BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
PHAN THỊ TỐ UYÊN
PHÁP LUẬT VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH
TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
Chuyên ngành: Luật Hành chính
Mã số: 603820
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. NGUYỄN VĂN QUANG
HÀ NỘI, 2011
LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tôi xin chân thành cảm ơn thầy giáo TS. Nguyễn Văn
Quang, Trưởng Tiểu ban chuyên ngành Luật Hành chính, Giảng viên khoa
Hành chính - Nhà nước, trường Đại học Luật Hà Nội, người đã trực tiếp
hướng dẫn, tận tình chỉ bảo, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này.
Tôi cũng gửi lời cảm ơn tới các thầy, cô giáo Khoa Hành chính - Nhà
nước, trường Đại học Luật Hà Nội đã nhiệt tình giảng dạy, truyền đạt
những kiến thức quý báu cho tôi và chân thành cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp
đã giúp đỡ tôi hoàn thành bản luận văn này.
PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG .......... 8
1.1
Vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường ........................ 8
1.1.1
Định nghĩa vi phạm hành chính ............................................................. 8
1.1.2
Các yếu tố cấu thành vi phạm hành chính ........................................... 10
1.1.3
Đặc thù của vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường .. 13
1.2
Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường ........ 15
1.2.1
Khái niệm xử phạt vi phạm hành chính ............................................... 15
1.2.2
Đặc thù của xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi
trường .................................................................................................... 17
Thực tiễn áp dụng pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong
lĩnh vực bảo vệ môi trường ................................................................................. 39
2.2.1
Tình hình vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường...... 39
2.2.2
Tình hình thực hiện các hoạt động xử phạt vi phạm hành chính ....... 44
iii
Chương 3:HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH
NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐẤU TRANH PHÒNG, CHỐNG VI PHẠM
HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG......................50
3.1
Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính
trong lĩnh vực bảo vệ môi trường ....................................................................... 50
3.2
Phương hướng hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính
trong lĩnh vực bảo vệ môi trường ....................................................................... 53
3.3
càng nhanh. Đô thị hóa và công nghiệp hóa là biểu hiện của sự phát triển kinh tế
song cũng đã và đang gây ra ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.
Do vậy, BVMT gắn liền với sự phát triển bền vững đã trở thành một nội
dung quan trọng trong các chiến lược và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của các
quốc gia. Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội năm 2001 - 2010 được Đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng thông qua đã khẳng định quan điểm phát triển
đất nước là “Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với
thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường”. Chiến lược này tiếp tục
được Đảng ta khẳng định trong các văn kiện quan trọng của mình.
Gần đây nhất, Báo cáo của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI cũng
nêu rõ: “Bảo vệ môi trường là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, toàn xã hội và
của mọi công dân. Kết hợp chặt chẽ giữa kiểm soát, ngăn ngừa, khắc phục ô nhiễm
với khôi phục và bảo vệ môi trường sinh thái…”. Trong Chiến lược phát triển kinh
tế - xã hội 2011 - 2020, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta là “hoàn thiện hệ thống
luật pháp về bảo vệ môi trường; xây dựng chế tài đủ mạnh để ngăn ngừa, xử lý các
hành vi vi phạm”.
BVMT bằng pháp luật là một định hướng cơ bản của hoạt động BVMT ở các
quốc gia trên toàn thế giới. Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này, Nhà
nước ta rất chú trọng công tác xây dựng và ban hành các văn bản quy phạm pháp
luật và chính sách về BVMT. Hoạt động BVMT của nước ta tuy bắt đầu khá muộn
2
so với nhiều nước nhưng đã đạt được những kết quả to lớn trong lĩnh vực pháp luật
về BVMT. Bằng pháp luật, Nhà nước ta đã từng bước điều chỉnh các hành vi của cá
nhân, tổ chức trong xã hội hướng đến mục tiêu BVMT, ngăn chặn các hành vi gây ô
nhiễm, suy thoái và sự cố môi trường.
Trên thực tế, đã có khá nhiều nhiều văn bản quy phạm pháp luật được Nhà
nước ban hành nhằm mục tiêu BVMT trong đó phải kể đến Luật BVMT 2005; Pháp
vốn đầu tư của Nhà nước cùng với những sơ hở về pháp luật trong lĩnh vực BVMT
của Việt Nam, nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước đã đầu tư các dự án sản xuất
kinh doanh, nhưng không chú trọng việc xây dựng các hệ thống xử lý chất thải, nhất
là các nhà máy, cơ sở sản xuất trong khu công nghiệp đang trong giai đoạn hoàn
thiện và các cơ sở nằm trên lưu vực sông. Đáng lo ngại là các doanh nghiệp tuy có
hệ thống xử lý chất thải, nhưng luôn cố tình vi phạm, thủ đoạn tinh vi, lén lút để xả
thải ra môi trường như xây dựng hệ thống bí mật, phức tạp, được ngụy trang bằng
hệ thống đạt tiêu chuẩn nên rất khó phát hiện, điển hình vụ Công ty Vedan Việt
Nam, Công ty Tung Kuang, Công ty TNHH Miwon, Công ty thuộc da Hào Dương,
Công ty giấy Việt Trì…
Vì vậy, để tăng cường hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống các vi phạm
hành chính trong lĩnh vực BVMT việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về xử phạt vi
phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT theo hướng thống nhất, đồng bộ, hợp lý và
khả thi là một đòi hỏi khách quan, là yêu cầu cấp thiết hiện nay.
Xuất phát từ nguy cơ môi trường của toàn cầu, từ vai trò của pháp luật trong
việc BVMT, từ thực tiễn quy định hiện hành của pháp luật về xử phạt vi phạm hành
chính trong lĩnh vực BVMT, cũng như thực tiễn nghiên cứu pháp lý về vấn đề này,
tôi đã chọn đề tài “Pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ
môi trường” làm đề tài luận văn thạc sỹ của mình với mong muốn góp một phần
khiêm tốn nhằm khắc phục những hạn chế của pháp luật về xử phạt vi phạm hành
chính trong lĩnh vực BVMT, nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống vi
phạm pháp luật về BVMT.
2. Mục đích của luận văn
Mục đích của luận văn là nghiên cứu một số vấn đề lý luận cơ bản về pháp
luật xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT, trên cơ sở đó đánh giá thực
4
trạng pháp luật và thực tiễn tổ chức thực hiện pháp luật trong lĩnh vực này nhằm tìm
5
Nội (2009) nghiên cứu thực trạng pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực
giao thông đường bộ ở Việt Nam từ đó đưa ra những giải pháp hoàn thiện pháp luật
trong lĩnh vực này.
Ngoài ra, còn có các bài viết đăng tải trên Tạp chí luật học như: “Thủ tục xử
phạt vi phạm hành chính” của tác giả Bùi Thị Đào; “Hệ thống chế tài xử phạt vi
phạm hành chính - Những bất cập, hạn chế và phương hướng hoàn thiện” của tác
giả Bùi Xuân Đức; “Một số vấn đề hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành
chính” của tác giả Lê Vương Long; “Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính Thực trạng quy định, thực tiễn áp dụng và hướng hoàn thiện” của tác giả Trần Minh
Hương...
Trong các công trình nghiên cứu trên đây, trên cơ sở phân tích lý luận và
thực tiễn có liên quan, các tác giả chỉ giới thiệu, phân tích, đánh giá về pháp luật và
thực tiễn hoạt động xử phạt vi phạm hành chính nói chung hoặc ở một số lĩnh vực
quản lý nhà nước khác chứ không đề cập chuyên sâu về vấn đề xử phạt vi phạm
hành chính trong lĩnh vực BVMT. Do vậy, luận văn sẽ tập trung nghiên cứu vấn đề
này nhằm cung cấp các luận cứ khoa học và thực tiễn cho việc hoàn thiện pháp luật
xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT, nâng cao hiệu quả công tác đấu
tranh phòng, chống vi phạm trong lĩnh vực BVMT.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: các quy định pháp luật hiện hành và thực tiễn thi
hành pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT; và các quan
điểm khoa học có liên quan đến đề tài nghiên cứu.
Phạm vi nghiên cứu: BVMT là nhiệm vụ vừa phức tạp, vừa cấp bách, có tính
đa ngành và liên vùng rất cao. Vì vậy, vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT vô
cùng phong phú, đa dạng và công tác xử lý cũng cực kỳ khó khăn và phức tạp, nhất
là trong điều kiện đất nước ta đang xây dựng nền kinh tế thị trường và hội nhập
quốc tế như hiện nay. Do đó, trong luận văn này, tôi chỉ tập trung chủ yếu vào các
quy định của Luật BVMT năm 2005; Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm
2002 và Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành
Luận văn không những chỉ rõ được những bất cập trong các quy định của
pháp luật mà còn tìm ra được những hạn chế trong thực tiễn áp dụng pháp luật về
xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT, từ đó đưa ra những giải pháp có
7
thể là ý kiến đóng góp cho việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về xử phạt vi phạm
hành chính trong lĩnh vực BVMT và nâng cao hiệu quả của công tác xử phạt vi
phạm hành chính trên thực tế.
7. Cơ cấu của luận văn
Để giải quyết các yêu cầu đặt ra, ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục
tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:
Chương I.
Một số vấn đề lý luận về pháp luật xử phạt vi phạm hành
chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
Chương II.
Pháp luật hiện hành và thực tiễn áp dụng pháp luật về xử
phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
Chương III.
Hoàn thiện pháp luật xử phạt vi phạm hành chính nhằm
nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống vi phạm hành
chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
người vi phạm...
Để xác định rõ tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của loại vi phạm
hành chính, đặc biệt là xác định ranh giới giữa vi phạm hành chính và tội phạm, tạo
cơ sở cần thiết để quy định, xử lý cũng như đấu tranh phòng, chống có hiệu quả loại
9
vi phạm này, việc đưa ra định nghĩa vi phạm hành chính trong pháp luật thực định
thực sự cần thiết cho nhận thức pháp luật cũng như giúp cho quá trình áp dụng pháp
luật để xử lý các vi phạm hành chính trong thực tế. Do vậy, định nghĩa về vi phạm
hành chính cần phản ánh được những dấu hiệu đặc trưng thể hiện đầy đủ tính nguy
hiểm cho xã hội của loại vi phạm này đồng thời cũng phải thể hiện được sự khác
biệt giữa chúng với tội phạm.
Vi phạm hành chính được định nghĩa lần đầu tiên trong Pháp lệnh Xử phạt vi
phạm hành chính năm 1989, theo đó “vi phạm hành chính là hành vi do cá nhân, tổ
chức thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm các quy tắc quản lý nhà nước
mà không phải là tội phạm hình sự và theo quy định của pháp luật phải bị xử lý
hành chính”. Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2002 (sửa đổi, bổ sung năm
2008) không trực tiếp đưa ra định nghĩa về vi phạm hành chính mà thông qua quy
định về xử phạt vi phạm hành chính các nhà làm luật đã gián tiếp nêu ra định nghĩa
này. Khoản 2 Điều 1, Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính 2002 quy định “xử phạt
vi phạm hành chính được áp dụng đối với cá nhân, cơ quan, tổ chức có hành vi cố ý
hoặc vô ý vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải
là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính”.
Tuy có sự khác nhau về cách diễn đạt, các quan niệm về vi phạm hành chính
nêu trên đều thống nhất về những dấu hiệu bản chất của loại vi phạm pháp luật này.
Những dấu hiệu bản chất này giúp chúng ta đưa ra định nghĩa chung về vi phạm
hành chính, theo đó, vi phạm hành chính là hành vi vi phạm pháp luật về quản lý
nhà nước của cá nhân, tổ chức, có lỗi, không phải là tội phạm và theo quy định của
hệ nhân quả, theo đó, hành vi vi phạm là tiền đề xuất hiện của hậu quả mà vi phạm
này gây ra. Cần lưu ý rằng hậu quả và thiệt hại xảy ra không đồng nhất với nhau.
Mặt khách quan của đa phần các cấu thành vi phạm hành chính không bắt buộc phải
có dấu hiệu thiệt hại. Trong một số trường hợp thiệt hại là dấu hiệu bắt buộc và
trường hợp này nhất thiết phải xác định mối quan hệ giữa hành vi và thiệt hại mà nó
gây ra.
Ngoài ra, mặt khách quan của vi phạm hành chính cũng có thể có một số yếu
tố khác như thời gian, địa điểm, công cụ, phương tiện thực hiện hành vi vi phạm
hành chính. Những dấu hiệu này mặc dù không phổ biến nhưng trong một số trường
hợp đây lại là dấu hiệu bắt buộc để xác định hành vi đó có phải là vi phạm hành
chính hay không.
11
Mặt chủ quan
Mặt chủ quan của vi phạm hành chính là dấu hiệu bên trong của vi phạm
hành chính, bao gồm các yếu tố lỗi, mục đích và động cơ, trong đó, lỗi là dấu hiệu
cơ bản trong cấu thành của mọi loại vi phạm hành chính. Lỗi là thái độ tâm lý của
người vi phạm, biểu hiện thái độ của người đó đối với hành vi vi phạm pháp luật
của mình và được phân chia thành hai hình thức, lỗi cố ý và lỗi vô ý.
Lỗi cố ý trong vi phạm hành chính thể hiện ở chỗ người thực hiện hành vi vi
phạm nhận thức được tính chất hành vi của mình nhưng vẫn thực hiện hoặc nhận
thức được nghĩa vụ pháp lý bắt buộc nhưng lại có ý thức xem thường, mặc dù họ
hoàn toàn có khả năng xử sự theo đúng nghĩa vụ đó.
Lỗi vô ý trong vi phạm hành chính thể hiện ở chỗ người thực hiện hành vi vi
phạm không biết và không nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật, mặc
dù cần phải biết và nhận thức được điều đó, hoặc trường hợp một người thực hiện
hành vi trái pháp luật do vô tình hoặc thiếu thận trọng mà không thực hiện những
nghĩa vụ pháp lý bắt buộc dù họ có khả năng và điều kiện xử sự theo đúng nghĩa vụ
phần lớn các vi phạm hành chính.
Khách thể
Khách thể của vi phạm hành chính là những quan hệ xã hội được pháp luật
hành chính bảo vệ và bị các vi phạm hành chính xâm hại. Vi phạm hành chính là đã
xâm hại đến trật tự quản lý hành chính nhà nước được pháp luật hành chính bảo vệ.
Vì vậy, khách thể của vi phạm hành chính là trật tự quản lý nhà nước trên các lĩnh
vực khác nhau của đời sống xã hội như trật tự an toàn giao thông, an ninh trật tự, an
toàn xã hội, trật tự quản lý nhà nước trong lĩnh vực BVMT… được pháp luật quy
định và bảo vệ.
Chủ thể
Chủ thể thực hiện hành vi vi phạm hành chính là các tổ chức, cá nhân có
năng lực chịu trách nhiệm hành chính theo quy định của pháp luật hành chính.
Cá nhân là chủ thể vi phạm hành chính bao gồm công dân Việt Nam và
người nước ngoài (trừ những người được hưởng quyền ưu đãi, miễn trừ ngoại giao
và lãnh sự) mà thực hiện hành vi vi phạm hành chính trên lãnh thổ Việt Nam, vùng
đặc quyền kinh tế, vùng tiếp giáp lãnh hải. Những người này phải có năng lực trách
nhiệm hành chính (tức là không mắc các bệnh tâm thần hoặc các bệnh khác đến
13
mức mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình) và đạt độ
tuổi nhất định theo quy định của pháp luật (từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách
nhiệm hành chính về mọi hành vi vi phạm hành chính, từ đủ 14 tuổi đến dưới 16
tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hành chính đối với hành vi vi phạm do cố ý).
Chủ thể vi phạm hành chính là tổ chức bao gồm: các cơ quan nhà nước, tổ
chức xã hội, các đơn vị kinh tế, các đơn vị thuộc lực lượng vũ trang nhân dân và các
tổ chức khác có tư cách pháp nhân theo quy định của pháp luật.
Cá nhân, tổ chức nước ngoài cũng là chủ thể vi phạm hành chính theo quy
định của pháp luật Việt Nam, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết
phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý hóa chất nguy hiểm; Nghị định số
31/2010/NĐ-CP ngày 29/3/2010 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh
vực thủy sản; Nghị định số 145/2006/NĐ-CP ngày 30/11/2006 quy định xử phạt vi
phạm hành chính trong lĩnh vực dầu khí; Nghị định số 99/2009/NĐ-CP ngày
02/11/2009 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng
và quản lý lâm sản…
Thứ hai, vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT phần lớn đều liên quan
đến các quy định mang tính kỹ thuật và đặc trưng cho việc quản lý và BVMT.
Khi quy định vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT, người ta thường sử
dụng “kết cấu dẫn chiếu”. Để xác định vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT
phải xác định xem hành vi đó có vi phạm các quy định về khai thác, sử dụng nguồn
tài nguyên thiên nhiên và BVMT hay không. Những quy định này thường nằm rải
rác ở những văn bản pháp luật chuyên ngành khác nhau. Ví dụ, muốn khẳng định
hành vi vi phạm về thải khí, bụi theo Điều 11 Nghị định số 117/2009/NĐ-CP thì
cần căn cứ trên cơ sở giới hạn tối đa được phép thải các chất độc hại và không khí.
Giới hạn này được quy định cụ thể trong Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khí thải
công nghiệp đối với một số chất hữu cơ (QCVN 20:2009/BTNMT) hay trong Quy
chuẩn kỹ thuật quốc gia về khí thải lò đốt chất thải rắn y tế (QCVN
02:2008/BTNMT) do Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành.
Thứ ba, tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của vi phạm hành chính
trong lĩnh vực BVMT phụ thuộc chủ yếu vào những thiệt hại mà hành vi đó gây ra
cho môi trường, sức khỏe và tính mạng của con người nhưng việc xác định những
thiệt hại này không phải là công việc đơn giản. Lý luận cũng như thực tiễn cho thấy
việc xác định các thiệt hại về môi trường gặp rất nhiều khó khăn và điều này xuất
phát từ nhiều lý do. Trước hết, thiệt hại do môi trường gây ra rất khó chứng minh
đầy đủ. Do môi trường được cấu thành bởi rất nhiều thành phần khác nhau, có mối
15
hành chính đối với cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính. Nói cách khác, thực chất
của xử phạt vi phạm hành chính là việc áp dụng các chế tài xử phạt hành chính và
các biện pháp cưỡng chế hành chính khác do cơ quan nhà nước, người có thẩm
quyền tiến hành đối với cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính theo quy định của
pháp luật.
16
Xử phạt vi phạm hành chính là hoạt động cưỡng chế thể hiện thái độ của Nhà
nước đối với cá nhân, tổ chức có vi phạm hành chính được thực hiện bởi chủ thể có
thẩm quyền. Người có thẩm quyền xử phạt sẽ là người thay mặt Nhà nước, sử dụng
quyền lực nhà nước quyết định áp dụng biện pháp xử phạt thích hợp với chủ thể
một vi phạm trên thực tế. Như vậy, xử phạt hành chính chỉ do các cơ quan nhà
nước, người có thẩm quyền trong các cơ quan nhà nước được Nhà nước trao thẩm
quyền xử phạt hành chính tiến hành.
Pháp luật của nhiều nước hạn chế số lượng cơ quan có thẩm quyền xử phạt
vì cho rằng hoạt động này liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ
chức và chỉ Tòa án mới là cơ quan có những phán quyết có ảnh hưởng đến quyền và
lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân có liên quan. Tuy nhiên, ở Việt Nam hiện
nay, để tạo điều kiện thuận lợi cho việc xử phạt vi phạm hành chính được nhanh
chóng, kịp thời và hiệu quả, pháp luật quy định nhiều chủ thể có thẩm quyền xử
phạt vi phạm hành chính.
Xử phạt vi phạm hành chính là loại hoạt động quản lý đặc biệt bao gồm một
loạt các hành vi cụ thể liên quan mật thiết với nhau như xem xét, đánh giá tính chất
mức độ vi phạm, cân nhắc hình thức và mức độ xử phạt và kết quả cuối cùng của
hoạt động này thể hiện ở nội dung của các quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
Khi được ban hành, quyết định xử phạt vi phạm hành chính sẽ làm các tổ chức, cá
nhân bị xử phạt bị áp dụng các biện pháp chế tài xử phạt cũng như các biện pháp
cưỡng chế khác theo quy định của pháp luật. Việc bị buộc thực hiện các biện pháp
BVMT là việc người có thẩm quyền áp dụng các hình thức, biện pháp xử phạt và
biện pháp cưỡng chế khác đối với tổ chức, cá nhân vi phạm hành chính trong lĩnh
vực môi trường theo thủ tục do pháp luật quy định.
1.2.2
Đặc thù của xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi
trường
Ngoài những đặc điểm chung giống như xử phạt vi phạm hành chính trong
các lĩnh vực khác, xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT có những đặc
thù gắn liền với những đặc thù của loại vi phạm này như đã phân tích ở phần trên,
cụ thể là:
Thứ nhất, do vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT phần lớn đều gắn với
các quy định mang tính kỹ thuật và đặc trưng cho việc quản lý và BVMT nên để có
18
thể xử phạt đúng đắn loại vi phạm này cần phải vận dụng chính xác các quy phạm
pháp luật môi trường, trong đó đặc biệt là các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi
trường. Xuất phát từ điều này, khi xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực
BVMT hầu như đều phải thực hiện thủ tục giám định chất lượng môi trường. Đây là
một hoạt động mang tính nghiệp vụ chuyên môn kỹ thuật cao nhưng lại là cơ sở để
xác định vi phạm hành chính về BVMT và đánh giá tính chất, mức độ vi phạm gây
ra. Ý kiến chuyên môn này của bộ phận giám định, vì thế, có ý nghĩa hết sức quan
trọng.
Cũng chính từ đặc thù nói trên mà hoạt động xử phạt vi phạm hành chính
trong lĩnh vực BVMT hầu hết được thực hiện trên cơ sở tiến hành các đợt kiểm tra,
thanh tra về môi trường bao gồm, thanh tra đột xuất, thanh tra định kỳ theo quý,
hoặc năm. Đây là một điểm đặc trưng của xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh
BVMT của mọi người, việc áp dụng những biện pháp chế tài có tính chất cứng rắn
như chế tài hình sự đối với các hành vi xâm hại môi trường là điều cần được quan
tâm. Vì vậy, nhìn chung dấu hiệu tái phạm thông thường được hiểu là cá nhân hay
tổ chức đó đã bị xử phạt hành chính đối với hành vi xâm hại môi trường nói chung
mà vẫn tiếp tục vi phạm trong lĩnh vực BVMT chứ không nhất thiết phải là những
hành vi vi phạm cùng loại.
Về dấu hiệu “mức độ thiệt hại trực tiếp của hành vi”: Đây là tiêu chí mang
tính chất tương đối, rất khó xác định chính xác vì phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác
như: tính chất của hành vi, quy mô của hành vi, thiệt hại vật chất, khả năng khắc
phục những thiệt hại cho môi trường… Đặc biệt, như đã nêu ở phần trên, trong lĩnh
vực môi trường, việc đánh giá mức độ của thiệt hại có những đặc thù riêng. Do đó
sẽ không hợp lý nếu chỉ đơn giản áp dụng những quy định của pháp luật xác định
mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi vi phạm để khẳng định hành vi vi phạm
đó là vi phạm hành chính hay tội phạm về môi trường mà cần xem xét, đánh giá
tổng hợp nhiều yếu tố có liên quan.
1.3
Yêu cầu đối với pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh
vực bảo vệ môi trường
Trong đời sống xã hội, pháp luật có vai trò rất quan trọng, nó là phương tiện
không thể thiếu bảo đảm cho sự tồn tại, vận hành của xã hội. Pháp luật là cơ sở để
20
thiết lập, củng cố và tăng cường quyền lực nhà nước, là phương tiện để Nhà nước
quản lý kinh tế - xã hội.
Pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT là tổng thể
các quy phạm pháp luật do các chủ thể có thẩm quyền ban hành quy định về vi