Pháp luật về giải quyết tranh chấp thương mại ngoài thủ tục tố tụng tư pháp thực trạng và giải pháp hoàn thiện - Pdf 48

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

NGÔ THỊ AN

PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI
NGOÀI THỦ TỤC TỐ TỤNG TƯ PHÁP – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI
PHÁP HOÀN THIỆN

Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60 38 50

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS. Vũ Thị Lan Anh

HÀ NỘI - 2012


MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU ............................................................................................ 1
CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT ................ 7
TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI NGOÀI THỦ TỤC TỐ TỤNG TƯ
PHÁP .......................................................................................................... 7
1.1. Khái niệm “giải quyết tranh chấp thương mại ngoài thủ tục tố tụng tư
pháp” ........................................................................................................ 7
1.2. Đặc trưng của giải quyết tranh chấp thương mại ngoài thủ tục tố tụng
tư pháp ................................................................................................... 11

Việt Nam ............................................................................................ 31
2.2. Thực trạng pháp luật về giải quyết tranh chấp thương mại bằng
phương thức hòa giải .............................................................................. 33
2.2.1. Các quy định của pháp luật về giải quyết tranh chấp thương mại
bằng phương thức hòa giải ................................................................. 33
2.2.2. Thực tiễn giải quyết tranh chấp thương mại bằng hòa giải ở Việt
Nam.................................................................................................... 35
2.3. Thực trạng pháp luật về giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng
tài thương mại ........................................................................................ 39
2.3.1. Các quy định của pháp luật về giải quyết tranh chấp thương mại
bằng trọng tài thương mại ................................................................... 39
2.3.2. Thực tiễn giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài thương
mại ở Việt Nam .................................................................................. 50
CHƯƠNG 3. HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ TĂNG CƯỜNG HIỆU
QUẢ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
THƯƠNG MẠI NGOÀI THỦ TỤC TỐ TỤNG TƯ PHÁP ................... 55


3.1. Những yêu cầu đặt ra đối với việc hoàn thiện pháp luật và tăng cường
hiệu quả áp dụng pháp luật về giải quyết tranh chấp thương mại ngoài thủ
tục tố tụng tư pháp .................................................................................. 55
3.1.1. Đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ của các văn bản pháp luật. .. 56
3.1.2. Phù hợp với điều kiện kinh tế- xã hội của đất nước ................... 58
3.1.3. Đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế giai đoạn
hiện nay .............................................................................................. 58
3.2. Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật và tăng cường hiệu quả áp dụng
pháp luật về giải quyêt tranh chấp thương mại ngoài thủ tục tố tụng tư
pháp ....................................................................................................... 60
3.2.1. Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về giải quyêt tranh chấp
thương mại ngoài thủ tục tố tụng tư pháp ........................................... 60

nghiên cứu đề tài. Hiện còn nhiều quan điểm khác nhau và chưa thật sự đúng
đắn về các phương thức giải quyết tranh chấp thương mại ngoài tố tụng tư
pháp. Giải quyết tranh chấp tại Tòa án vẫn là lựa chọn đầu tiên và chủ yếu
của phần đông các nhà kinh doanh. Sự thiếu tin tưởng vào hiệu quả của các


phương thức giải quyết tranh chấp thương mại ngoài Tòa án là một trong
những lí do khiến cho các phương thức giải quyết tranh chấp lựa chọn tuy đã
được biết đến nhưng vẫn chưa phát triển tại Việt Nam hiện nay. Mối quan hệ
giữa giải quyết tranh chấp thương mại ngoài tố tụng tư pháp và trong tố tụng
cũng chưa được nhìn nhận rõ ràng dẫn đến sự nhìn nhận không đúng về vai
trò của thẩm phán, trọng tài viên và người tiến hành hòa giải.
Mặt khác, về mặt thực tiễn, những tồn tại, hạn chế của pháp luật hiện
hành về tố tụng ngoài tư pháp là một trong những lí do cụ thể lí giải cho sự
cấp thiết của đề tài. Ở mức độ khái quát, pháp luật Việt Nam đã tạo nền tảng
cho sự phát triển của các phương thức giải quyết tranh chấp thương mại
ngoài tố tụng Tòa án. Thương lượng, hòa giải và Trọng tài thương mại là các
hình thức được pháp luật thừa nhận và khuyến khích sử dụng. Song các quy
định pháp luật hiện hành chưa tạo ra được động lực hay môi trường thích
hợp cho sự phát triển của các hình thức giải quyết tranh chấp thương mại
ngoài tố tụng Tòa án. Đặc biệt pháp luật hiện hành mới chỉ coi trọng phương
thức hòa giải như một giai đoạn của thủ tục tư pháp mà chưa chú ý đến nó
như một phương thức độc lập để giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực thương
mại.
Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Việt Nam hiện tại đang rất
quan tâm tới việc hoàn thiện hệ thống pháp luật, trong đó có sự chú ý đến
mảng pháp luật về giải quyết tranh chấp, đặc biệt là trong lĩnh vực thương
mại. Nghị quyết số 48/NQ-TW ngày 02/12/2002 về Chiến lược hoàn thiện
pháp luật và Nghị quyết số 49/NQ-TW về Chiến lược cải cách tư pháp đều
hướng tới mục tiêu nâng cao hiệu quả của các hình thức giải quyết tranh

do Giáo sư- Tiến sĩ Lê Hồng Hạnh làm chủ nhiệm về “Các phương thức giải
quyết tranh chấp ngoài tố tụng Tòa án” (2011). Đề tài đã đi vào nghiên cứu


về mặt lí luận cũng như đánh giá thực trạng pháp luật của các phương thức
giải quyết tranh chấp ngoài tố tụng tư pháp. Song phạm vi nghiên cứu đề tài
tương đối rộng trên các lĩnh vực lao động, thương mại và dân sự. Bên cạnh
đó còn có các bài viết và công trình nghiên cứu như “Thương lượng, hòa
giải- lựa chọn biện pháp giải quyết tranh chấp kinh doanh” của PGS.TS Trần
Đình Hảo; “Tranh chấp hợp đồng và các phương thức giải quyết tranh chấp
hợp đồng” của TS Phan Chí Hiếu; “Các phương thức giải quyết tranh chấp
chủ yếu tại Việt Nam trong lĩnh vực kinh tế và đầu tư nước ngoài” của TS
Hoàng Thế Liên; luận văn Thạc sĩ luật học của Thạc sĩ Nguyễn Thị An Na
với đề tài “Hòa giải- Phương thức giải quyết tranh chấp thương mại ngoài tố
tụng tư pháp” (Đại học Luật Hà Nội, 2010)…
Tuy vậy, cho đến nay chưa có một công trình nghiên cứu nào đề cập
trực tiếp, sâu sắc và toàn diện về vấn đề giải quyết tranh chấp thương mại
ngoài thủ tục tố tụng tư pháp dưới góc độ tổng quát các phương thức giải
quyết tranh chấp lựa chọn để vừa tạo ra cơ sở lí luận, vừa tạo ra cơ sở thực
tiễn cho việc hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này. Do đó, vấn đề đặt ra là
cần nghiên cứu các phương thức giải quyết tranh chấp thương mại ngoài tố
tụng tòa án trong mối quan hệ hợp tác và hỗ trợ lẫn nhau, trong mối liên hệ
với tố tụng tòa án.
3. Mục đích nghiên cứu đề tài
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là thông qua việc nghiên cứu,
phân tích một cách có hệ thống các quy định pháp luật về giải quyết tranh
chấp thương mại ngoài tố tụng tư pháp cũng như thực tiễn áp dụng các quy
định này nhằm làm rõ bản chất của các phương thức giải quyết tranh chấp
lựa chọn, luận giải cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng pháp luật về
giải quyết tranh chấp thương mại ngoài tố tụng Tòa án, đồng thời đề xuất các



pháp luật về các phương thức giải quyết tranh chấp thương mại lựa chọn,
mối quan hệ của các phương thức đó và liên hệ với giải quyết tranh chấp tại
Tòa án.
Những đóng góp mới về mặt khoa học của luận văn là:
- Luận giải các vấn đề lí luận về giải quyết tranh chấp thương mại
ngoài tố tụng Tòa án ở Việt Nam; đưa ra khái niệm “giải quyết tranh chấp
thương mại ngoài thủ tục tố tụng tư pháp” và các đặc trưng của nó.
- Làm sáng tỏ thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật trong việc
lựa chọn phương thức thích hợp đề giải quyết khi có tranh chấp thương mại
xảy ra.
- Kiến nghị các giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật về giải
quyết tranh chấp thương mại ngoài tố tụng Tòa án để các phương thức giải
quyết tranh chấp ngoài tố tụng tư pháp được áp dụng rộng rãi và hiệu quả
hơn ở nước ta.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương:
- Chương 1.Những vấn đề lí luận về giải quyết tranh chấp thương mại
ngoài thủ tục tố tụng tư pháp
- Chương 2.Thực trạng pháp luật giải quyết tranh chấp thương mại
ngoài thủ tục tố tụng tư pháp
- Chương 3. Hoàn thiện pháp luật và tăng cường hiệu quả áp dụng
pháp luật giải quyết tranh chấp thương mại ngoài thủ tục tố tụng tư pháp.


CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT
TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI NGOÀI THỦ TỤC TỐ TỤNG TƯ PHÁP


thương mại; vận chuyển hành khách hay hàng hóa bằng đường không, đường
biển, đường sắt, đường bộ. Như vậy những tranh chấp thương mại theo Luật
mẫu là rất rộng, bao gồm các tranh chấp phát sinh từ mọi quan hệ mang tính
chất thương mại theo hợp đồng hay không theo hợp đồng.
Cho nên có thể nhận thấy quan niệm về tranh chấp thương mại và hoạt
động thương mại theo Luật thương mại năm 1997 đã loại bỏ nhiều tranh
chấp không được coi là tranh chấp thương mại, mặc dù xét về bản chất hoàn
toàn có thể coi là các tranh chấp thương mại. Điều này đã tạo ra những xung
đột pháp luật giữa luật quốc gia với luật quốc tế, trong đó có cả những công
ước quan trọng mà Việt Nam đã là thành viên, gây không ít trở ngại, rắc rối
trong thực tiễn áp dụng và chính sách hội nhập.
Sau khi Việt Nam kí kết Hiệp định thương mại Việt Nam- Hoa Kì
ngày 13/7/2000 và được Quốc hội phê chuẩn ngày 28/11/2001, quan niệm về
thương mại và tranh chấp thương mại của chúng ta đã được mở rộng và
mang bản chất của thương mại. Khái niệm thương mại bao gồm thương mại
hàng hóa, thương mại dịch vụ, quyền sở hữu trí tuệ và đầu tư. Còn tranh
chấp thương mại là tranh chấp phát sinh giữa các bên trong giao dịch thương
mại.
Các quan niệm về thương mại và tranh chấp thương mại như trong
Hiệp định Việt Nam- Hoa Kì tiếp tục được thể hiện trong Bộ luật tố tụng dân
sự được Quốc hội khóa 11 thông qua ngày 15/6/2004 (gọi tắt là Bộ luật tố
tụng dân sự) và Luật thương mại được Quốc hội khóa 11 thông qua ngày
14/6/2005 (gọi tắt là Luật thương mại năm 2005). Khái niệm tranh chấp


thương mại đã được mở rộng và phù hợp hơn với quan niệm phổ biến trên
thế giới. Điều 29- Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 đã liệt kê các tranh chấp
kinh doanh, thương mại bao gồm:
- Các tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại
giữa các cá nhân, tổ chức có đăng kí kinh doanh với nhau và đều có mục

tranh chấp thương mại là tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại.
Theo đó “Tranh chấp thương mại là những mâu thuẫn (bất đồng hay xung
đột) về quyền và nghĩa vụ của các bên trong quá trình thực hiện các hoạt
động thương mại” [31, tr.432]. Cội nguồn của tranh chấp thương mại chính
là các quyền và lợi ích kinh tế của một trong các bên có quan hệ thương mại
với nhau bị xâm phạm và các chủ thể không tìm được cách giải quyết.
Có thể nhận biết tranh chấp thương mại thông qua một số đặc trưng cơ
bản sau:
- Tranh chấp thương mại trước hết là những mâu thuẫn, bất đồng về
quyền và nghĩa vụ của các bên. Những mâu thuẫn, bất đồng đó là sự biểu
hiện ra bên ngoài những xung đột về mặt lợi ích kinh tế giữa các bên;
- Những mâu thuẫn, bất đồng đó phát sinh từ hoạt động thương mại;
- Tranh chấp thương mại chủ yếu phát sinh giữa các thương nhân với
nhau.
Khi có tranh chấp thương mại phát sinh đặt ra câu chuyện giải quyết
tranh chấp thương mại. Vấn đề giải quyết tranh chấp thương mại đang được
tiếp cận thông qua nghiên cứu về tranh chấp thương mại. Trên cơ sở tìm hiểu
khái niệm tranh chấp thương mại, có thể đưa ra quan niệm về giải quyết
tranh chấp như sau: Giải quyết tranh chấp thương mại là hoạt động được tiến
hành khi phát sinh những bất đồng, mâu thuẫn giữa hai hay nhiều chủ thể
tham gia hoạt động thương mại, theo đó, các bên tranh chấp thông qua hình
thức, thủ tục thích hợp tiến hành các giải pháp nhằm loại bỏ những mâu


thuẫn, xung đột, bất đồng về lợi ích trong hoạt động thương mại nhằm bảo
vệ lợi ích chính đáng của mình.
Để giải quyết tranh chấp thương mại, có thể lựa chọn giải quyết tranh
chấp bằng thủ tục tố tụng tư pháp hoặc ngoài tố tụng tư pháp.
Giải quyết tranh chấp thương mại bằng thủ tục tố tụng tư pháp là giải
quyết các tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại do Tòa án tiến

và trao quyền từ phía các bên tranh chấp. Sự trao quyền này đòi hỏi phải có
sự đồng thuận từ phía các chủ thể tranh chấp. Mức độ can thiệp của các bên
tranh chấp giới hạn ở sự hỗ trợ, xúc tiến cho các bên trao đổi, đàm phán với
nhau, gợi ý về các giải pháp giải quyết bất đồng. Cao nhất là đối tượng để
các chủ thể lựa chọn ra phán quyết có tính ràng buộc với các bên. Toàn bộ
thẩm quyền của chủ thể giải quyết tranh chấp hoàn toàn phụ thuộc vào sự
trao quyền của các bên có tranh chấp.
Đây là một điểm khác biệt lớn so với giải quyết tranh chấp thương mại
tại Tòa án. Bản chất của giải quyết tranh chấp tại Tòa án là phương thức giải
quyết mang ý chí quyền lực nhà nước, tòa án nhân danh quyền lực nhà nước
để giải quyết tranh chấp trên cơ sở các quy định của pháp luật do đó phán
quyết của Tòa án được bảo đảm thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế của nhà
nước. Mặt khác việc giải quyết tranh chấp tại tòa án phải tuân thủ nghiêm
ngặt các quy định mang tính hình thức cũng như các quy định về thẩm
quyền, thủ tục, các nguyên tắc giải quyết tranh chấp thương mại của pháp
luật tố tụng.
1.2.2. Giải quyết tranh chấp thương mại ngoài thủ tục tố tụng tư pháp
phát huy tối đa sự tự do ý chí và khả năng tự định đoạt của các chủ thể
tranh chấp
Giải quyết tranh chấp thương mại ngoài thủ tục tố tụng tư pháp là hoạt
động giải quyết tranh chấp không do tòa án tiến hành theo trình tự, thủ tục
được pháp luật quy định. Hoạt động này đề cao vai trò của các chủ thể tranh


chấp với việc đảm bảo sự tự do ý chí và khả năng tự định đoạt của các bên.
Cụ thể, giải quyết tranh chấp ngoài tố tụng tòa án đưa ra một loạt các cách
thức giải quyết khác nhau như thương lượng, hòa giải hay Trọng tài thương
mại để các bên có thể lựa chọn một phương thức giải quyết phù hợp nhất.
Bên cạnh đó, các bên được hỗ trợ trong suốt quá trình giải quyết tranh chấp
để tìm kiếm giải pháp thích hợp nhất đối với họ. Thậm chí với việc lựa chọn

của hệ thống giải quyết tranh chấp này, thể hiện ở các khía cạnh sau đây:
- Thứ nhất, pháp luật thừa nhận tính hợp pháp của các phương án giải
quyết tranh chấp đạt được thông qua các phương thức giải quyết tranh chấp
ngoài tố tụng tư pháp. Bất kì phương thức giải quyết tranh chấp nào cũng chỉ
có ý nghĩa khi nó được pháp luật công nhận. Tuy nhiên, tùy từng phương
thức giải quyết tranh chấp mà sự công nhận của pháp luật đối với kết quả
giải quyết tranh chấp có những khác biệt. Kết quả giải quyết tranh chấp bằng
trọng tài được pháp luật công nhận và được cưỡng chế thi hành. Còn thương
lượng, hòa giải thì phụ thuộc vào các bên, Nhà nước không cưỡng chế.
- Thứ hai, pháp luật đưa ra các biện pháp ngăn ngừa và xử lí các hành
vi lạm dụng phương thức giải quyết tranh chấp ngoài tố tụng tư pháp xâm
phạm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên. Các biện pháp này trước hết
phải đảm bảo các bên có sự bình đẳng, tự nguyện, được tự do thể hiện ý chí
khi lựa chọn và tiến hành giải quyết tranh chấp bằng phương thức ngoài tố
tụng tư pháp. Cụ thê, việc giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài
chỉ được thực hiện khi các bên có thỏa thuận trọng tài và thỏa thuận đó
không rơi vào các trường hợp thỏa thuận trọng tài bị vô hiệu. Một trong các
trường hợp khiến thỏa thuận trọng tài vô hiệu là một trong các bên bị lừa dối,
đe dọa, cưỡng ép trong quá trình xác lập thỏa thuận trọng tài và có yêu cầu
tuyên bố thỏa thuận trọng tài đó vô hiệu.


1.3. Vai trò của giải quyết tranh chấp thương mại ngoài thủ tục tố tụng
tư pháp
Có thể nói giải quyết tranh chấp thương mại ngoài tố tụng tòa án mang
lại nhiều lợi ích cho hoạt động giải quyết tranh chấp nói riêng và cho sự ổn
định của các quan hệ xã hội nói chung. Với sự linh hoạt trong giải quyết
tranh chấp và các bên được phát huy tối đa sự tự do ý chí của mình, phương
thức giải quyết tranh chấp có thể được sử dụng phù hợp với tính chất và mức
độ của từng tranh chấp, tính chất của từng mối quan hệ giữa các chủ thể.

trọng tài thương mại.
1.4.1. Thương lượng
Theo từ điển Tiếng Việt, thương lượng là "bàn bạc đi đến thỏa thuận
giải quyết một vấn đề nào đó giữa hai bên" [36]. Theo từ điển Luật học của
Viện khoa học pháp lý- Bộ Tư pháp, thương lượng là hình thức giải quyết
tranh chấp kinh tế, theo đó các bên tự bàn bạc để thống nhất cách thức loại
trừ tranh chấp mà không cần tới sự tác động hay giúp đỡ của người thứ ba,
phương án giải quyết mà các bên đạt được qua thương lượng được các bên
thực hiện trên tinh thần tự nguyện.
Bản chất của phương thức thương lượng trong giải quyết tranh chấp
thương mại được thực hiện qua các đặc trưng cơ bản sau:
- Thứ nhất, thương lượng là phương thức giải quyết tranh chấp được
thực hiện bởi cơ chế tự giải quyết thông qua việc các bên gặp nhau bàn bạc,
thỏa thuận để tự giải quyết những bất đồng phát sinh mà không cần có sự hiện
diện của bên thứ ba để trợ giúp hay phán quyết. Đây là đặc trưng đầu tiên và
cũng là dấu hiệu cơ bản để phân biệt thương lượng với các hình thức giải
quyết tranh chấp khác. Trong thương lượng hoàn toàn không có sự tham gia
của người thứ ba.


- Thứ hai, quá trình thương lượng giữa các bên không chịu sự ràng
buộc của bất kì nguyên tắc pháp lí hay những quy định mang tính khuôn mẫu
nào của pháp luật về thủ tục giải quyết tranh chấp. Pháp luật của Việt Nam
mới chỉ dừng lại ở việc ghi nhận thương lượng là một phương thức giải
quyết tranh chấp thương mại mà không có bất kì quy định nào chi phối đến
cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại bằng thương lượng.
- Thứ ba, việc thực thi kết quả thương lượng hoàn toàn phụ thuộc vào
sự tự nguyện của mỗi bên tranh chấp mà không có bất kì cơ chế pháp lí nào
đảm bảo việc thực thi đối với thỏa thuận của các bên trong quá trình thương
lượng. Có thể nói đây là hạn chế lớn nhất của thương lượng. Do quyết định

kết quả của phương thức này chính là kết quả của quá trình thương lượng
giữa các bên, dựa trên sự thỏa thuận và nhất trí của các bên, do vậy sẽ được
các bên tôn trọng và tuân theo.
Bên cạnh các ưu thế kể trên, thương lượng cũng không tránh khỏi
những hạn chế nhất định. Sự thành công của thương lượng phụ thuộc rất lớn
vào sự hiểu biết và thái độ thiện chí, hợp tác của các bên tranh chấp. Nếu
không, kết quả giải quyết tranh chấp thường rất mong manh và có thể rơi vào
bế tắc. Ngoài ra kết quả thương lượng lại không được đảm bảo bằng cơ chế
pháp lí mang tính bắt buộc. Do đó dù các bên có đạt được thỏa thuận để giải
quyết vụ tranh chấp thì việc thực thi kết quả thương lượng cũng phụ thuộc
rất nhiều vào sự tự nguyện của các bên phải thi hành. Nếu một bên không tự
nguyện thi hành thì kết quả thương lượng cũng chỉ tồn tại trên giấy mà
không có một cơ chế pháp lí trực tiếp nào bắt buộc đối với kết quả thương
lượng của các bên.
1.4.2. Hòa giải
Hòa giải là một biện pháp truyền thống để giải quyết các tranh chấp
trong đời sống xã hội song quan niệm về hòa giải còn nhiều vấn đề chưa


thống nhất. Trên thế giới có nhiều quan niệm khác nhau về hòa giải. Trong
từ điển luật học của Black, hòa giải (conciliation) là "sự can thiệp, sự làm
trung gian hòa giải; hành vi của người thứ ba làm trung gian giữa hai bên
tranh chấp nhằm thuyết phục họ dàn xếp hoặc giải quyết tranh chấp giữa họ.
Việc giải quyết tranh chấp thông qua người trung gian hòa giải (bên trung
lập)” [59]. Từ điển luật học của Pháp định nghĩa "hòa giải là phương thức
giải quyết tranh chấp với sự giúp đỡ của người trung gian thứ ba (hòa giải
viên) để giúp đưa ra các đề nghị một cách thân thiện" [61]. Theo từ điển
Tiếng Việt, hòa giải là "thuyết phục các bên chấm dứt xung đột hoặc xích
mích một cách ổn thỏa".
Từ những quan niệm của thế giới và Việt Nam có thể rút ra một số đặc

ưu điểm vượt trội sau:
- Hòa giải có sự tham gia của người thứ ba trong quá trình giải quyết
tranh chấp mà bản thân thương lượng không thể có được. Bằng sự hiểu biết
cũng như sự tín nhiệm của mình, người hòa giải sẽ biết cách làm cho ý chí
của các bên dễ gặp nhau trong quá trình đàm phán để loại trừ tranh chấp.
- Các bên hòa giải thành thì không có kẻ thắng người thua nên không
gây ra tình trạng đối đầu giữa các bên. Vì vậy khả năng duy trì được quan hệ
hợp tác vốn có của các bên được đảm bảo.
- Giải quyết tranh chấp bằng hòa giải các bên dễ dàng kiểm soát được
việc cung cấp chứng cứ và sử dụng chứng cứ qua đó giữ được bí quyết kinh
doanh và uy tín của các bên.
- Do xuất phát từ tinh thần thiện chí của các bên nên khi đạt được
phương án hòa giải, các bên thường nghiêm túc thực hiện.
Mặc dù vậy giải quyết tranh chấp bằng phương thức hòa giải vẫn còn
một số hạn chế sau:


- Sự thành công của quá trình giải quyết tranh chấp chủ yếu phụ thuộc
vào thái độ thiện chí và hợp tác của các bên tranh chấp.
- Việc thực thi các kết quả đã đạt được trong quá trình giải quyết tranh
chấp phụ thuộc vào sự tự nguyện thi hành của các bên có nghĩa vụ phải thi
hành, thỏa thuận hòa giải gữa các bên không được đảm bảo bằng sức mạnh
cưỡng chế của nhà nước. Bên tranh chấp không có thiện chí có thể lợi dụng
việc hòa giải để trì hoãn việc phải thực hiện nghĩa vụ.
- Vấn đề uy tín và bí mật kinh doanh của các bên dễ bị ảnh hưởng hơn
so với phương thức thương lượng bởi sự tham gia của người thứ ba trong
quá trình hòa giải. Bên cạnh đó, chi phí cho hòa giải cũng tốn kém hơn so
với thương lượng.
Một điểm cần lưu ý là hiện nay trên thế giới có hai cụm từ: trung gian
(mediation) và hòa giải (conciliation) được dùng để chỉ một biện pháp giải


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status