Tội phạm trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội những vấn đề lý luận và thực tiễn - Pdf 48

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

NGUYỄN THỊ ANH THƠ

TỘI PHẠM TRONG LĨNH VỰC
BẢO HIỂM XÃ HỘI - NHỮNG VẤN ĐỀ
LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Chuyên ngành: Luật Hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 62 38 01 04
(Mã số cũ: 62 38 40 01)

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

GS.TS. Nguyễn Ngọc Hòa

HÀ NỘI – 2012


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của
cá nhân tôi. Nội dung cũng như các số liệu được trình bày
trong luận án hoàn toàn trung thực. Những kết luận khoa
học của luận án chưa từng được công bố trong bất cứ công
trình nào khác.

Tác giả luận án


KẾT LUẬN CHƯƠNG I ........................................................................................................................... .. 58
CHƯƠNG II: BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỚI VIỆC ÁP DỤNG ĐỂ XỬ LÝ TỘI PHẠM TRONG
LĨNH VỰC BẢO HIỂM XÃ HỘI .............................................................................................................60
2.1. CÁC TỘI DANH TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM ĐƯỢC ÁP DỤNG ĐỂ XỬ LÝ CÁC TỘI
PHẠM TRONG LĨNH VỰC BẢO HIỂM XÃ HỘI KHÔNG CÓ TÍNH RIÊNG BIỆT...............................60
2.1.1. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 139 BLHS) ....................................................................61
2.1.2. Tội tham ô tài sản (Điều 278 BLHS) ....................................................................................... 72
2.1.3. Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ (Điều 281 BLHS) ....................79
2.1.4. Tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của nhà nước (Điều 144 BLHS)
........................................................................................................................................................86
2.2. CÁC TỘI DANH TRONG LĨNH VỰC BẢO HIỂM XÃ HỘI CÓ TÍNH RIÊNG BIỆT CẦN ĐƯỢC BỔ
SUNG TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM.......................................................................................88
2.2.1. Thực trạng của các hành vi vi phạm trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội có tính riêng biệt...............89
2.2.2. Các hành vi vi phạm trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội có tính riêng biệt cần được tội phạm hoá
...............................................................................................................................................................95
2.2.2.1. Tội phạm hóa trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội - các điều kiện và sự cần thiết ..................95
2.2.2.2. Hành vi trốn đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động ..................................................99
2.2.2.3. Hành vi không đóng bảo hiểm xã hội cho đủ số người lao động.................................... 101
2.2.2.4. Hành vi không đóng đủ mức bảo hiểm xã hội cho người lao động................................ 102
2.2.2.5. Hành vi không đóng đúng hạn bảo hiểm xã hội cho người lao động............................. . . 103
KẾT LUẬN CHƯƠNG II...................................................................................................................... . . . . . . 106
CHƯƠNG III: ĐỊNH HƯỚNG HOÀN THIỆN HỆ THỐNG PHÁP LUẬT LIÊN QUAN ĐẾN QUY ĐỊNH
VỀ TỘI PHẠM TRONG LĨNH VỰC BẢO HIỂM XÃ HỘI .....................................................................108
3.1. HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA BLHS VIỆT NAM VỀ TỘI PHẠM TRONG LĨNH VỰC BẢO
HIỂM XÃ HỘI ............................................................................................................................ . . . . . . . . . . . 109
3.1.1. Các tội danh cần thiết thuộc lĩnh vực bảo hiểm xã hội......................................................... 109
3.1.1.1. Nhóm tội vi phạm nghĩa vụ đóng bảo hiểm xã hội của người sử dụng lao động............ 109


2

Kinh nghiệm của một số nước đang phát triển trên thế giới và khu vực cho
thấy, phát triển kinh tế - xã hội phải đi đôi với đảm bảo an sinh xã hội. Hiện nay,
không một quốc gia nào trên thế giới lại không coi chính sách an sinh xã hội là một
chính sách xã hội quan trọng mà trong đó, BHXH là một trụ cột không thể thiếu1.
Điều này đặc biệt có ý nghĩa trong bối cảnh Việt Nam đang đẩy mạnh công nghiệp
hóa, phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập
quốc tế. Việc bảo vệ lực lượng lao động trong xã hội bằng cách bảo đảm thu nhập
cho họ, tránh tạo ra một lớp người nghèo mới trong tương lai là một yêu cầu khách
quan. Công nghiệp phát triển, đất đai dùng vào sản xuất nông nghiệp bị thu hẹp đã
tạo ra một lực lượng lao động làm công ăn lương, sống bằng tiền lương, tiền công
hàng tháng. Điều này đòi hỏi sự cần thiết phải có BHXH để có cơ sở tạo ra nguồn thu
nhập thay thế trong trường hợp nguồn thu nhập bình thường của người lao động bị
gián đoạn hoặc bị mất đi do các nguyên nhân mang tính xã hội như ốm đau, thai sản,
tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động… BHXH không
những góp phần giảm bớt sự mất mát về tiền đối với cá nhân người lao động bằng
cách chuyển đổi nguy cơ tổn thất tài chính gây ra bởi các rủi ro mang tính xã hội
thành các khoản đóng góp nhỏ mà còn góp phần bảo vệ gia đình họ trước nguy cơ
phải tiêu tốn các khoản tiền lớn hơn thu nhập của họ và qua đó góp phần đảm bảo đời
sống cho người lao động. Do vậy, BHXH được xem là yếu tố căn bản để xây dựng hệ
thống an sinh xã hội ổn định lâu dài.

1

BHXH có thể được hiểu theo nghĩa hẹp là nghĩa trong đó không bao gồm BHYT nhưng cũng có thể được hiểu theo nghĩa
rộng là nghĩa trong đó bao gồm cả BHYT.


4

Ở Việt Nam, chính sách BHXH đã trải qua một nửa thế kỷ kể từ khi Điều lệ

không được giải quyết kịp thời. Do vậy, BHXH nhiều tỉnh, thành phố đã phải đứng
đơn khởi kiện các doanh nghiệp không đóng BHXH để bảo vệ quyền lợi của người
lao động. Tuy nhiên, việc thi hành các bản án buộc doanh nghiệp vi phạm phải nộp số
tiền BHXH chưa đóng và số tiền lãi chậm đóng cho cơ quan BHXH cũng gặp rất
nhiều khó khăn, thời gian thu hồi nợ kéo dài, thậm chí có doanh nghiệp không thể


5

nộp được do không còn khả năng tài chính. Việc chuyển hồ sơ sang Phòng cảnh sát
điều tra tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ đề nghị khởi tố về tội danh
không thi hành án theo quy định của BLHS cũng gặp không ít vấn đề vướng mắc.
Hiện nay, các hành vi vi phạm pháp luật về BHXH vẫn xảy ra ngày một
nghiêm trọng hơn và vẫn chưa có phương án giải quyết có hiệu quả. Tính đến
31/8/2011, theo Số liệu được công bố tại Hội nghị tổng kết 5 năm thực hiện Luật
BHXH do Bộ Lao động - Thương Binh xã hội tổ chức ngày 29/11/2011, con số 4.611
tỷ đồng tiền BHXH mà các đơn vị sử dụng lao động đang chiếm dụng đã làm cho
quyền hưởng BHXH của hàng triệu người lao động bị ảnh hưởng. Tuy nhiên, theo
thống kê của BHXH Việt Nam, tính đến 30/6/2012, con số này đã tăng thêm gần
4.000 tỷ đồng, nâng số tiền BHXH các đơn vị sử dụng không đóng lên hơn 8.600 tỷ
đồng. Bên cạnh đó, việc phát hiện số lượng lớn giấy chứng nhận nghỉ ốm giả, sổ
khám bệnh khống được bán cho người lao động để làm hồ sơ rút tiền bảo hiểm trái
pháp luật cũng như việc lập hồ sơ bệnh án khống để rút tiền BHYT… đang là vấn đề
làm cho chính sách BHXH bị lạm dụng và quỹ BHXH bị thâm hụt.
Mặc dù các quy định về xử phạt vi phạm pháp luật BHXH, BHYT cũng cho
phép truy cứu trách nhiệm hình sự các cá nhân có hành vi vi phạm Luật BHXH, Luật
BHYT đến mức bị coi là tội phạm nhưng do BLHS Việt Nam không có các điều luật
riêng về các tội phạm trong lĩnh vực BHXH nên chỉ có thể truy cứu trách nhiệm hình
sự theo các tội danh chung tương ứng. Vì vậy, trên thực tế có những hành vi vi phạm
nghiêm trọng nghĩa vụ đóng BHXH nhưng không thể xử lý hình sự được, những

phạm trong lĩnh vực BHXH mới chỉ có thể thực hiện được đối với nhóm hành vi liên
quan đến quyền thụ hưởng BHXH và nhóm hành vi liên quan đến quản lý hoạt động
BHXH mà chưa thể thực hiện được đối với các hành vi vi phạm nghĩa vụ đóng
BHXH khiến cho người sử dụng lao động có ý thức coi thường pháp luật. Điều này
không những ảnh hưởng đến việc thực thi pháp luật BHXH mà còn ảnh hưởng đến
tính tôn nghiêm của pháp luật nói chung. Bên cạnh đó, xét về mặt lý luận, còn nhiều
vấn đề về tội phạm trong lĩnh vực BHXH chưa được làm rõ như khái niệm, phân loại,
xác định ranh giới giữa tội phạm và vi phạm hành chính... nên gây khó khăn trong
việc áp dụng pháp luật để xử lý vi phạm và tội phạm trong lĩnh vực này.
Chính vì vậy, đã đặt ra yêu cầu phải nghiên cứu một cách toàn diện để làm rõ
các hành vi vi phạm pháp luật BHXH có tính nguy hiểm đáng kể cho xã hội, nghiên
cứu các tội phạm có thể phát sinh trong lĩnh vực BHXH góp phần hoàn thiện cơ sở lý
luận và thực tiễn của trách nhiệm hình sự đối với những hành vi vi phạm pháp luật
BHXH ở Việt Nam hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
BHXH được coi là một chính sách quan trọng trong hệ thống chính sách về an
sinh xã hội của quốc gia nên các nghiên cứu liên quan đến chính sách BHXH chủ yếu
tập trung vào các vấn đề cụ thể của từng chế độ nhằm mục đích điều chỉnh chính sách
BHXH cho phù hợp với tình hình thực tế của công cuộc xây dựng đất nước. Có thể
chia chính sách BHXH ở Việt Nam thành hai thời kỳ chính, đó là: Thời kỳ “bao cấp”
về BHXH - thời kỳ thực hiện Điều lệ tạm thời về BHXH từ năm 1961 đến hết năm
1994 và thời kỳ cải cách chính sách BHXH từ năm 1995 đến nay.
Thứ nhất, thời kỳ trước năm 1995 - trong thời kỳ này, việc thực hiện chính
sách BHXH do ngành Lao động - Thương binh & Xã hội và ngành Công đoàn (nay là


7

Liên đoàn lao động) thực hiện. Trong đó, ngành Lao động - Thương binh & Xã hội
quản lý và thực hiện các chế độ BHXH dài hạn, ngành Công đoàn quản lý và thực

cứu xoay quanh vấn đề nguồn hình thành quỹ BHXH, các chế độ BHXH và phương
thức thực hiện BHXH trong thời kỳ đổi mới ở Việt Nam.


8

Đặc biệt, trong số các nghiên cứu tổng kết kinh nghiệm thực hiện BHXH và đề
xuất một số cải cách đối với Việt Nam có bài nghiên cứu của tác giả người Mỹ L.
Villacorta - chuyên gia kỹ thuật về BHXH của Tổ chức Lao động quốc tế. Bài viết
này đã được công bố trong Hội thảo quốc gia về BHXH tại Việt Nam năm 1992.
Trong đó, tác giả đã đưa ra những đề xuất cho Chính phủ Việt Nam trong việc đổi
mới cách thức thực hiện BHXH trên cơ sở đánh giá một cách toàn diện về hệ thống
chính sách BHXH ở Việt Nam trong sự so sánh với chính sách BHXH của một số
nước trên thế giới.
Bên cạnh đó còn có rất nhiều bài nghiên cứu của các tác giả là chuyên gia của
Bộ Lao động - thương Binh & Xã hội (như TS. Nguyễn Hữu Dũng và các chuyên gia
Lê Luyện, Hà Ngọc Quế v.v..) với nội dung đánh giá chính sách BHXH trong thời kỳ
này và đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện chính sách BHXH trong thời kỳ đổi
mới ở Việt Nam.
Thứ hai, thời kỳ từ năm 1995 đến nay - thời kỳ mà trong đó chính sách BHXH
được đặc biệt quan tâm và được coi là một chính sách lớn của Đảng và Nhà nước về
an sinh xã hội. Các nghiên cứu về chính sách BHXH trong thời gian này cũng có
những bước phát triển đáng kể. Trong đó phải kể đến một số luận án tiến sỹ và các đề
tài, đề án nghiên cứu cấp bộ, ngành xoay quanh nội dung hoàn thiện chính sách
BHXH ở Việt Nam như:
- Luận án Phó tiến sĩ luật học của tác giả Nguyễn Huy Ban (năm 1996) với đề
tài “Hoàn thiện pháp luật Bảo hiểm xã hội ở Việt Nam - lý luận và thực tiễn”: Đây là
luận án phó tiến sĩ đầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu về những vấn đề lý luận về
BHXH và đánh giá thực trạng công tác xây dựng pháp luật BHXH ở Việt Nam. Trên
cơ sở đó, tác giả đã đề xuất mô hình xây dựng Luật BHXH, trong đó có vấn đề giải

đóng BHXH, chậm đóng BHXH cho người lao động (Tạp chí BHXH, Tạp chí Lao
động xã hội...). Ngoài ra còn có nhiều bài viết thông tin về các vụ án liên quan đến
các vấn đề như trục lợi từ quỹ BHYT, lợi dụng chức vụ trong giải quyết các chế độ
BHXH được đăng trên các báo Pháp luật, báo Công an nhân dân và các báo điện tử
khác2... Riêng Báo BHXH - cơ quan ngôn luận của Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã có
rất nhiều bài viết về các doanh nghiệp, đơn vị chậm nộp BHXH. Các bài viết này đều
đã thống nhất đánh giá chế tài xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BHXH là
thấp, không đủ sức răn đe, trong khi đó, chế tài hình sự lại chưa có thể được áp dụng
cho các hành vi vi phạm nghĩa vụ đóng BHXH của người sử dụng lao động. Việc áp
dụng một số điều tương ứng trong BLHS đối với một số hành vi phạm tội trong lĩnh
vực BHXH còn gặp nhiều vướng mắc nên có tình trạng không thống nhất trong định
tội danh và quyết định hình phạt hoặc để lọt tội phạm. Điều này đã làm cho pháp luật
BHXH không được thực hiện nghiêm trên thực tế, quyền lợi của người lao động bị
xâm phạm ngày càng nghiêm trọng.
Trước tình hình đó, yêu cầu khách quan được đặt ra là cần nghiên cứu một
cách tổng thể và cụ thể về tình hình vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BHXH và về
chế tài xử phạt đối với các hành vi vi phạm pháp luật BHXH, BHYT. Đề án khoa học
cấp ngành “Xây dựng quy trình tham gia tố tụng và chế tài xử phạt vi phạm pháp luật

2

Theo thống kê của tác giả có hơn 100 bài viết về vấn đề này đã được đăng trên các báo khác nhau.


10

về BHXH, BHYT và BHTN" của tác giả Lê Quyết Thắng và nhóm nghiên cứu (BHXH
Việt Nam, năm 2009) đã đáp ứng được một phần yêu cầu này khi tập trung nghiên
cứu các nội dung liên quan đến hồ sơ tham gia tố tụng và chế tài xử phạt vi phạm
pháp luật về BHXH, BHYT và BHTN ở Việt Nam. Đề án này đã có đóng góp tích

giả, các cơ quan chuyên môn có chức năng hoạch định chính sách hoặc thực hiện


11

chính sách BHXH, trong đó có nghiên cứu về chế tài xử phạt vi phạm hành chính
trong lĩnh vực BHXH nhằm hoàn thiện chính sách BHXH nói chung và hoàn thiện
pháp luật thực định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BHXH nói riêng
còn có nhiều bài báo phản ánh các vụ việc vi phạm pháp luật về BHXH, đặc biệt là vi
phạm nghĩa vụ đóng BHXH. Từ thực trạng những vi phạm này, đề xuất cần phải xử
lý hình sự đối với các hành vi vi phạm pháp luật BHXH, đặc biệt là đối với hành vi vi
phạm nghĩa vụ đóng BHXH cũng đã được đề cập đến trong các văn bản kiến nghị của
các cơ quan quản lý nhà nước về BHXH, cơ quan thực hiện BHXH và của Ủy ban
các vấn đề xã hội của Quốc hội. Tuy nhiên, đến thời điểm này vẫn chưa có công trình
nào ở cấp độ luận văn thạc sĩ hay luận án tiến sĩ nghiên cứu về vấn đề tội phạm trong
lĩnh vực BHXH ở Việt Nam dưới góc độ luật hình sự cũng như tội phạm học. Chính
điều này đã thúc đẩy tác giả lựa chọn đề tài: “Tội phạm trong lĩnh vực bảo hiểm xã
hội - Những vấn đề lý luận và thực tiễn” làm đề tài luận án tiến sĩ của mình.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
Mục đích mà luận án hướng tới là xây dựng cơ sở khoa học cũng như thực tiễn
cho các kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật hình sự về nhóm tội phạm trong
lĩnh vực BHXH.
Để đạt được mục đích này luận án có nhiệm vụ nghiên cứu một cách toàn diện
lý luận về tội phạm và vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BHXH; nghiên cứu thực tiễn
lập pháp và thực tiễn áp dụng các quy định về tội phạm trong lĩnh vực BHXH của
Việt Nam và một số nước trên thế giới. Trên cơ sở đó luận án kiến nghị hướng hoàn
thiện các quy định của pháp luật hình sự về tội phạm trong lĩnh vực BHXH cũng như
hướng hoàn thiện các quy định của pháp luật hành chính về vi phạm trong lĩnh vực
BHXH để đảm bảo tính thống nhất của hệ thống pháp luật.
4. Phạm vi nghiên cứu đề tài luận án

thiện một số quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính có liên quan
nhằm tạo ra sự đồng bộ của hệ thống pháp luật liên quan đến việc phòng ngừa tội
phạm trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội.
Kết quả nghiên cứu của luận án có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo
cho cơ quan BHXH Việt Nam trong việc xây dựng các luận cứ khoa học để kiến nghị
với các cơ quan có thẩm quyền về yêu cầu tội phạm hóa một số hành vi vi phạm pháp
luật trong lĩnh vực BHXH ở mức cần bị coi là tội phạm nhằm đảm bảo sự tôn nghiêm
của pháp luật về BHXH, nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật của người sử dụng lao
động, đồng thời bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người lao động. Kết quả nghiên cứu
của luận án cũng có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong giảng dạy và
nghiên cứu về tội phạm trong một lĩnh vực chuyên ngành.
7. Cơ cấu của luận án
Ngoài Phần mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận án được
kết cấu gồm 3 chương như sau:
Chương I: Những vấn đề chung về tội phạm trong lĩnh vực BHXH
Chương II: Bộ luật hình sự Việt Nam với việc áp dụng để xử lý tội phạm trong
lĩnh vực BHXH
Chương III: Định hướng hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến quy định
về tội phạm trong lĩnh vực BHXH.


13

CHƯƠNG I
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI PHẠM TRONG
LĨNH VỰC BẢO HIỂM XÃ HỘI
CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI PHẠM TRONG LĨNH VỰC BẢO HIỂM
XÃ HỘI
1.1. KHÁI NIỆM TỘI PHẠM TRONG LĨNH VỰC BẢO HIỂM XÃ HỘI


14

theo điều kiện kinh tế - xã hội và khả năng của quỹ BHXH có thể bằng toàn bộ hoặc
một phần thu nhập đã mất.
Căn cứ vào điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể của nước mình, các quốc gia trên
thế giới lựa chọn mô hình BHXH phù hợp, đó có thể là một trong 3 mô hình sau hoặc
là mô hình có sự kết hợp của cả 3 mô hình này:
- Mô hình BHXH toàn dân (tập trung vào chương trình bảo hiểm hưu trí):
Mô hình này được thiết kế theo hướng trả cùng một khoản cho tất cả người già
không phụ thuộc là trước đó có đi làm hay không cũng như trước đó đã đóng
bao nhiêu vào quỹ hưu trí. Trong các nước lựa chọn mô hình này có một số
nước như Nam Phi, Canada, Thụy Điển.
- Mô hình chương trình hưu trí đóng hưởng với mức hưởng xác định: Mô
hình này còn được gọi là mô hình quỹ tồn tích cộng đồng. Trong đó, nguồn quỹ
được hình thành chủ yếu từ đóng góp của người lao động, người sử dụng lao
động và sự hỗ trợ của Nhà nước. Việc chi trả chỉ được thực hiện đối với người
lao động đã đóng BHXH và mức hưởng được xác định theo mức đóng bình
quân của thời gian đã tham gia BHXH. Loại mô hình này thường được quản lý
bởi các cơ quan nhà nước và được đa số các quốc gia lựa chọn trong đó có Việt
Nam. Tuy nhiên, mô hình này đang bộc lộ một số khiếm khuyết, trong đó có sự
mất cân đối về nguồn chi trả. Nhiều quốc gia đang gặp khó khăn này như Đức,
Pháp, Ý và ngay cả Mỹ cũng vậy.
- Mô hình có mức đóng xác định: Đây là mô hình mà trong đó nguồn quỹ
được hình thành do người lao động hoặc do chủ sử dụng lao động hoặc do người
lao động và người sử dụng lao động cùng đóng góp. Mức hưởng của người lao
động được xác định căn cứ vào số tiền đã đóng trước đó cũng như lãi suất từ
hoạt động đầu tư số tiền đã đóng. Vì mỗi người có một tài khoản riêng nên mô
hình này còn được gọi là mô hình tài khoản cá nhân. Đây là mô hình đang được
áp dụng ở một số nước Bắc Mỹ như Mexico, Costa Rica,…[32, tr. 105].
Trong số các mô hình trên, mô hình mức đóng xác định được đánh giá là mô

như vậy, cũng có quan điểm cho rằng BHTN cũng không thuộc phạm trù của BHXH
do ở trường hợp này, phạm vi bảo hiểm không chỉ nhằm đảm bảo một phần thu nhập
bị mất do thất nghiệp mà còn có mục đích cung cấp các dịch vụ việc làm, đào tạo
nghề nhằm đưa người thất nghiệp quay lại thị trường lao động. Theo quan điểm chính
thống hiện nay ở Việt Nam được thể hiện trong Luật BHXH thì BHTN thuộc nội hàm
của BHXH vì mục đích cơ bản của BHTN là nhằm bù đắp một phần thu nhập cho
người lao động trong thời gian bị thất nghiệp.
Như vậy, theo nghĩa hẹp và cũng là nghĩa thông dụng ở Việt Nam, BHXH
được hiểu là sự đảm bảo bù đắp một phần hoặc thay thế thu nhập của người lao động
khi bị ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao
động hoặc chết… trên cơ sở đóng góp và sử dụng một quỹ tài chính tập trung, nhằm
đảm bảo ổn định đời sống cho họ và an toàn xã hội [32, tr. 16-17].
Hiện nay ở Việt Nam, Nhà nước thống nhất quản lý và giao cho cơ quan
BHXH Việt Nam tổ chức tổ chức thực hiện 7 chế độ BHXH là: Bảo hiểm ốm đau,
thai sản, tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp, hưu trí, tử tuất, thất nghiệp và BHYT.
Điều này cho thấy cần có một cách tiếp cận rộng hơn về BHXH, theo đó tất cả các
hình thức bảo hiểm cho các rủi ro mang tính xã hội xảy ra đối với con người mà


16

không mang tính lợi nhuận cần được đặt trong một tổng thể chung của lĩnh vực
BHXH như ghi nhận trong Công ước số 102 của Tổ chức Lao động quốc tế. Vì vậy,
trong phạm vi nghiên cứu tổng thể của luận án, BHXH được được hiểu theo nghĩa
rộng bao gồm cả BHTN và BHYT.
Mối quan hệ xuyên suốt trong hoạt động BHXH là mối quan hệ giữa nghĩa vụ,
trách nhiệm và quyền lợi của các bên trong quan hệ BHXH. Đó là, bên tham gia
BHXH, bên BHXH và bên được BHXH, cụ thể:
Bên tham gia BHXH là bên có trách nhiệm đóng góp BHXH theo quy định của
pháp luật BHXH. Bên tham gia BHXH gồm có người lao động, người sử dụng lao

với tư cách bảo hộ cho quỹ BHXH, Nhà nước là chủ thể quản lý và hoạch định chế
độ, chính sách BHXH, định hướng cho các hoạt động BHXH, bảo đảm cho quỹ
BHXH cân đối được khả năng chi trả cũng như bảo đảm giá trị của các khoản tiền
BHXH trước những biến động về giá cả sinh hoạt luôn có xu hướng tăng lên. Khi mở
rộng đối tượng tham gia BHXH trong nền kinh tế thị trường, bên tự nguyện tham gia
BHXH chính là bên được BHXH như trong trường hợp người lao động tự tạo việc
làm, họ vừa là người tham gia BHXH (một cách tự nguyện) vừa là người được quyền
hưởng BHXH vì họ đóng BHXH để bảo hiểm cho chính bản thân họ mà không có sự
chia sẻ từ phía người sử dụng lao động như trong trường hợp BHXH bắt buộc[38].
Có thể nói rằng, BHXH là sản phẩm tất yếu của nền kinh tế hàng hóa. Khi
trình độ phát triển kinh tế của một quốc gia đạt đến một mức độ nào đó thì hệ thống
BHXH có điều kiện ra đời và phát triển. Vì vậy, các nhà kinh tế cho rằng, sự ra đời và
phát triển của BHXH phản ánh sự phát triển của nền kinh tế. Một nền kinh tế chậm
phát triển, đời sống nhân dân thấp kém không thể có một hệ thống BHXH vững mạnh
được. Kinh tế càng phát triển, hệ thống BHXH càng đa dạng, các chế độ BHXH ngày
càng mở rộng, các hình thức BHXH ngày càng phong phú. Khi đã tham gia BHXH,
người lao động được hưởng trợ cấp khi phải nghỉ việc do ốm đau; khi phải điều trị
hoặc khám bệnh tại các cơ sở khám chữa bệnh họ được hưởng chế độ BHYT; khi
sinh con hoặc nuôi con nuôi, được hưởng trợ cấp thai sản; khi bị thương tật do lao
động, được hưởng trợ cấp tai nạn lao động; khi bị mắc bệnh do các nguyên nhân
mang tính nghề nghiệp, được hưởng chế độ trợ cấp bệnh nghề nghiệp; khi bị mất việc
làm, được hưởng bảo hiểm thất nghiệp; khi hết tuổi lao động, được hưởng chế độ hưu
trí; khi chết, gia đình được trợ cấp tiền mai táng và trợ cấp tiền tuất. Điều này đã cho
thấy, BHXH đóng vai trò trực tiếp và quan trọng trong việc ổn định đời sống của
người lao động, qua đó có tác động tích cực tới thị trường lao động và góp phần quan
trọng vào việc đảm bảo an sinh xã hội. Như vậy, có thể nói rằng, BHXH là một loại
hình bảo hiểm tồn tại tất yếu trong một xã hội phát triển, và tầm quan trọng của nó
được ví như trong câu ngạn ngữ của người Đức: “Cuộc sống không có bảo hiểm như
cầu thang không có tay vịn.”
Tuy nhiên, quyền được hưởng các chế độ BHXH nêu trên chỉ có thể được bảo

niệm tội phạm trong lĩnh vực BHXH không những phải thoả mãn các dấu hiệu của tội
phạm nói chung mà còn phải phản ánh những dấu hiệu riêng thể hiện nét đặc thù của
tội phạm trong lĩnh vực chuyên biệt này.
Tội phạm trong lĩnh vực BHXH có thể được hiểu theo hai nghĩa. Theo nghĩa
hẹp, tội phạm trong lĩnh vực BHXH chỉ bao gồm các hành vi trực tiếp vi phạm các
quy định của pháp luật BHXH ở mức độ bị coi là tội phạm. Theo nghĩa này, tội phạm
trong lĩnh vực BHXH có thể được gọi là tội phạm trong lĩnh vực BHXH có tính riêng
biệt (chỉ xảy ra trong lĩnh vực BHXH). Theo nghĩa rộng, tội phạm trong lĩnh vực
BHXH bao gồm không chỉ tội phạm theo nghĩa hẹp này mà còn cả các tội phạm khác
xảy ra trong lĩnh vực BHXH. Các tội phạm khác này có thể được gọi chung là tội
phạm trong lĩnh vực BHXH không có tính riêng biệt (có thể xảy ra trong nhiều lĩnh
vực, trong đó có lĩnh vực BHXH). Như vậy, tội phạm trong lĩnh vực BHXH theo
nghĩa rộng bao gồm tội phạm trong lĩnh vực BHXH có tính riêng biệt và tội phạm
trong lĩnh vực BHXH không có tính riêng biệt. Do có các cách hiểu khác nhau như
vậy mà cũng có thể có những định nghĩa khác nhau về tội phạm trong lĩnh vực
BHXH.


19

Theo nghĩa hẹp, hành vi bị coi là tội phạm trong lĩnh vực BHXH là hành vi
xâm hại các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình thực hiện hoạt động BHXH qua
việc vi phạm trực tiếp các quy định về đóng và hưởng BHXH, gây ra hoặc đe dọa gây
ra thiệt hại đáng kể cho xã hội.
Ngoài các hành vi như vậy còn có các hành vi khác cũng xâm hại quan hệ
BHXH và các hành vi này được quy định tại các chương khác nhau của BLHS như
hành vi tham ô tài sản được quy định trong nhóm các tội phạm về tham nhũng của
chương các tội phạm về chức vụ. Hành vi tham ô tài sản có thể xảy ra trong các lĩnh
vực khác nhau, trong đó có lĩnh vực BHXH. Khi xảy ra trong lĩnh vực BHXH, tội
tham ô sẽ xâm hại quan hệ BHXH, gây thiệt hại cho Nhà nước là một bên của quan

hòa Liên bang Đức nơi hệ thống BHXH xuất hiện đầu tiên trên thế giới vào cuối thế
kỷ XIX. Trong BLHS của Cộng hòa Liên bang Đức, hành vi không nộp BHXH cho
người lao động hoặc đã trích tiền BHXH từ tiền lương của người lao động mà không
nộp cho cơ quan có thẩm quyền được quy định là tội phạm tại Điều 266a. Ở Việt
Nam, BLHS hiện hành chưa quy định về tội phạm trong lĩnh vực BHXH có tính riêng
biệt. Do vậy, tội phạm trong lĩnh vực BHXH ở Việt Nam chỉ bao gồm một số hành vi
phạm tội đã được quy định chung trong BLHS và xảy ra trên thực tế trong lĩnh vực
BHXH.
Từ các phân tích trên có thể định nghĩa tội phạm trong lĩnh vực BHXH một
cách chung nhất như sau:
Tội phạm trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội là những hành vi nguy hiểm cho xã
hội xâm hại những quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình thực hiện các quy định
của pháp luật BHXH, được quy định là tội phạm trong Bộ luật hình sự hoặc trong
các luật liên quan đến BHXH, gây thiệt hại cho quỹ BHXH, cho quyền và lợi ích hợp
pháp của người tham gia BHXH.
Các luật liên quan đến BHXH ở đây có thể là luật BHXH, Luật BHYT, luật
BHTN… tuỳ theo quy định của pháp luật ở mỗi quốc gia. Tuy nhiên, ở Việt Nam do
chúng ta chưa cho phép tội phạm và hình phạt được quy định trong các luật chuyên
ngành nên tội phạm trong lĩnh vực BHXH có thể được định nghĩa là: Những hành vi
nguy hiểm cho xã hội xâm hại những quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình thực
hiện các quy định của pháp luật BHXH, được quy định là tội phạm trong Bộ luật hình
sự, gây thiệt hại cho quỹ BHXH, cho quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia
BHXH.

Như vậy, đối với các quốc gia cho rằng nguồn trực tiếp của luật hình sự chỉ là
BLHS như Việt Nam thì tội phạm trong lĩnh vực BHXH dù thuộc nhóm nào - nhóm
chỉ xảy ra trong lĩnh vực BHXH hay nhóm có thể xảy ra ở các lĩnh vực khác nhau
đều chỉ được quy định trong BLHS.
Đối với các quốc gia cho rằng nguồn trực tiếp của luật hình sự không chỉ là
BLHS mà còn có thể là các luật khác thì tội phạm trong lĩnh vực BHXH có thể được

có lỗi, tính trái pháp luật hình sự, đồng thời biểu hiện của những dấu hiệu này cũng
có điểm riêng do đây là những tội phạm xảy ra trong một lĩnh vực chuyên biệt.
Về các đặc điểm của tội phạm, có quan điểm cho rằng tính phải chịu hình phạt
là một dấu hiệu của tội phạm, có nghĩa là bất cứ hành vi phạm tội nào cũng đều bị đe
dọa có thể phải chịu biện pháp cưỡng chế nhà nước nghiêm khắc nhất là hình phạt
[29, tr. 57-59]. Bên cạnh đó, cũng có quan điểm cho rằng “tính phải chịu hình phạt”
chính là hậu quả pháp lý mà người phạm tội phải chịu nếu hành vi của họ thoả mãn
đầy đủ các dấu hiệu của một tội cụ thể được quy định trong BLHS. Tuy nhiên, trong
phạm vi nghiên cứu của luận án, khi phân tích các dấu hiệu của tội phạm trong lĩnh
vực BHXH, tác giả chỉ phân tích ba dấu hiệu: Tính nguy hiểm cho xã hội; tính có lỗi
và tính trái pháp luật hình sự.
- Tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm trong lĩnh vực BHXH
Dấu hiệu “Tính nguy hiểm cho xã hội” là dấu hiệu cơ bản, quan trọng nhất
trong các dấu hiệu của tội phạm và nó quyết định những dấu hiệu khác của tội phạm.
Tính nguy hiểm cho xã hội là căn cứ để phân biệt hành vi phạm tội với hành vi vi


22

phạm khác và cũng là cơ sở đánh giá mức độ nghiêm trọng nhiều hay ít của hành vi
phạm tội khi xác định trách nhiệm hình sự của người thực hiện tội phạm[19, tr.20].
Nguy hiểm cho xã hội nghĩa là hành vi phạm tội gây ra hoặc đe dọa gây ra
thiệt hại đáng kể cho các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ. Tính nguy hiểm
cho xã hội của tội phạm có tính khách quan, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan
của nhà làm luật. Nhà làm luật khi xác định một hành vi nào đó là nguy hiểm cho xã
hội và quy định trong BLHS chẳng qua chỉ là thừa nhận một thực tế khách quan đã
tồn tại thông qua việc nhận thức và đánh giá các tình tiết khác nhau của hành vi hoặc
có liên quan đến hành vi. Những tình tiết đó bao gồm:
+ Tính chất của quan hệ xã hội bị xâm hại;
+ Mức độ thiệt hại gây ra hoặc bị đe dọa gây ra cho quan hệ xã hội bị xâm hại;

nói cách khác là nhóm tội phạm vi phạm trực tiếp quy định của pháp luật BHXH và
nhóm tội phạm trong lĩnh vực BHXH không có tính riêng biệt, có thể xảy ra trong
lĩnh vực BHXH cũng như trong các lĩnh vực khác của đời sống kinh tế - xã hội. Hai
nhóm tội phạm này có thể được gọi tắt là nhóm tội phạm có tính riêng biệt và nhóm
tội phạm không có tính riêng biệt. Chúng có điểm chung cũng như điểm riêng về tính
nguy hiểm cho xã hội. Cụ thể:
Nhóm tội phạm không có tính riêng biệt tuy cũng xâm hại quan hệ BHXH
nhưng trước hết xâm hại quan hệ xã hội khác được luật hình sự bảo vệ. Do vậy, tính
nguy hiểm cho xã hội của nhóm tội phạm này được quy định trước hết bởi tính chất
quan trọng của quan hệ xã hội bị trực tiếp xâm hại. Đồng thời, tính nguy hiểm cho xã
hội của nhóm tội phạm này còn được quy định bởi tính chất quan trọng của quan hệ
BHXH. Tùy thuộc vào từng tội mà nhóm tội phạm này có thể có tính nguy hiểm của
tội phạm về tham nhũng như tội tham ô tài sản (trong lĩnh vực BHXH), tội phạm về
xâm phạm trật tự quản lý kinh tế (như tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về
quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng v.v..). Nhưng đồng thời các tội phạm thuộc
nhóm tội phạm này cũng có tính nguy hiểm chung của tội phạm trong lĩnh vực
BHXH. Do vậy, tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của nhóm tội phạm này
không chỉ phụ thuộc vào tính chất và mức độ thiệt hại gây ra hoặc đe dọa gây ra cho
quan hệ BHXH mà còn phụ thuộc vào tính chất và mức độ thiệt hại gây ra hoặc đe
dọa gây ra cho quan hệ xã hội mà hành vi phạm tội trực tiếp nhằm tới.
Đối với nhóm tội phạm có tính riêng biệt, tính nguy hiểm cho xã hội được quy
định trước hết bởi tính chất quan trọng của những nghĩa vụ phát sinh do luật định
trong quan hệ BHXH, là quan hệ giữa nhà nước và các bên của quan hệ lao động (các
bên của quan hệ lao động bao gồm người lao động và người sử dụng lao động), trong
đó Nhà nước là chủ thể tổ chức, quản lý việc thu các khoản đóng BHXH từ người sử
dụng lao động và người lao động để chi các chế độ BHXH cho người lao động khi có
sự kiện BHXH xảy ra. Xét ở phạm vi một cá nhân, chế độ BHXH giúp ổn định đời
sống cho người lao động và gia đình họ khi gặp những rủi ro trong cuộc sống, xét
trên bình diện rộng thì BHXH góp phần không nhỏ vào việc duy trì sự ổn định xã hội.
Hiện nay, trên thế giới, tiêu chí để đánh giá mức độ của tính nguy hiểm cho xã


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status