BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA CHĂN NUÔI - THÚ Y
****************
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
KHẢO SÁT CÁC TRƯỜNG HỢP BẤT THƯỜNG XẢY RA
Ở VÙNG ĐẦU TRÊN CHÓ TẠI TRẠM THÚ Y
QUẬN BÌNH THẠNH TP.HỒ CHÍ MINH
Sinh viên thực hiện : Lê Minh Thành
Lớp: DH07DY
Ngành: Dược thú y
Niên khóa: 2007 – 2012
Tháng 8/ 2012
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA CHĂN NUÔI – THÚ Y
****************
LÊ MINH THÀNH
KHẢO SÁT CÁC TRƯỜNG HỢP BẤT THƯỜNG XẢY RA
Ở VÙNG ĐẦU TRÊN CHÓ TẠI TRẠM THÚ Y
QUẬN BÌNH THẠNH TP.HỒ CHÍ MINH
Khóa luận đệ trình đáp ứng yêu cầu cấp bằng Bác sĩ thú y
XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
Họ tên sinh viên thực hiện: Lê Minh Thành
Tên đề tài:“ Khảo sát các trường hợp bất thường xảy ra ở vùng đầu trên
chó tại Trạm thú y quận Bình Thạnh Tp.HCM ”. luận văn đã hoàn thành theo
đúng kế hoạch và yêu cầu của giáo viên hướng dẫn.
Giáo viên hướng dẫn
ThS Phan Quang Bá
iii
TÓM TẮT LUẬN VĂN
Đề tài “ Khảo sát các bất thường xảy ra ờ vùng đầu trên chó tại trạm thú y
quận Bình Thạnh TPHCM ”. Thời gian thực hiện kể từ 06/02/2012 đến
06/06/2012. Chúng tôi khảo sát trên 1422 con chó đến khám và điều trị có 403 con
bệnh trên vùng đầu, chiếm tỷ lệ 28,34%. Sau đó phân loại từng dạng bệnh theo:
nguồn gốc, tuổi, giới tính và ghi nhận được kết quả tỷ lệ bệnh và hiệu quả điều trị
như sau:
Bệnh chiếm tỷ lệ cao nhất trên vùng đầu là bệnh về da có 151 con chiếm 10,62%,
tiếp theo là bệnh ở mắt có 112 con chiếm 7,88%, bệnh tai có 87 con chiếm 6,11%,
bệnh mũi có 3 con chiếm 2,32%, chiếm tỷ lệ thấp nhất là bệnh ở răng miệng có 20
con chiếm 1,41%. Tuy nhiên trong quá trình khảo sát chúng tôi vẫn khảo sát bệnh ở
vùng hầu nhưng tại trạm không có ca nào.
Tỷ lệ nhóm bệnh ở vùng đầu theo nguồn gốc, giới tính, tuổi đều có sự khác
biệt thực nghiệm nhưng không có ý nghĩa về mặt thống kê ( P>0,05).
Theo khảo sát bệnh ở vùng đầu theo lứa tuổi tăng rõ rệt ở hai giai đoạn 2 – 6
tháng và >6-24 tháng , có xu hường giảm bệnh ở giai đoạn > 24 tháng.
Các bệnh thường găp ở da vùng đầu: viêm da do ve (26,49%), demodex
1
CHƯƠNG 1
MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Hiện nay việc nuôi dưỡng và chăm sóc thú cưng trong nhà rất phổ biến ngoài tính
thẩm mỹ thì thú cưng còn có thể là người bạn để tâm sự và chia sẽ với chủ chăn nuôi.
Nhưng do một số gia đình công việc quá bận rộn nên ít người quan tâm đến sức khỏe
và thay đổi bất thường của chúng có những dấu hiệu phải để ý và quan sát kỹ mới
phát hiện ra bệnh kịp thời nhất là các bệnh về da, tai, mắt và răng miệng trên chó
không thể bỏ qua.
Trong thực tế nhóm bệnh chấn thương vùng đầu chiếm tỉ lệ thấp và ít nguy hiểm
hơn so với bệnh phổ biến ở đường hô hấp, tiêu hóa, nhưng nhóm bệnh này gây khó
chịu cho thú và làm thay đổi tính cách của chúng đồng thời làm mất tính thẩm mỹ
ngoại hình. Nếu phát hiện sớm và điều trị đúng cho nhóm bệnh thường có kết quả
cao. Vì vậy chúng tôi thực hiện đề tài:
"KHẢO SÁT CÁC TRƯỜNG HỢP BẤT THƯỜNG Ở VÙNG ĐẦU TRÊN
CHÓ TẠI TRẠM THÚ Y QUẬN BÌNH THẠNH TP.HỒ CHÍ MINH"
1.2. Mục đích
Tìm hiểu bệnh da, tai, mắt, mũi và răng miệng trên chó.
1.3. Yêu cầu
Xác định tỷ lệ xuất hiện của từng nhóm bệnh da, tai, mắt, mũi và răng
miệng trên chó.
Xác định tỷ lệ của từng nhóm bệnh theo giới tính, nguồn gốc và độ tuổi
Xác định tỷ lệ của từng nhóm loại bệnh trong nhóm bệnh tai, da, mắt, mũi
và răng miệng.
Ghi nhận hiệu quả điều trị của từng nhóm bệnh.
2
Tai trong
Tai trong là hốc xương có hình dáng phức tạp gồm những ống bán khuyên, bộ
máy tiền đình và ốc tai, có chức năng tiếp nhận âm thanh, chiều hướng và trạng thái
thăng bằng của cơ thể.
2.1.2. Các bệnh thường gặp trên tai chó
2.1.2.1 Viêm tai ngoài
2.1.2.1.1 Căn bệnh học
Viêm tai ngoài là một tình trạng bệnh lý đa nguyên nhân, có thể chia làm 3 nhóm
nguyên nhân: nguyên nhân mở đường, nguyên nhân khởi phát và nguyên nhân duy
trì; trong đó nguyên nhân mở đường không trực tiếp gây viêm tai nhưng làm chó có
nguy cơ mắc bệnh cao; nguyên nhân khởi phát trực tiếp gây bệnh viêm tai; nguyên
nhân duy trì làm bệnh viêm tai kéo dài, khó điều trị và tái phát nhanh nếu bị bỏ qua.
Nguyên nhân mở đường
Hình dạng ngoài của tai: những giống chó tai rũ, dài hay lông quá nhiều ở trong
bề mặt của tai đều làm cản trở sự lưu thông của không khí trong tai từ đó gia tăng ẩm
độ tại chổ, tạo điều kiện phát triển cho vi khuẩn và nấm. Tương tự kênh tai ngang dài
và hẹp dốc xuống phía dưới làm chất tiết dễ bị ứ đọng gây viêm tai.
Vật trở ngại: làm ảnh hưởng sự lưu thông của không khí trong tai và dẫn đến
nhiễm trùng. Các khối u có thể thấy trong tai chó là u tuyến bã nhờn lành tính, ác
tính; u sụn lành tính, ác tính và khối u tế bào Mast.
4
Môi trường trong tai: khí hậu quá nóng và ẩm hay thói quen của thú thích tắm
thường xuyên đều tăng độ ẩm của tai, tạo điều kiện cho vi khuẩn và nấm gây nhiễm
trùng.
Những liệu pháp điều trị không đúng: khi cắt lông không cẩn thận, súc rữa tai quá
mạnh làm tổn thương tai chó và tạo điều kiện cho quá trình nhiễm. Sử dụng kháng
sinh và chất sát trùng tùy tiện cũng là yếu tố mở đường cho bệnh viêm tai.
Dựa vào biểu hiện bên ngoài của thú như: ngứa tai, đỏ loa tai, đau tai, chảy dịch
mủ, mùi và màu khác thường với ráy tai.
Dùng kính soi tai để kiểm tra kênh tai dọc và kênh tai ngang có thể thấy tai đỏ
sưng, dịch mủ, ráy vàng hoặc nâu đọng trong kênh tai, ngoại vật.
Kiểm tra tế bào học:dùng bông gòn để lấy dịch tiết của tai, nhuộm màu để kiểm
tra sự hiện diện sự có mặt của ký sinh trùng, vi khuẩn, nấm gây bệnh cho thú dưới
kính hiển vi.
Chụp X – quang khi nghi ngờ viêm tai giữa.
Nuôi cấy vi khuẩn và thử kháng sinh đồ ít được sử dụng, nhưng nên áp dụng trong
những trường hợp viêm mãn tái đi tái lại và liệu pháp điều trị không hiệu quả
Làm test xét nghiệm khi nghi ngờ sự thay đổi hormone, dị ứng.
2.1.2.1.3. Điều trị bệnh
Làm sạch tai: loại bỏ ngoại vật và đối tượng gây viêm. Loại bỏ chất thừa trong tai
ráy tay, chất cặn bả, dịch chất. Rửa sạch tai với nước muối sinh lý hoặc nước rữa tai.
Điều trị cục bộ với dược phẩm dạng dầu hay dạng kem được nhỏ vào trong kênh
tai như: thuốc kháng sinh, kháng viêm, thuốc chống nấm, thuốc chống ký sinh trùng
được sử dụng phụ thuộc vào nguyên nhân gây bệnh.
Điều trị toàn thân khi bị viêm tai ngoài có nguy cơ lan sang viêm tai giữa.
Khi viêm tai ngoài ở thể mãn tính nặng chỉ điều trị thông thường một mình với
thuốc thì dường như không đem lại hiệu quả, liệu pháp duy nhất là phẩu thuật.
2.1.2.2 Viêm tai giữa và tai trong
Tai giữa và tai trong được ngăn bởi màng nhĩ với tai ngoài, không thể nhìn thấy
được tai giữa hoặc tai trong trừ khi màng nhĩ bị rách. Sự nhiễm trùng hoặc có vấn đề
tai giữa, tai trong cần phát hiện sớm và điều trị để ngăn ngừa sự tổn hại lâu dài: gây
điếc, làm mất thăng bằng, hoặc các vấn đề thần kinh.
6
Nguyên nhân
Điều trị: trường hợp nhẹ dùng syringe hút máu ra, sau đó dùng băng keo dán ép
hai mặt tai vào nhau thật chặc trong vòng 7 ngày, cho chó đeo vòng cổ Elizabeth.
Trường hợp bướu lớn lấy dao mổ rạch một đường nhỏ cho máu chảy ra ngoài, dùng
tay nặn bóp nhẹ cho máu chảy ra hết, sau đó dùng chỉ được gắn ống dẫn, tiến hành
may những đường may ép để 2 lớp da sát lại với nhau va chăm sóc hậu phẫu, sau 7
ngày cắt chỉ.
8
2.2 Tổng quan về da ( theo Lâm Thị Thu Hương, 2005)
Hình 2.2 Cấu tạo của da
Nguồn dog-name=da.aspx
2.2.1 Sơ lược cấu tạo và chức năng của da chó
Da là một bộ phận rộng nhất của cơ thể, là một lớp màng sinh học, dai và co giãn
tốt. Da có cấu tạo tuyệt vời, nó có thể giúp bảo vệ cơ thể khỏi gió, mưa, tia cực tím,
thay đổi nhiệt độ, chống thấm nước, chống sự xâm nhiễm vi trùng gây bệnh, điều hòa
thân nhiệt, bài tiết các chất độc trong cơ thể và tạo sinh tố D giúp cho sự tăng trưởng
của xương.
Da gồm có ba lớp: thượng bì, bì và hạ bì, ngoài ra còn có những tuyến phụ thuộc
da và sản phẩm của da.
2.2.1.1 Thượng bì
Có 4 lớp từ trên xuống dưới:
Lớp sừng: là những biểu mô lát kép hóa sừng mạnh, xếp lớp như mái ngói lợp nhà
và khi tế bào này tróc ra khỏi cơ thể thì liên tục được thay mới bởi 1 lớp mâm cơ bản
bên trong hạ bì. Lớp sừng tiếp xúc với môi trường bên ngoài, bảo vệ cơ thể, bề dày
lớp này thường thay đổi tùy nơi,dày ở những chổ không có lông và có sự cọ sát mạnh.
Tuyến mồ hôi: là những tuyến ống nằm trong sâu lớp bì, ở chó tuyến cuộn lại
thành bó và chất tiết của tuyến này tạo mùi đặc trưng cho từng cá thể.
Tuyến sữa: là loại tuyến mồ hôi biến đổi để thích hợp với chức phận tạo sữa,
tuyến này chỉ phát triển mạnh ở thú cái.
10
2.2.1.5. Sản phẩm của da
Lông là dạng biến dạng của lớp thượng bì, ăn sâu vào hạ bì, lông có hình trụ dài,
cắm sâu vào trong da, lông gồm 2 phần thân lông và chân lông. Ở chó lông được thay
2 năm 1 lần.
Móng được phát triển từ da, mô liên kết và xương ở vùng đốt cuối cùng của chi.
2.2.2 Các bệnh thường gặp trên da chó (trích dẫn Nguyễn Thị Kiều Nga, 2008)
Sơ lược về bệnh da chó
Bệnh da chó không gây tử vong cao nhưng rất phức tạp và gây khó chịu làm ảnh
hưởng đến hoạt động bình thường của chó và môi trường xung quanh.
Nguyên nhân chính do thức ăn và ký sinh trùng ngoài da: ve, ghẻ, bọ chét, rối loạn
hormon, suy giảm miễn dịch, do di truyền.
Triệu chứng: rụng lông, đỏ tấy, nếu nhiễm trùng kế phát thì chảy nước dịch trong
hoặc mủ vàng, da dày, loét sần sùi. Bệnh kéo dài, da dày lên, ngứa gãi, bốc mồ hôi ,
thần kinh không ổn định.
Vì vậy để con thú có bộ lông bóng mượt cần bắt đầu với chế độ dinh dưỡng đầy
đủ.
Kiểm tra lông, da thú thường xuyên để phát hiện những dấu hiệu bất thường. Giữ
môi trường sạch sẽ. Cách ly chó nhiễm ký sinh trùng, nấm với chó khỏe.
2.2.2.1. Viêm da do Demodex
Cách sinh bệnh
Demodex ký sinh ở tuyến nhờn, bao lông của chó gây rụng lông sau đó gây viêm
sung huyết. Nếu viêm tái phát có mụn mủ hoặc ổ mủ, ký chủ có thể nhiễm độc máu,
dinh dưỡng. Con cái đào rãnh trong biểu bì đẻ trứng và luôn hướng về phía trước, vì
gai lưng nhọn luôn hướng về phía sau nên không lùi được. Chúng kích thích gây ngứa
liên tục, chỗ gãi bị nhiễm trùng, rụng lông và da nhăn nheo, bốc mùi hôi thối và trúng
độc dẫn đến chết. Sacoptes lây truyền qua tiếp xúc hoặc gián tiếp.
Triệu chứng và bệnh tích
Sarcoptes thường gây bệnh bắt đầu gây bệnh ở đầu, quanh mắt, bụng và gốc đuôi.
Có ba triệu chứng.
12
Ngứa: Sarcoptes tiết ra độc tố, nước bọt và các chất bài tiết làm con vật ngứa
dữ dội, hay cào gãi, cắn vào chổ ngứa.
Rụng lông: do viêm bao lông, do cọ sát làm rụng lông, rụng từng đám nhỏ sau
đó lan rộng xung quanh.
Da đóng vảy: chổ ngứa xuất hiện mụn nước, do cọ sát, gãi mụn vỡ chảy dịch
rồi khô lại tạo vẩy dính chặt vào lông da, để lâu da đóng vảy dày nhăn nheo có
mùi hôi thối. Tổn thương nặng nếu không điều trị dể nhiễm trùng huyết có thể
chết.
Điều trị
Dùng amitraz, lidan để tắm.
Dùng ivermectin chích dưới da rất hiệu quả.
Nếu viêm nhiễm kế phát dùng kháng sinh cloramphenicol, lincomycin kết hợp
kháng viêm có thể.
2.2.2.3 Viêm da do nấm
Cách sinh bệnh
Ở chó có hai giống nấm thực sự gây bệnh trên da: Trichophyton,
Microsporium. Nấm da rất ưa keratin nên thường giới hạn ở lớp sừng và vùng lân
cận như: lông, móng. Nấm sinh sản bào tử đốt nên bệnh tích lây lan do hình thành
khuẩn lạc mới. Bệnh có biểu hiện gãy lông thành từng đám, da có vảy và lâu ngày
Dùng thuốc bôi ngoài da khi bệnh nhẹ: povidone iodine, thương phẩm nizoral.
Dùng kháng sinh kết hợp kháng viêm khi bị phụ nhiễm có mủ.
2.2.2.4 Dị ứng
Dị ứng là phản ứng quá mức của cơ thể đối với các tác nhân mà nó xem là có
hại cho cơ thể.
Khi dị ứng vào cơ thể phản ứng với kháng thể làm tế bào phóng thích ra
histamin và các hóa chất độc khác để chống lại các dị ứng nguyên, gây ra biểu hiện
tình trạng dị ứng của cơ thể. Nếu histamin được phóng thích ở da gây nổi mề đay, sẩn
ngứa, dấu hiệu thấy rõ nhất là ở góc tai của thú, trường hợp nặng có thể chết.
Nguyên nhân gây dị ứng ở da do tiếp xúc, dị ứng thức ăn, dị ứng thuốc, dị ứng
côn trùng đốt. Dị ứng xảy ra ở bất kì lứa tuổi nào của chó.
14
Việc xác định dị ứng nguyên thường rất khó. Do đó ta phải biết trước con vật
đã tiếp xúc với cái gì và chú ý đến nơi ở, đồ ăn, nước uống, thói quen… của
chúng.
Liệu pháp điều trị thường theo triệu chứng: sử dụng dexamethason, thuốc kháng
histamin, vitamin C… Có thể dùng các loại thuốc an thần như: acepromazine,
prozine… Tránh tiếp xúc với những dị ứng nguyên gây bệnh để phòng ngừa.
2.2.2.5 Tổn thương da do cơ học
Có rất nhiều nguyên nhân: do cắn lộn nhau khi dành thức ăn, dành con cái, va
chạm vào vật nhọn sắc gây rách da, mất da hoặc do người đánh… Chó mới sinh ra
cũng có thể bị chó mẹ cắn gây tổn thương da.
Vì vậy theo trường hợp và mức độ của vết thương để có liệu pháp điều trị phù
hợp như: can thiệp ngoại khoa, dược phẩm hay dùng povidone iodine, dầu mù u bôi
ngoài da.
2.2.2.6 Các bệnh khác
Bao gồm viêm da không rõ nguyên nhân: có thể là do thú quá già làm thay
chống nhiễm trùng và có khả năng kiểm soát viêm trong giác mạc. Nội mô giữ
cho các giác mạc trong suốt và duy trì sự cân bằng lưu lượng nước từ mắt đến
giác mạc, một khi hình thành các tế bào của lớp này không thể tái sinh vì thế
tổn hại hoặc bệnh tật đối với mô này có thể gây thiệt hại thị lực vĩnh viễn. Lớp
cuối cùng được gọi là màng Descemet rất dai và đàn hồi.
2.3.1.2 Áo giữa của mắt
Gồm 3 phần: màng mạch chiếm phần lớn diện tích, phần ở trước nhãn cầu dày
tạo nên thể mi, một phần trùm lên phía trước thủy tinh thể tạo thành mống mắt.
Màng mạch là lớp thứ hai của mắt được liên kết với màng cứng có thể di
chuyển được, bao gồm những mạch máu, những sợi đàn hồi và tế bào sắc tố. Lớp
này có vai trò là nguồn cung cấp máu nuôi dưỡng mắt và điều tiết áp suất trong
mắt.
Thể mi là một bộ phận cơ trơn mà nó cố định ôm lấy thủy tinh thể, có nhiều
đám rối thần kinh giao cảm và phó giao cảm, thể mi có thể co lạ và giãn ra để điều
chỉnh kích cỡ của thủy tinh thể ở trung tâm mắt,thể mi còn sản xuất thủy dịch và
thoát thủy dịch.
Mống mắt nằm dưới giác mạc, có dạng chóp cụt dẹt. Mông mắt là một phần
tạo màu của mắt, màu của mống mắt được cho bởi màu của mô liên kết và tế bào
sắc tố, quá nhiều sắc tố làm mắt màu xanh và nhiều hơn nữa làm mắt màu nâu.
Mống mắt có hai cơ: cơ giản đồng tử làm mống mắt nhỏ hơn và đồng tử được mở
rộng hơn từ đó ánh sáng vào mắt nhiều hơn; cơ co đồng tử làm mống mắt lớn hơn
và đồng tử nhỏ hơn, ánh sáng vào mắt ít hơn. Đồng tử có thể thay đổi kích thước từ
2mm đến 8 mm để điều tiết số lượng ánh sáng lọt vào mắt.
2.3.1.3 Áo trong của mắt
17
Võng mạc là lớp trong cùng của mắt. Từ trong ra ngoài, vách võng mạc gồm:
Tế bào võng mạc là loại biểu mô sắc tố, nó có vai trò tiếp nhận kích thích và