Xây dựng pháp luật về phương thức giải quyết tranh chấp thương mại bằng hòa giải ở Việt Nam - Pdf 28

[
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGÔ THỊ THANH TUYỀN XÂY DỰNG PHÁP LUẬT VỀ PHƢƠNG THỨC
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƢƠNG MẠI
BẰNG HÒA GIẢI Ở VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội – 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào
khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác,
tin cậy và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán
tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia
Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể
bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn! NGƢỜI CAM ĐOAN Ngô Thị Thanh Tuyền
MỤC LỤC
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục từ viết tắt
Danh mục các bảng biểu
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
THƢƠNG MẠI BẰNG HÒA GIẢI 5
1.1. Tổng quan về tranh chấp thƣơng mại 5
1.1.1. Khái niệm tranh chấp thƣơng mại 5
1.1.2. Đặc điểm 10
1.1.3. Khái niệm giải quyết tranh chấp thƣơng mại 12
1.2. Các phƣơng thức giải quyết tranh chấp thƣơng mại 13

GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƢƠNG MẠI BẰNG HÒA GIẢI 81
3.1. Sự cần thiết xây dựng và hoàn thiện pháp luật giải quyết tranh chấp thƣơng mại
bằng hòa giải 81
3.2. Định hƣớng xây dựng và hoàn thiện pháp luật Việt Nam về giải quyết tranh
chấp thƣơng mại bằng hòa giải 82
3.3. Các giải pháp xây dựng và hoàn thiện pháp luật Việt Nam về giải quyết tranh
chấp thƣơng mại bằng hòa giải 85
3.3.1. Bổ sung chế định về hòa giải thƣơng mại vào hệ thống pháp luật thƣơng mại
Việt Nam 86
3.3.2. Xúc tiến thành lập các trung tâm hòa giải độc lập và đi vào thực hiện 92
3.3.3. Các giải pháp hỗ trợ 93
KẾT LUẬN 97
TÀI LIỆU THAM KHẢO 99
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

1. Các ký hiệu quốc tế.

TT
Kí hiệu viết
tắt
Tiếng Anh
Tiếng Việt
1
ADR
Alternative Dispute
Resolution
Giải quyết tranh chấp thay thế
2
DSU
Dispute Settlement

World Trade Organizaton
Tổ chức Thƣơng mại Thế giới

2. Các chữ viết tắt.

TT
Chữ viết tắt
Tên đầy đủ
1
BLDS 2005
Bộ luật Dân sự năm 2005
2
BLTTDS 2004
Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2004
3
LTM 1997
Luật Thƣơng mại năm 1997
4
LTM 2005
Luật Thƣơng mại năm 2005
5
LTTTM 2010
Luật Trọng tài thƣơng mại năm 2010

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

STT
Nội dung
Trang
Biểu đồ 2.1

thiết lập trên cơ sở tự nguyện và quyền tự định đoạt của các bên, do đó việc giải
quyết các tranh chấp phát sinh từ các hoạt động thƣơng mại bằng phƣơng thức hòa
giải là tất yếu.
Hòa giải có ý nghĩa hết sức quan trọng và có vai trò phát huy truyền thống
đoàn kết, tƣơng trợ giữa các bên, nâng cao kết quả giải quyết các tranh chấp thƣơng
mại. Bên cạnh đó, việc lựa chọn giải quyết tranh chấp thƣơng mại bằng hòa giải sẽ
hạn chế những tốn kém về tiền bạc, thời gian của Nhà nƣớc, công sức của đội ngũ
cán bộ cũng nhƣ của công dân. Nhƣ vậy, phƣơng thức hòa giải là một trong những
phƣơng thức giải quyết tranh chấp thƣơng mại hiệu quả nhƣng chƣa đƣợc pháp luật
Việt Nam quy định rõ ràng và cụ thể. Do đó, việc nghiên cứu phƣơng thức giải
quyết tranh chấp thƣơng mại bằng hòa giải sẽ có một ý nghĩa to lớn cho hoạt động
giải quyết tranh chấp giữa các bên, giảm thiểu tối đa việc các bên đƣa ra giải quyết
tại Trọng tài hay Tòa án. Ngoài ra, trong bối cảnh Việt Nam đã trở thành thành viên
của Tổ chức thƣơng mại thế giới - WTO, việc xây dựng thể chế pháp luật về hòa
giải trong giải quyết tranh chấp thƣơng mại là một điều hết sức cần thiết nhằm thực
hiện và thể chế hóa cam kết của Việt Nam trong khuôn khổ WTO về dịch vụ hòa
giải, tạo cơ sở pháp lý cho việc phát triển đa dạng cơ chế giải quyết tranh chấp
ngoài tòa án linh hoạt, phù hợp với thông lệ quốc tế cũng nhƣ thực tiễn ở Việt Nam.
2

Chính vì những lý do trên, tác giả đã chọn đề tài: “Xây dựng pháp luật về
phương thức giải quyết tranh chấp thương mại bằng hòa giải ở Việt Nam” để làm
đề tài luận văn thạc sĩ luật học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Giải quyết tranh chấp thƣơng mại là một vấn đề cấp thiết, hiện nay đã có nhiều
công trình nghiên cứu về giải quyết tranh chấp thƣơng mại bằng thƣơng lƣợng,
bằng trọng tài, bằng tòa án nhƣ khóa luận tốt nghiệp năm 2009 “Giải quyết tranh
chấp thương mại bằng thương lượng” của tác giả Ngô Thế Lập - khoa Luật trƣờng
Đại học quốc gia Hà Nội; khóa luận tốt nghiệp năm 2010 “Hòa giải trong tố tụng
dân sự - một số vấn đề lý luận và thực tiễn” của tác giả La Phƣơng Na - trƣờng Đại

Nam giải quyết tranh chấp thƣơng mại bằng hòa giải.
Đối với phƣơng thức hòa giải để giải quyết tranh chấp thì có hòa giải tƣ pháp
tức là hòa giải gắn liền với hoạt động của Tòa án, Trọng tài (hay còn gọi là hòa giải
trong tố tụng), hòa giải hành chính gắn với hoạt động của các cơ quan hành chính
và hòa giải cơ sở mang tính xã hội đối với những tranh chấp nhỏ. Trong phạm vi
nghiên cứu của đề tài thì tác giả chỉ tập trung nghiên cứu về hòa giải ngoài tố tụng
gắn với các tranh chấp trong hoạt động thƣơng mại (hòa giải thƣơng mại).
5. Nội dung và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Nội dung nghiên cứu
Thứ nhất, nghiên cứu những vấn đề lý luận về giải quyết tranh chấp thƣơng
mại bằng hòa giải.
Thứ hai, nghiên cứu quy định pháp luật Việt Nam về giải quyết tranh chấp
bằng hòa giải và thực trạng.
Thứ ba, đề ra giải pháp xây dựng và hoàn thiện pháp luật Việt Nam về giải
quyết tranh chấp thƣơng mại bằng hòa giải.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài đƣợc nghiên cứu dựa trên phƣơng pháp duy vật biện chứng của triết học
Marx - Lenin và trên quan điểm, định hƣớng của Đảng cũng nhƣ của Nhà nƣớc
trong việc phát triển kinh tế Việt Nam khi hội nhập kinh tế thế giới.
Đề tài cũng sử dụng các phƣơng pháp nghiên cứu luật học truyền thống, nhƣ
phƣơng pháp tổng hợp, thống kê, phân tích, đối chiếu, so sánh các quy phạm pháp
luật, các vụ việc trong thực tiễn giải quyết tranh chấp.
4

6. Tính mới và những đóng góp của đề tài
Hiện nay chƣa có đề tài nào nghiên cứu một cách toàn diện về cả lý luận và
thực tiễn về pháp luật giải quyết tranh chấp thƣơng mại bằng hòa giải. Do đó, việc
nghiên cứu đề tài “Xây dựng pháp luật về phương thức giải quyết tranh chấp
thương mại bằng hòa giải ở Việt Nam” về cơ bản là mới. Đề tài sẽ hệ thống hóa,
làm sáng tỏ thêm về mặt lý luận khái niệm, đặc điểm và nội dung của phƣơng thức

kinh tế xã hội ở các nƣớc trên thế giới. Tuy nhiên, thuật ngữ này mới đƣợc sử dụng
rộng rãi và phổ biến ở Việt Nam những năm gần đây thay thế cho khái niệm “tranh
chấp kinh tế” trong nền kinh tế kế hoạch hóa trƣớc đây.
Ở Việt Nam, khái niệm tranh chấp thƣơng mại trong từng giai đoạn khác nhau
cũng có nhiều cách hiểu khác nhau. Lần đầu tiên khái niệm tranh chấp thƣơng mại
đƣợc ghi nhận trong Luật Thƣơng mại năm 1997 [LTM 1997] tại Điều 238 nhƣ sau:
“tranh chấp thƣơng mại là tranh chấp phát sinh do việc không thực hiện hoặc thực
hiện không đúng hợp đồng trong hoạt động thƣơng mại”. Đây là khái niệm đƣợc
xây dựng trên khái niệm hoạt động thƣơng mại đƣợc định nghĩa tại Khoản 2, Điều 5
LTM 1997, theo đó "hoạt động thƣơng mại là việc thực hiện một hay nhiều hành vi
thƣơng mại của thƣơng nhân, bao gồm việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ
thƣơng mại và các hoạt động xúc tiến thƣơng mại nhằm mục đích lợi nhuận hoặc
nhằm thực hiện các chính sách kinh tế xã hội". Tiếp tục tại Điều 45 Luật này đã quy
định các loại hành vi thƣơng mại gồm các hành vi sau:
“1. Mua bán hàng hoá
2. Đại diện cho thƣơng nhân
6

3. Môi giới thƣơng mại
4. Uỷ thác mua bán hàng hoá
5. Đại lý mua bán hàng hoá
6. Gia công trong thƣơng mại
7. Đấu giá hàng hoá
8. Dịch vụ giao nhận hàng hoá
9. Đấu thầu hàng hoá
10. Dịch vụ giám định hàng hoá
11. Khuyến mại
12. Quảng cáo thƣơng mại
13. Trƣng bày giới thiệu hàng hoá
14. Hội chợ, triển lãm thƣơng mại”

13/7/2000 và đƣợc Quốc hội phê chuẩn ngày 28/11/2001, quan niệm về thƣơng mại
và tranh chấp thƣơng mại của chúng ta đã đƣợc mở rộng, tạo cơ sở cho việc thích
ứng pháp luật thƣơng mại Việt Nam với pháp luật thƣơng mại quốc tế, đáp ứng yêu
cầu hội nhập kinh tế thế giới, theo đó khái niệm thƣơng mại đƣợc hiểu bao gồm
thƣơng mại hàng hóa, thƣơng mại dịch vụ, quyền sở hữu trí tuệ và đầu tƣ. Đồng
thời tại Điều 9.4 chƣơng I của Hiệp định đã định nghĩa tranh chấp thƣơng mại là
“tranh chấp phát sinh giữa các bên trong giao dịch thƣơng mại”. Các quan niệm về
thƣơng mại ở Hiệp định Việt Nam - Hoa Kỳ tiếp tục đƣợc thể hiện trong Pháp lệnh
trọng tài thƣơng mại năm 2003, Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2004 (BLTTDS 2004)
và Luật thƣơng mại năm 2005 (LTM 2005).
Ngày 25/2/2003, Pháp lệnh trọng tài thƣơng mại đƣợc ban hành và có hiệu lực
ngày 1/7/2003, pháp lệnh này không đƣa ra đƣợc khái niệm về tranh chấp thƣơng
mại mà đƣa ra khái niệm “Hoạt động thương mại”. Theo đó, bằng phƣơng pháp liệt
kê, Pháp lệnh đã đƣa ra một danh sách những hành vi thƣơng mại, cụ thể “Hoạt
động thƣơng mại là việc thực hiện một hay nhiều hành vi thƣơng mại của cá nhân,
tổ chức kinh doanh bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ; phân phối; đại
diện, đại lý thƣơng mại; ký gửi; thuê, cho thuê; thuê mua; xây dựng; tƣ vấn; kỹ
thuật; li - xăng; đầu tƣ; tài chính, ngân hàng; bảo hiểm; thăm dò, khai thác; vận
8

chuyển hàng hoá, hành khách bằng đƣờng hàng không, đƣờng biển, đƣờng sắt,
đƣờng bộ và các hành vi thƣơng mại khác theo quy định của pháp luật”. Khái niệm
này đã tạo ra đƣợc sự tƣơng đồng trong quan niệm về “Thương mại” và “Tranh
chấp thương mại” của pháp luật Việt Nam với chuẩn mực chung của pháp luật và
thông lệ quốc tế. Ngoài những hành vi vừa liệt kê trên theo khoản 3 Điều 2 Pháp
lệnh còn có “các hành vi thƣơng mại khác theo quy định của pháp luật”.
Trong bối cảnh Việt Nam đã gia nhập WTO và nền kinh tế nƣớc ta đã chuyển
sang cơ chế thị trƣờng, hoạt động thƣơng mại ngày càng đa dạng, phát triển trong
tất cả mọi lĩnh vực kinh doanh sản xuất, thƣơng mại và dịch vụ, do đó dẫn đến phát
sinh nhiều dạng tranh chấp mới nhƣ tranh chấp giữa thành viên công ty với công ty;

dịch vụ, đầu tƣ và xúc tiến thƣơng mại và các hoạt động sinh lợi khác quy định tại
khoản 1 Điều 3 Luật thƣơng mại. Hoạt động kinh doanh, thƣơng mại không chỉ là
hoạt động trực tiếp theo đăng ký kinh doanh, thƣơng mại mà còn bao gồm cả các
hoạt động khác phục vụ thúc đẩy, nâng cao hiệu quả hoạt động, kinh doanh thƣơng
mại”. Đối với mục đích lợi nhuận của cá nhân, tổ chức trong hoạt động kinh doanh,
thƣơng mại đƣợc hƣớng dẫn “là mong muốn của cá nhân, tổ chức đó thu đƣợc lợi
nhuận mà không phân biệt có thu đƣợc hay không thu đƣợc lợi nhuận từ hoạt động
kinh doanh, thƣơng mại đó”.
Luật Thƣơng mại đƣợc Quốc hội thông qua ngày 14/6/2005, đã đánh dấu rất ý
nghĩa của quá trình hoàn thiện khung pháp lý về hoạt động thƣơng mại của nƣớc ta.
LTM 2005 không đƣa ra khái niệm tranh chấp thƣơng mại mà đƣa ra khái niệm
hoạt động thƣơng mại tại khoản 1 Điều 3, cụ thể là “Hoạt động thƣơng mại là hoạt
động nhằm mục đích sinh lời, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu
tƣ, xúc tiến thƣơng mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác”. Khái niệm
này đã đƣợc mở rộng hơn gồm mọi hoạt động có mục đích sinh lời. Từ đó có thể
thấy khái niệm “hoạt động kinh doanh thƣơng mại” trong Nghị quyết số
03/2012/NQ-HĐTP tƣơng thích với khái niệm hoạt động thƣơng mại đƣợc quy định
trong LTM 2005.
Qua những phân tích trên ta có thể thấy khái niệm tranh chấp thƣơng mại vẫn
chƣa đƣợc đƣa ra một cách thống nhất, đặc biệt là chƣa có văn bản pháp lý nào quy
10

định mà nó mới chỉ dừng lại ở vấn đề quan điểm của một số tác giả trên cơ sở tiếp
cận nó thông qua luật nội dung và luật tố tụng, theo đó tranh chấp thƣơng mại đƣợc
hiểu là những mâu thuẫn về quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong hoạt động thƣơng
mại. Tranh chấp thƣơng mại là các tranh chấp phát sinh giữa các chủ thể trong quá
trình hoạt động thƣơng mại nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa,
cung ứng dịch vụ, đầu tƣ, xúc tiến thƣơng mại và các hoạt động nhằm mục đích
sinh lời khác. Một cách đơn giản có thể hiểu tranh chấp thƣơng mại là tranh chấp
phát sinh trong lĩnh vực thƣơng mại.

bản là lợi nhuận khi tham gia các quan hệ kinh doanh và trong quan hệ này, nghĩa
vụ của chủ thể này là quyền tƣơng ứng của chủ thể kia. Các bên tuy hợp tác, song
vẫn cạnh tranh nhau để thu về đƣợc lợi ích nhiều nhất. Chính vì thế sẽ không tránh
khỏi những mâu thuẫn, bất đồng trong việc giải thích về quyền và nghĩa vụ, cũng
nhƣ quá trình thực hiện quyền và nghĩa vụ đó của các bên. Hay nói cách khác, nội
dung phát sinh tranh chấp thƣơng mại là những mâu thuẫn về các lợi ích kinh tế, tài
sản. Ngoài ra, tranh chấp thƣơng mại là sản phẩm của hoạt động thƣơng mại.
Vì vậy, sự đa dạng, phức tạp của các lĩnh vực hoạt động thƣơng mại quy định tính
chất đa dạng và phức tạp của tranh chấp thƣơng mại. Tranh chấp thƣơng mại có tính
phản ứng dây chuyền, từ tranh chấp này có thể dẫn đến tranh chấp khác. Tranh chấp
thƣơng mại xảy ra trong một công đoạn nào đó của chu trình sản xuất kinh doanh
thƣờng có mối quan hệ hữu cơ với các công đoạn khác. Do đó, việc giải quyết
nhanh gọn, hiệu quả, kịp thời tranh chấp thƣơng mại là yêu cầu hết sức cần thiết.
Chẳng hạn doanh nghiệp A là chủ đầu tƣ ký kết hợp đồng xây dựng trụ sở với
doanh nghiệp B, trong quá trình thi công doanh nghiệp B có ký kết hợp đồng mua
vật liệu xây dựng với doanh nghiệp C, trong quá trình nghiệm thu nếu doanh nghiệp
A không đồng ý với chất lƣợng nguyên vật liệu và không thanh toán tiền cho doanh
nghiệp B thì doanh nghiệp B sẽ không có tiền thanh toán cho doanh nghiệp C, do dó
đã dẫn đến tranh chấp phát sinh giữa doanh nghiệp A và doanh nghiệp B; doanh
nghiệp B và doanh nghiệp C.
Thứ ba, việc giải quyết tranh chấp thƣơng mại là do các bên trong
tranh chấp tự định đoạt. Điều này thể hiện ở việc các bên trong tranh chấp có quyền
12

lựa chọn giải pháp giải quyết tranh chấp phù hợp trong các phƣơng thức giải quyết
tranh chấp thƣơng mại đƣợc pháp luật quy định nhƣ hòa giải, thƣơng lƣợng, trọng
tài, tòa án. Tuy nhiên, các bên vẫn phải đảm bảo tôn trọng lợi ích của nhau và
lợi ích của nhà nƣớc.
Cùng với sự phát triển của các quan hệ kinh tế và dƣới sự tác động trực tiếp
của quy luật cạnh tranh, tranh chấp thƣơng mại cũng trở nên phong phú hơn về

thể, giữ gìn bí mật kinh doanh và uy tín của các bên tranh chấp, không làm hạn chế
hay cản trở hoạt động thƣơng mại, nhanh chóng khôi phục và duy trì các quan hệ
hợp tác và tín nhiệm của các bên trong hoạt động thƣơng mại, đồng thời phải đảm
bảo ít tốn kém nhất.
Tóm lại, giải quyết tranh chấp thƣơng mại là cách thức hay các phƣơng pháp để
điều chỉnh, khắc phục và loại trừ các bất đồng, xung đột phát sinh nhằm bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của các chủ thể kinh doanh, bảo vệ trật tự, kỷ cƣơng xã hội.
1.2. Các phƣơng thức giải quyết tranh chấp thƣơng mại
Giải quyết tranh chấp thƣơng mại một cách kịp thời và hiệu quả đem lại những
lợi ích sau: tạo động lực thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế; cho phép hạn chế
đến mức tối thiểu sự gián đoạn của sản xuất kinh doanh cũng nhƣ đặt ở mức chi phí
thấp nhất; bảo vệ một cách có hiệu quả lợi ích hợp pháp và chính đáng của các bên
khi tham gia vào kinh tế thƣơng mại, từ đó tạo niềm tin, thực hiện công bằng và
bình đẳng cho các doanh nghiệp trong nƣớc và ngoài nƣớc. Việc lựa chọn phƣơng
thức giải quyết tranh chấp thƣơng mại đƣợc dựa trên nguyên tắc quan trọng là
quyền tự định đoạt của các bên. Ban đầu khi xảy ra tranh chấp thƣơng mại các bên
có thể giải quyết tranh chấp thông qua việc trực tiếp thƣơng lƣợng với nhau. Trong
trƣờng hợp không thƣơng lƣợng đƣợc, giải quyết tranh chấp có thể đƣợc thực hiện
với sự trợ giúp của bên thứ ba thông qua phƣơng thức hòa giải, trọng tài hoặc tòa
án. Khái quát lại, trên thế giới cũng nhƣ trong quy định pháp luật hiện hành của
Việt Nam đều thừa nhận các phƣơng thức giải quyết tranh chấp thƣơng mại gồm có:
thƣơng lƣợng, hòa giải, trọng tài và tòa án, trong đó:
14

- Hòa giải và thƣơng lƣợng là các hình thức giải quyết tranh chấp không mang
tính tài phán, trọng tài thƣơng mại là cơ quan tài phán phi chính phủ. Các phƣơng
thức này đƣợc gọi là phƣơng thức giải quyết tranh chấp lựa chọn (hay có thể gọi là
phƣơng thức giải quyết tranh chấp thay thế) (ADR - Alternative Dispute
Resolution). Các phƣơng thức này không mang tính quyền lực của Nhà nƣớc mà
chủ yếu đƣợc giải quyết dựa trên nền tảng ý chí tự định đoạt, sự tự nguyện và tinh

Thứ hai, giải quyết tranh chấp thƣơng mại bằng thƣơng lƣợng thực chất là một
phƣơng pháp tự giải quyết tranh chấp của các bên và hoàn toàn xuất phát từ sự tự
nguyện của các bên tranh chấp; không chịu sự ràng buộc của bất kì thủ tục pháp lý
nào. Sự tự do ý chí là yếu tố quyết định mọi giai đoạn của thƣơng lƣợng nhƣ tự do ý
chí trong thỏa thuận, đề xuất giải pháp, phƣơng án giải quyết, tự nguyện thực hiện
thỏa thuận đạt đƣợc, tự do quyết định chấm dứt thƣơng lƣợng.
Thứ ba, việc thƣơng lƣợng giải quyết tranh chấp thƣơng mại giữa các bên
phải phù hợp với các quy định của pháp luật, đồng thời phải phù hợp với truyền
thống đạo đức xã hội và phong tục tập quán tốt đẹp của dân tộc.
1.2.1.3. Ưu và nhược điểm
Thƣơng lƣợng là phƣơng thức giải quyết tranh chấp thƣơng mại luôn đƣợc
giới kinh doanh ƣa chuộng, ƣu tiên lựa chọn khi có tranh chấp xảy ra. Giải quyết
tranh chấp thƣơng mại bằng thƣơng lƣợng có những ƣu điểm sau: Quá trình giải
quyết tranh chấp bằng thƣơng lƣợng diễn ra nhanh chóng, gọn nhẹ, tiết kiệm đƣợc
thời gian và tiền bạc cho các bên tranh chấp. Bên cạnh đó, còn đảm bảo đƣợc bí mật
và giữ đƣợc uy tín cho các bên, tăng cƣờng sự hiểu biết, hợp tác với nhau trong
tƣơng lai. Do đó, đây là phƣơng thức rất hiệu quả trong giải quyết tranh chấp trong
các lĩnh vực đòi hỏi đảm bảo bí mật kinh doanh nhƣ tài chính ngân hàng, bảo hiểm,
chứng khoán…
Ngoài những ƣu điểm trên thì phƣơng thức giải quyết tranh chấp thƣơng mại
bằng thƣơng lƣợng cũng có những nhƣợc điểm sau: quá trình thƣơng lƣợng thành
công hay thất bại phụ thuộc vào thiện chí của các bên. Nếu một trong các bên thiếu
thiện chí sẽ tìm mọi cách trì hoãn kéo dài vụ tranh chấp thì quá trình giải quyết
thƣờng kéo dài, thậm chí bế tắc và ảnh hƣởng đến thời hiệu khởi kiện vụ án đối với
16

bên còn lại. Hơn nữa, dù các bên có đạt đƣợc thỏa thuận để giải quyết vụ tranh chấp
nhƣng một bên không tự nguyện thi hành thì kết quả thƣơng lƣợng cũng chỉ tồn tại
trên giấy mà không có một cơ chế pháp lí trực tiếp nào bắt buộc thi hành. Việc giải
quyết tranh chấp thƣơng mại bằng thƣơng lƣợng do các bên tự quyết định, không

tài viên mà họ tín nhiệm, lựa chọn quy tắc trọng tài, luật áp dụng để giải quyết tranh
chấp. Tuy nhiên để bảo vệ lợi ích của nhà nƣớc, một số nƣớc trên thế giới chỉ thừa
nhận thẩm quyền của trọng tài trong lĩnh vực luật tƣ; ở Việt Nam tuy không phân
biệt luật công và luật tƣ nhƣng pháp luật nƣớc ta cũng chỉ thừa nhận thẩm quyền
của trọng tài trong lĩnh vực thƣơng mại và một số lĩnh vực mà pháp luật quy định
đƣợc giải quyết bằng trọng tài [12, Điều 2 LTTTM 2010].
Ba là, giải quyết tranh chấp thƣơng mại bằng trọng tài là phƣơng thức giải quyết
tranh chấp không mang ý chí quyền lực nhà nƣớc, nghĩa là không nhân danh quyền
lực nhà nƣớc để ra phán quyết nhƣ của toà án mà là nhân danh ý chí của các bên
tranh chấp. Phán quyết của trọng tài có giá trị chung thẩm, không bị kháng cáo,
kháng nghị và có hiệu lực thi hành đối với các bên, không phải trải qua nhiều cấp xét
xử nhƣ toà án. Nếu một trong các bên không thi hành thì bên kia có quyền yêu cầu
tòa án công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài [khoản 5 Điều 61 và Điều 66].
Tóm lại, cơ chế giải quyết tranh chấp thƣơng mại bằng trọng tài là sự kết hợp
giữa hai yếu tố thỏa thuận và tài phán. Thỏa thuận làm tiền đề cho phán quyết và
không thể có phán quyết thoát ly những yếu tố đã đƣợc thỏa thuận.
1.2.2.3. Ưu và nhược điểm
Thực tiễn thƣơng mại trên thế giới đã chứng tỏ rằng trọng tài là một phƣơng
thức hữu hiệu để giải quyết tranh chấp thƣơng mại bởi những ƣu điểm sau:
* Về thời gian và chi phí: nhanh chóng, các bên đƣợc đảm bảo tối đa quyền tự
định đoạt của mình, có thể chủ động về thời gian, địa điểm giải quyết tranh chấp,
nguyên tắc xét xử một lần không trải qua nhiều cấp xét xử nhƣ ở Toà án. Bên cạnh
đó, quyết định trọng tài có giá trị chung thẩm và có hiệu lực cƣỡng chế tức thì nên
hạn chế tốn kém về thời gian và tiền bạc cho doanh nghiệp, đáp ứng yêu cầu khôi
phục nhanh những tổn thất về tiền, hàng trong kinh doanh thƣơng mại, tăng hiệu
quả cho quá trình giải quyết tranh chấp.
18

*Về bảo mật thông tin: trọng tài xét xử không công khai tức là các phiên họp
giải quyết tranh chấp của trọng tài không đƣợc tổ chức công khai và chỉ có các bên


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status