựng đƣợc hệ thống quản lý nội bộ để kiểm soát
chất lƣợng sản phẩm, hệ thống thực thi hoạt động chƣa có hiệu quả, không thể
kiểm soát hàng giả đối với sản phẩm đƣợc bảo hộ;
- Để nâng cao hiệu quả bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa
lý trên địa bàn tỉnh Nghệ An, cần có những giải pháp chủ yếu sau đây:
+ Trao quyền quản lý chất lƣợng sản phẩm đƣợc bảo hộ chỉ dẫn địa lý có sự
tham gia của hiệp hội trong việc tự quản, quản lý nội bộ;
+ Nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống thực thi quyền SHCN bằng
hình thức quản lý ngoại vi.
8. Phƣơng pháp nghiên cứu
Các phƣơng pháp nghiên cứu đƣợc sử dụng trong Luận văn bao gồm:
- Phƣơng pháp phân tích tài liệu: tác giả sử dụng tài liệu, bao gồm bài báo
khoa học, sách chuyên khảo… đã đƣợc công bố, có liên quan đến đề tài Luận văn;
- Phƣơng pháp phân tích, đánh giá đƣợc sử dụng trong chƣơng 1 giới thiệu
tổng quan về những khía cạnh liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ theo pháp luật
Việt Nam, trong đó nhấn mạnh đến đối tƣợng là chỉ dẫn địa lý;
- Phƣơng pháp phân tích so sánh, phƣơng pháp phân tích thông tin, phƣơng
pháp tổng hợp để hoàn thành chƣơng 2 nhằm phân tích những tực trạng thi hành

Khái niệm CDĐL lần đầu tiên đƣợc đề cập đến tại Hiệp định TRIPS năm
1994, tuy nhiên, trƣớc đó, các khái niệm liên quan đến CDĐL nhƣ chỉ dẫn nguồn
gốc, tên gọi xuất xứ đã đƣợc đề cập đến tại các điều ƣớc quốc tế khác nhƣ Công
ƣớc Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp năm 1883, Thỏa ƣớc Lisbon về Bảo hộ tên
gọi xuất xứ và Đăng ký quốc tế… Cùng với quá trình hội nhập, khái niệm CDĐL
đã đƣợc pháp điển hóa thông qua các vòng đàm phán đa phƣơng và đƣợc ghi nhận
trong Hiệp định TRIPs.
Hiệp định TRIPS định nghĩa CDĐL “là những chỉ dẫn xác định một sản phẩm
có nguồn gốc từ một khu vực địa lý xác định, mà tại đó chất lƣợng, danh tiếng hoặc các
đặc tính khác của sản phẩm chủ yếu gắn với nguồn gốc địa lý của sản phẩm”. So với
các điều ƣớc quốc tế có trƣớc, Hiệp định TRIPS đã xác định phạm vi bảo hộ khá chặt
chẽ đối với CDĐL.
1.1.3. Khái niệm chỉ dẫn địa lý theo quy định của Liên minh châu Âu
Tiêu biểu nhất của hệ thống bảo hộ CDĐL đó là các quy định của Liên
minh châu Âu. Quy chế của Ủy ban châu Âu số 510/2006 ban hành ngày
20/3/2006 đƣa ra hai định nghĩa tƣơng đƣơng với hai hình thức bảo hộ là tên gọi
xuất xứ và CDĐL. Theo đó, tên gọi xuất xứ là tên một khu vực, địa điểm, một
quốc gia để mô tả nông sản hoặc thực phẩm có nguồn gốc từ khu vực, địa điểm cụ
thể hoặc quốc gia đó, có chất lƣợng hoặc đặc tính phụ thuộc cơ bản vào môi
trƣờng địa lý cụ thể với các yếu tố tự nhiên, con ngƣời và việc sản xuất, chế biến,
chuẩn bị đƣợc thực hiện tại khu vực đó.
Trong khi đó, khái niệm CDĐL có nội hàm tƣơng tự với khái niệm tên gọi


xuất xứ nói trên nhƣng yêu cầu về sự liên kết giữa sản phẩm và khu vực địa lý yếu
hơn. Cụ thể là CDĐL chỉ yêu cầu một trong những khâu sản xuất/chế biến/chuẩn
bị đƣợc diễn ra tại khu vực địa lý trong khi đối với tên gọi xuất xứ, các khâu nói
trên đều phải diễn ra tại khu vực địa lý
1.1.4. Khái niệm chỉ dẫn địa lý theo quy định của pháp luật Việt Nam
Trƣớc khi Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 đƣợc ban hành thì các quy định



thƣơng hiệu của một doanh nghiệp hay một tổ chức mà đó là sự phát triển ngành
hàng, phát triển thƣơng hiệu cho cả một địa phƣơng và cả quốc gia.
Chính vì vậy, khai thác và phát triển chỉ dẫn địa lý mang tính chất của một
hoạt động tập thể. Hơn nữa, sự lựa chọn chiến lƣợc phát triển thƣơng hiệu trên cơ
sở chỉ dẫn địa lý là một hình thức kế thừa và phát triển thƣơng hiệu hiệu quả, tạo ra
sự độc quyền trên thị trƣờng với các sản phẩm gắn liền với tên của địa phƣơng,
quốc gia đó.
1.3.1. Hình thức khai thác quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý
Chiến lƣợc khai thác và phát triển chỉ dẫn địa lý phải dựa trên sự phối hợp
của bốn chiến lƣợc marketing cơ bản là chiến lƣợc sản phẩm, chiến lƣợc giá, chiến
lƣợc phân phối và chiến lƣợc quảng bá chỉ dẫn địa lý.
- Chiến lƣợc sản phẩm
- Chiến lƣợc giá
- Chiến lƣợc phân phối
1.3.2. Nội dung khai thác quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý
Chiến lƣợc quảng bá chỉ dẫn địa lý là tập hợp các hoạt động liên tục và gắn bó
với nhau nhằm nuôi dƣỡng và củng cố hình ảnh trong tâm trí khách hàng, tạo cơ
hội để ngày càng nhiều khách hàng biết đến, chấp nhận và gắn bó với sản phẩm.
Về bản chất, quảng bá chỉ dẫn địa lý là quá trình nuôi dƣỡng và củng cố hình ảnh
chỉ dẫn địa lý trong tâm trí khách hàng.
1.4. Các chủ thể bảo hộ và khai thác quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ
dẫn địa lý
1.4.1. Chủ thể bảo hộ và khai thác quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn
địa lý
UBND cấp tỉnh đƣợc trao quyền bảo hộ chỉ dẫn địa lý ở địa phƣơng mình,
đƣợc quy định tại Điều 19 Nghị định 103/2006/ND-CP, nhƣ sau “UBND tỉnh,
thành phố trực thuộc Trung ƣơng nơi có khu vực địa lý tƣơng ứng với chỉ dẫn địa
lý trong trƣờng hợp chỉ dẫn địa lý thuộc một địa phƣơng” Đối với trƣờng hợp một

phƣơng có chỉ dẫn địa lý đang đƣợc bảo hộ.


CHƢƠNG 2
THỰC TRẠNG BẢO HỘ VÀ KHAI THÁC
QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI CHỈ DẪN ĐỊA LÝ
2.1. Thực trạng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý ở
Việt Nam
2.1.1. Hiệu quả bảo hộ chỉ dẫn địa lý do cơ quan nhà nƣớc là chủ thể
Theo quy định của pháp luật Việt Nam về SHTT, Nhà nƣớc là chủ sở hữu chỉ
dẫn địa lý, tuy nhiên trong thực tế Nhà nƣớc trao quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý cho
tổ chức, cá nhân tiến hành việc sản xuất sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý tại địa
phƣơng tƣơng ứng và đƣa sản phẩm đó ra thị trƣờng. “Nhà nƣớc trực tiếp thực
hiện quyền bảo hộ chỉ dẫn địa lý hoặc trao quyền bảo hộ chỉ dẫn địa lý cho tổ chức
đại diện quyền lợi của tất cả các tổ chức, cá nhân đƣợc trao quyền sử dụng chỉ dẫn
địa lý” (điều 121.4 Luật SHTT). Việc Nhà nƣớc trực tiếp bảo hộ hoặc trao quyền
cho các tổ chức hiệp hội bảo hộ chỉ dẫn địa lý đã dẫn đến những bất cập nhất
định2.1.2. Hiệu quả quản lý chỉ dẫn địa lý do cơ quan nhà nƣớc và Hiệp hội cùng
quản lý.
2.1.2. Hiệu quả bảo hộ chỉ dẫn địa lý do cơ quan nhà nƣớc và Hiệp hội cùng
bảo hộ
Chỉ dẫn địa lý Hải Hậu đƣợc bảo hộ vào tháng 5 năm 2007. Đây là một
trong số ít những chỉ dẫn địa lý ở Việt Nam do Hiệp hội sản xuất đứng tên đăng ký
đề nghị bảo hộ và là một trong số ít chỉ dẫn địa lý của Việt Nam có Hiệp hội sản
xuất đƣợc hình thành và hoạt động trƣớc khi tiến hành nộp đơn xác lập quyền cho
chỉ dẫn địa lý. Hiệp hội gạo tám xoan Hải Hậu có qui chế hoạt động tƣơng đối chặt
chẽ. Tuy nhiên, hiệu quả thực tế còn thấp và còn nhiều vấn đề cần xem xét.
2.1.3. Mô hình kiểm soát độc lập theo hình thức thành lập Ban kiểm soát
chuyên trách
CDĐL “Phú Quốc” cho sản phẩm nƣớc mắm là CDĐL đầu tiên của Việt

mắm Phú Quốc…
2.3. Thực trạng bảo hộ và khai thác quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn
địa lý tại tỉnh Nghệ An
2.3.1. Thực trạng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý tại
tỉnh Nghệ An
Nghệ An với vị thế nằm ở trung tâm khu vực Bắc Trung Bộ với điều kiện tự
nhiên đa dạng, phong phú, nhiều tài nguyên thiên nhiên và sản phẩm nhân tạo. Với
đặc trƣng thổ nhƣỡng và vốn văn hóa của ngƣời Xứ Nghệ đã tạo nên hàng trăm các
sản phẩm công nghiệp, nông nghiệp nhƣ mây tre đan, gỗ mỹ nghệ, lạc, mía đƣờng,
cam Xã Đoài, nhút Thanh Chƣơng, tƣơng Nam Đàn, nƣớc mắm Vạn Phần, vịt bầu
Quỳ Châu…Hiện nay Nghệ An có hơn 100 làng nghề truyền thống đƣợc UBND
Tỉnh công nhận ở khắp các lĩnh vực từ chế biến hải sản, ƣơm tơ móc sợi, gạch
ngói, cây cảnh, mộc dân dụng, mỹ nghệ cho đến cơ khí.
Tuy nhiên, dù đƣợc sự hỗ trợ của các ban ngành, đoàn thể, nhƣng hiện nay
số lƣợng về văn bằng bảo hộ các đối tƣợng sở hữu trí tuệ nhƣ nhãn hiệu, chỉ dẫn
địa lý, giải pháp hữu ích, sáng chế, kiểu dáng công nghiệp liên quan đến các sản
phẩm nói trên còn rất khiêm tốn (toàn tỉnh khoảng 500 đối tƣợng đƣợc bảo hộ).
Trong đó mới chỉ có chỉ dẫn địa lý Cam Vinh và một số nhãn hiệu tập thể nhƣ
bánh đa kẹo lạc Vĩnh Đức, nƣớc mắm Phú Lợi, Rƣợu Nghi Phú, Nghi Đức…tạo


đƣợc giá trị thƣơng mại cao. Còn lại, hàng chục các sản phẩm mang địa danh và
các sản phẩm làng nghề truyền thống vẫn chỉ mang danh tiếng “trong vùng” chứ xã
hội chƣa thực sự biết đến, nên nhu cầu thị trƣờng không nhiều và giá bán thấp hơn
nhiều so với giá trị thực. Bên cạnh đó, phần lớn doanh nghiệp, hiệp hội chƣa đăng
ký nhãn hiệu. Sản xuất và kinh doanh phụ thuộc vào tài sản hữu hình chứ chƣa biết
cách khai thác các thế mạnh của tài sản vô hình. Không có chiến lƣợc phát triển
thƣơng hiệu một cách đồng bộ và chuyên nghiệp..
2.3.2. Thực trạng bảo hộ sở hữu công nghiệp nói chung và bảo hộ chỉ dẫn địa lý
nói riêng tại tỉnh Nghệ An

3.1.1. Kinh nghiệm quốc tế về bảo hộ và khai thác quyền đối với chỉ dẫn địa lý
Trong mục này, Luận văn nghiên cứu mô hình quản lý và thực thi quyền đối
với chỉ dẫn địa lý của Cộng hòa Pháp
Ở Pháp, vai trò của tổ chức tập thể các nhà sản xuất thực sự đƣợc phát huy,
thể hiện ở các đặc điểm: là một tổ chức mở, một tổ chức chuyên nghiệp và dân
chủ, không bị chính trị hóa và hành chính hóa, đƣợc sự hỗ trợ tích cực của nhà
nƣớc đối với tổ chức tập thể về thƣơng mại, thị trƣờng, tài chính: máy móc, thiết
bị, tài chính hoạt động thƣờng xuyên
Một số tổ chức tập thể quản lý chỉ dẫn địa lý của Pháp nhƣ Liên ngành rƣợu
Cognac, Hiệp hội các nhà sản xuất rƣợu Bordeaux, Hiệp hội pho mát Le Banon,
Hiệp hội các nhà sản xuất và kinh doanh pho mát Comté…
Các tổ chức tập thể này do các nhà sản xuất và kinh doanh sản phẩm mang
chỉ dẫn địa lý tự lập nên với chức năng đại diện cho các nhà sản xuất, kinh doanh
là thành viên hiệp hội. Các tổ chức tập thể này có cơ cấu tổ chức và cơ chế hoạt
động chặt chẽ, luôn thể hiện đầy đủ vai trò là ngƣời đại diện cho các chủ thể sản
xuất, kinh doanh để họ có thể khai thác chỉ dẫn địa lý một cách hiệu quả nhất. Cơ
cấu tổ chức và phƣơng thức hoạt động của hiệp hội phải bảo đảm mục tiêu quản lý
có hiệu quả chỉ dẫn địa lý thay vì việc tạo ra một thể chế mang tính hành chính, tạo
thêm gánh nặng cho những ngƣời có quyền sử dụng đối tƣợng này.
Nhìn chung, hoạt động kiểm soát chất lƣợng đối với chỉ dẫn địa lý đƣợc
triển khai ở Pháp theo một số nguyên tắc nhất định:
- Việc quản lý đƣợc tiến hành độc lập và không nhầm lẫn với các cơ chế
kiểm tra hành chính khác của các cơ quan nhƣ: Sở nông nghiệp và phát triển nông
thôn, thú y, phúc lợi xã hội, các cơ sở pha chế thực phẩm, ngƣời bán thực phẩm,
các quy tắc vệ sinh tại các cơ sở giết mổ, vận chuyển và xử lý thực phẩm, các chất
phụ gia, chất lƣợng nƣớc...
- Các tổ chức thực hiện chức năng kiểm tra phải có đủ năng lực và trình độ
để đảm bảo tính khách quan và công bằng đối với tất cả các nhà sản xuất và chế
biến trong khu vực địa lý đƣợc kiểm soát.


nâng cao năng suất, chất lƣợng của cam Vinh”. Với kết quả của các dự án này,
đến nay sản phẩm cam mang chỉ dẫn địa lý “Vinh” đã đƣợc đƣa vào bán ở các siêu
thị của Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh. Với việc cam Vinh có chỉ dẫn địa lý là căn cứ
pháp lý quan trọng và lâu dài, góp phần làm tăng giá trị tích lũy và phát triển cho
thƣơng hiệu cam Vinh
3.2.2. Xây dựng mô hình bảo hộ và khai thác quyền đối với chỉ dẫn địa lý cam
Vinh


Nhƣ đã phân tích trong mục 3.1. sau khi tham khảo kinh nghiệm của bảo hộ
chỉ dẫn địa lý, căn cứ vào điều kiện kinh tế - xã hội của Việt Nam, có thể xây dựng
mô hình tổng quát về bảo hộ và khai thác quyền đối với chỉ dẫn địa lý cam Vinh
theo các tiêu chí sau đây:
a. Tiêu chí tự quản:
b. Quản lý nội bộ:
c. Quản lý ngoại vi:
3.2.3. Xây dựng mô hình bảo hộ và khai thác quyền đối với chỉ dẫn địa lý cam
Vinh có sự tham gia của hiệp hội
Luận văn đề xuất giải pháp về việc tổ chức Hiệp hội sản xuất và kinh doanh
Cam Vinh, Hiệp hội này có các chức năng và nhiệm vụ sau:
* Chức năng tổ chức và quản lý sản xuất:
- Quản lí hoạt động sản xuất của các thành viên bao gồm: diện tích, sản
lƣợng, địa điểm, quy trình kỹ thuật, thực hành sản xuất.
- Tổ chức áp dụng và quản lý việc thực hiện quy trình canh tác chung nhằm
nâng cao chất lƣợng và sự đồng đều của sản phẩm.
- Tổ chức áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất cho các
thành viên.
* Chức năng tổ chức tiêu thụ và quản lí thị trƣờng
- Quản lí hoạt động bảo quản, tiêu thụ sản phẩm của các thành viên bao
gồm: sản lƣợng, chủng loại về chất lƣợng, thị trƣờng, giá bán...

bao bì...
- Xây dựng quy chế và tổ chức thực hiện quy chế trong đăng ký tem nhãn,
sử dụng tem, nhãn sản phẩm…
- Tổng hợp số lƣợng, yêu cầu cơ quan quản lý Chỉ dẫn địa lý cấp tem Chỉ
dẫn địa lý cho các lô sản phẩm của các thành viên hoặc chứng nhận số lƣợng sản
phẩm đạt tiêu chuẩn;
- Quản lý thị trƣờng: xác định và quản lý số lƣợng tiêu thụ của từng thành
viên thƣơng mại, sử dụng nhãn mác chung, yêu cầu sửa đổi, thống nhất về nhãn
mác sản phẩm.
3.2.4. Giải pháp đảm bảo cho việc hoạt động của mô hình bảo hộ và khai thác
quyền đối với chỉ dẫn địa lý cam Vinh có sự tham gia của hiệp hội
Để đảm bảo cho mô hình đã đề xuất ở trên hoạt động có hiệu quả, Luận văn
đề xuất các giải pháp sau đây:
- Một là: Cần chấn chỉnh ngay công tác quản lý nhà nƣớc đối với chỉ dẫn địa
lý cam Vinh. Theo quy định pháp luật hiện hành “chỉ dẫn địa lý cam vinh là tài sản
quốc gia”; giao cho UBND tỉnh Nghệ An quản lý. UBND tỉnh Nghệ An đã ủy
quyền cho Sở KH&CN quản lý. Sở KH&CN cần phối hợp chặt chẽ với các địa
phƣơng trong vùng chỉ dẫn địa lý thực thi các biện pháp quản lý theo luật định.
- Hai là: Cần kiện toàn và củng cố Hiệp hội sản xuất và kinh doanh cam
Vinh. Hiệp hội là tổ chức thực thi và quản lý nội bộ chỉ dẫn địa lý cam Vinh, cần
phải thực thi các giải pháp quản lý về kỹ thuật và chất lƣợng sản phẩm. Đặc biệt tổ


chức sử dụng logo cam Vinh và hệ thống nhận diện thƣơng hiệu đã đƣợc bảo hộ
độc quyền, coi đây là giải pháp để ngƣời tiêu dùng nhận biết, phân biệt cam Vinh
với các sản phẩm khác. Việc sử dụng hệ thống nhận diện thƣơng hiệu cam Vinh
cũng là cơ sở để xử lý các hành vi buôn bán cam giả, nhái nhãn hiệu cam Vinh.
Khi sử dụng nhãn hiệu cần lƣu lý. Ngoài nhãn hiệu (logo) cam Vinh, cần ghi rõ
trên bao bì là cam sản xuất ở đâu, giống cam gì (ví dụ: cam giống xã Đoài – huyện
Nghi Lộc, trồng ở trang trại của ông Trần Văn A)



+ Thứ năm, tạo hành lang pháp lý cho phép hiệp hội tham gia sâu hơn vào
quá trình quản lý chỉ dẫn địa lý, bằng quyết định quản lý chỉ dẫn địa lý của cơ quan
có thẩm quyền
+ Thứ sáu, tạo hành lang pháp lý, chính thức công nhận sự tham gia của hiệp
hội vào quá trình thực thi. Có quy định rõ ràng khi nào cần sự có mặt của hiệp hội
khi tiến hành kiểm tra sản phẩm trên thị trƣờng.
3.3.2. Giải pháp củng cố, nâng cao chất lƣợng hoạt động của hiệp hội
Hiệp hội cần xác định rõ chức năng, nhiệm vụ của hiệp hội sao cho hợp lý,
phù hợp. Để tổ chức tập thể thực chất là đại diện của ngƣời sản xuất, kinh doanh
chỉ dẫn địa lý, cụ thể là:
+ Hiệp hội phải là cơ quan trực tiếp thực hiện kiểm soát nội bộ chất lƣợng
sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý;
+ Hiệp hội là cầu nối giữa ngƣời sản xuất, kinh doanh và các cơ quan
quản lý, nhà nƣớc;
+ Hiệp hội bảo vệ quyền lợi hợp pháp trong quá trình sản xuất, kinh
doanh
+ Hiệp hội quản lý hoạt động sản xuất, kinh doanh của các thành viên, quản
lý diện tích, sản lƣợng, địa điểm, năng lực sản xuất
+ Hiệp hội nghiên cứu, xây dựng, trình phê duyệt và tổ chức áp dụng, kiểm
soát việc áp dụng các quy định về canh tác, chế biến, bảo quản, quy trình sản xuất
sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý;
+ Hiệp hội thiết lập và quản lý việc sử dụng hệ thống tem, nhãn sản phẩm,
bao bì sản phẩm, hệ thống quầy, kệ trƣng bày sản phẩm;
+ Nghiên cứu và tổ chức áp dụng các thành tựu khoa học-kỹ thuật nhằm
đảm bảo duy trì và nâng cao chất lƣợng nông sản mang chỉ dẫn địa lý
+ Điều tra, nghiên cứu và tổ chức triển khai các kênh thƣơng mại cho sản
phẩm nhằm quảng bá rộng rãi và nâng cao giá trị kinh tế cho sản phẩm mang chỉ
dẫn địa lý.

Chỉ dẫn địa lý là một đối tƣợng của sở hữu công nghiệp. Tuy nhiên, chỉ dẫn
địa lý có những đặc điểm rất đặc thù mà các đối tƣợng sở hữu công nghiệp khác
không có.
Đối với chỉ dẫn địa lý thì danh tiếng, tính chất chất lƣợng đặc thù của sản
phẩm mang chỉ dẫn địa lý là quan trọng nhất. Danh tiếng, chất lƣợng đặc thù của
sản phẩm đƣợc tạo ra bởi các điều kiện địa lý tại khu vực địa lý đó, bao gồm các
điều kiện về tự nhiên và điều kiện về con ngƣời. Ngoài yếu tố về điều kiện tự nhiên
thì yếu tố về con ngƣời, về kỹ năng, kỹ xảo sản xuất cũng là yếu tố quyết định tạo
nên danh tiếng của sản phẩm.
Luận văn Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý qua thực
tiễn thi hành tại Nghệ An đã phân tích thực trạng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp
đối với chỉ dẫn địa lý trên địa bàn tỉnh Nghệ An, trong đó chỉ rõ chƣa xây dựng
đƣợc hệ thống quản lý nội bộ để kiểm soát chất lƣợng sản phẩm, hệ thống thực thi
hoạt động chƣa có hiệu quả, không thể kiểm soát hàng giả đối với sản phẩm đƣợc
bảo hộ.
Luận văn đã đề xuất giải pháp để nâng cao hiệu quả bảo hộ quyền sở hữu
công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý trên địa bàn tỉnh Nghệ An, cần có những giải
pháp chủ yếu: xây dựng đƣợc hệ thống quản lý nội bộ để kiểm soát chất lƣợng sản
phẩm trong quá trình canh tác, thu hoạch và lƣu thông trên thị trƣờng; trao quyền
quản lý chất lƣợng sản phẩm đƣợc bảo hộ chỉ dẫn địa lý có sự tham gia của hiệp
hội trong việc tự quản, quản lý nội bộ; nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống
thực thi quyền SHCN bằng hình thức quản lý ngoại vi.




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status