BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ THANH TUYÊN
DI CHÚC CHUNG CỦA VỢ, CHỒNG TRONG
PHÁP LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật Dân sự
Mã số: 60 38 30
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2011
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về di chúc chung của vợ, chồng trong
7
pháp luật dân sự Việt Nam
1.1. Khái niệm về di chúc và di chúc chung của vợ, chồng
2.2. Nội dung của di chúc chung của vợ, chồng
31
2.3. Hình thức của di chúc chung của vợ, chồng
33
2.4. Cách thức lập di chúc chung của vợ, chồng
44
2.5. Vấn đề thay thế, sửa đổi, hủy bỏ di chúc chung của vợ, chồng
50
2.6. Hiệu lực pháp luật của di chúc chung của vợ, chồng
54
Chương 3: Thực tiễn giải quyết tranh chấp liên quan đến di chúc chung của vợ,
61
chồng và phương hướng hoàn thiện
3.1. Nguyên nhân dẫn đến tranh chấp liên quan đến di chúc chung của vợ,
61
chồng
VKSNDTC
Viện Kiểm sát nhân dân tối cao
BTP
Bộ Tư pháp
1
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài:
Thừa kế là một chế định quan trọng, được nhà nước ghi nhận và bảo hộ.
Điều 58 Hiến pháp năm 1992 của nước CHXHCN Việt Nam quy định: “Nhà
nước bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp và quyền thừa kế của công dân”. Và nó
được cụ thể hóa ở Điều 245 BLDS năm 2005: “Người thừa kế có quyền sở hữu
đối với tài sản thừa kế…” . Trong nền kinh tế thị trường, cùng với sự phát triển
của lực lượng sản xuất, các quan hệ xã hội ngày càng trở nên đa dạng. Khi con
người bắt đầu tích lũy về tài sản thì cũng đặt ra yêu cầu pháp luật bảo hộ vấn đề
quyền sở hữu tài sản và chuyển dịch khối tài sản đó sau khi chết đi. Thừa kế trở
nên đặc biệt quan trọng, nó là đối tượng nghiên cứu của nhiều công trình khoa
học. Vì vậy, chế định thừa kế ngày càng được hoàn thiện hơn, góp phần giải
quyết những mâu thuẫn tồn tại trong xã hội.
Pháp luật Việt Nam ghi nhận hai hình thức thừa kế: thừa kế theo di chúc
và thừa kế theo pháp luật, trong đó hình thức thừa kế theo di chúc ngày càng trở
nên phổ biến vì di chúc thể hiện được ý chí và tôn trọng quyền định đoạt của cá
nhân, ngay cả khi cá nhân đó chết đi. Di chúc chung của vợ, chồng là một trường
hợp đặc thù trong chế định thừa kế của pháp luật dân sự Việt Nam, được dùng để
nhiều công trình khoa học nghiên cứu về lĩnh vực thừa kế. Trong đó có một số
công trình của một số tác giả tiêu biểu như: TS. Nguyễn Mạnh Bách với “Chế độ
hôn sản và thừa kế trong luật Việt Nam”, T.S. Phùng Trung Tập với “ Thừa kế
theo pháp luật trong Bộ luật dân sự Việt Nam”, TS. Nguyễn Minh Tuấn với “
Những quy định chung về quyền thừa kế trong Bộ luật dân sự Việt Nam”, TS.
Trần Thị Huệ với “ Di sản thừa kế trong pháp luật dân sự Việt Nam”…
Riêng về thừa kế theo di chúc, có các công trình tiêu biểu sau: “Thừa kế
theo di chúc trong luật dân sự Việt Nam” của Giáo sư Vũ Văn Mẫu, “ Thừa kế
theo di chúc trong quy định của Bộ luật dân sự Việt Nam” của TS. Phạm Văn
Tuyết,…
Di chúc chung của vợ, chồng là một trường hợp đặc biệt, có những nét
đặc thù riêng so với di chúc nói chung. Nhưng về mảng này không có nhiều công
trình nghiên cứu. Ngoài một số bài nghiên cứu của các tác giả khác được đăng
trên các tạp chí thì còn có công trình nghiên cứu của Đồng Thị Thu Sa với đề tài
“Pháp luật Việt Nam hiện hành về hiệu lực pháp luật di chúc chung của vợ,
chồng”. Có thể nói đây là công trình đầu tiên nghiên cứu tương đối cụ thể về di
3
chúc của vợ, chồng, đã tách di chúc chung của vợ, chồng ra làm đối tượng
nghiên cứu riêng khi nghiên cứu về thừa kế nói chung và thừa kế theo di chúc
nói riêng. Tuy nhiên, đây là một công trình nghiên cứu ở mức độ một khóa luận
tốt nghiệp nên tác giả chỉ đi vào nghiên cứu quy định pháp luật hiện hành về
hiệu lực pháp luật di chúc chung của vợ, chồng.
“Di chúc chung của vợ, chồng trong pháp luật dân sự Việt Nam” là công
trình đầu tiên ở cấp độ luận văn thạc sĩ nghiên cứu về di chúc của vợ, chồng.
Công trình nghiên cứu một cách tương đối đầy đủ các vấn đề liên quan đến di
chúc chung của vợ, chồng.
3. Phạm vi nghiên cứu đề tài:
định hợp lý của pháp luật các nước…
Ngoài ra còn sử dụng kết hợp với các phương pháp diễn dịch, quy nạp,
phân tích, tổng hợp, so sánh…để giải quyết vấn đề cần nghiên cứu.
5. Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài:
* Mục đích: Thừa kế là một chế định quan trọng trong BLDS. Đề tài: “Di
chúc chung của vợ, chồng trong pháp luật dân sự Việt Nam” trên cơ sở tìm
hiểu, nghiên cứu và làm rõ các quy định của pháp luật hiện hành về di chúc
chung của vợ, chồng qua đó tìm ra được những vướng mắc, bất cập trong qui
định của pháp luật về loại di chúc này. Đề xuất phương hướng hoàn thiện, góp
phần đưa quy định của pháp luật trở nên thực thi trong cuộc sống, làm cho pháp
luật trở thành công cụ hữu hiệu nhất điều chỉnh các quan hệ xã hội .
* Nhiệm vụ: Với mục đích đã đặt ra, luận văn có nhiệm vụ giải quyết các
vấn đề sau:
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về di chúc chung của vợ, chồng trong mối
quan hệ với di chúc nói chung (đặc điểm, hình thức, thời điểm có hiệu lực…) để
xây dựng khái niệm di chúc của vợ, chồng.
Luận văn nghiên cứu các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về
di chúc chung của vợ, chồng trong mối quan hệ so sánh, đối chiếu với pháp luật
của một số nước trên thế giới để thấy tính tất yếu phải ghi nhận quyền lập di
chúc của vợ, chồng.
Và luận văn cũng tập trung phân tích một số tranh chấp liên quan đến di
chúc chung của vợ, chồng thông qua một số vụ án điển hình.
5
Từ việc đánh giá những quy định của pháp luật hiện hành để tìm ra những
điểm bất cập còn tồn tại và đề xuất phương hướng hoàn thiện.
6. Những kết quả nghiên cứu mới của luận văn:
Di chúc chung của vợ chồng chỉ được quy định trong vài điều luật của
Chương 2: Quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về di chúc chung
của vợ, chồng.
Chương 3: Thực tiễn giải quyết tranh chấp liên quan đến di chúc chung
của vợ, chồng và phương hướng hoàn thiện.
7
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ DI CHÚC CHUNG CỦA VỢ,
CHỒNG TRONG PHÁP LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM
1.1. Khái niệm về di chúc và di chúc chung của vợ, chồng:
1.1.1. Khái niệm về di chúc:
“Di chúc” là một thuật ngữ đã tồn tại từ lâu với nhiều tên gọi khác nhau,
như: chúc thư, chúc ngôn, tờ tương phân, lời dặn... “Chúc thư là văn bản chính
thức ghi những ý muốn của một người, đặc biệt là xử lý những tài sản của mình
sau khi chết” [41, tr.182].
Khái niệm di chúc được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau. Theo Từ điển
tiếng Việt, di chúc được hiểu là lời dặn lại trước khi chết những việc người sau
cần làm và nên làm [41, tr.254]. Trong đời sống xã hội dân sự, di chúc được hiểu
một cách rất đơn giản. Di chúc là lời dặn dò của một người trước khi chết để lại
cho con cháu, có thể đó là lời dặn con cháu yêu thương lẫn nhau, hoặc dặn con
cháu làm một công việc gì đó như là ý nguyện của một người trước khi chết.
Cách hiểu này thường rất phổ biến trong đời sống hằng ngày. Việt Nam chúng
ta, ai ai cũng biết đến di chúc nổi tiếng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đó như là lời
di huấn của Người trước lúc "đi xa". Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh có giá
trị vô cùng to lớn đối với thế hệ hôm nay và mai sau, tuy nhiên, xét dưới góc độ
luật dân sự thì những di chúc như vậy không được xem là di chúc thuộc đối
tượng điều chỉnh của luật dân sự.
Dưới góc độ khoa học pháp lý, khái niệm di chúc cũng đã được hình
thì phải hội đủ các yếu tố sau:
Thứ nhất: Di chúc trước hết đó là sự thể hiện ý chí của người lập di chúc.
Pháp luật Việt Nam luôn tôn trọng quyền tự định đoạt của cá nhân, bởi:
“Việc lập di chúc cũng như việc kết hôn không thể thực hiện bằng lối ủy quyền.
Không ai có thể ủy quyền cho người khác để thay mình lập chúc thư mà pháp
luật cũng không có quyền chỉ định một thụ ủy luật định để lập chúc thư thay thế
một người khác” [14, tr.61]. Di chúc thể hiện được ý chí của người lập di chúc
nên đây là lý do mà thừa kế theo di chúc ngày càng trở nên phổ biến hơn thừa kế
theo pháp luật, nó phù hợp với quy định quyền bình đẳng về thừa kế của cá
nhân: “Mọi cá nhân đều bình đẳng về quyền để lại tài sản của mình cho người
khác”.2
Thứ hai: Mục đích của di chúc phải dịch chuyển tài sản của mình cho
người khác sau khi chết đi.
2
Điều 632 Bộ luật dân sự Việt Nam 2005
9
Trước hết, mục đích của di chúc là phải chuyển dịch tài sản của người để
lại thừa kế cho người khác. Do đó, những di chúc mà không có nội dung định
đoạt tài sản cho người khác thì không được xem là di chúc (theo nghĩa hẹp)
thuộc đối tượng điều chỉnh của luật dân sự, chẳng hạn như một số di chúc theo
nghĩa rộng không có nội dung định đoạt về tài sản như: cha mẹ để lại di chúc dặn
dò con nhiều nội dung nhưng trong đó không định đoạt tài sản, hoặc lời dặn của
nhà Vua lập ngôi vua cho người con nào đó hay dặn dò con cháu thực hiện một
số công việc cụ thể, ví dụ di chúc của vua Trần Nhân Tông dặn dò con cháu:
“Một tấc đất của tiền nhân để lại cũng không được để lọt vào tay kẻ khác - Ta
cũng để lời nhắn nhủ đó như một lời di chúc cho muôn đời con cháu...”[43]
còn việc chuyển dịch tài sản cho người khác trong di chúc chỉ có hiệu lực pháp
luật khi người để lại di sản chết đi. Chính vì vậy, người để lại di sản có thể thay
đổi di chúc rất nhiều lần, như tác giả Nguyễn Ngọc Điện đã viết: “Cho đến khi
người lập di chúc chết, người thụ hưởng di sản theo di chúc không có bất kỳ một
quyền nào trên bất cứ một tài sản nào của người lập di chúc và cho rằng họ
cũng không chắc được hưởng di sản về sau này. Di chúc chỉ ghi nhận cho họ
một quyền nào đó trong di sản của người lập di chúc, tức là một quyền đối với
tài sản mà người này sau này sẽ để lại, nếu có để lại. Người thừa kế theo di chúc
và người được di tặng không thể đòi hỏi sự đảm bảo quyền lợi gắn liền với tư
cách đó, và thậm chí, cả sự đảm bảo cho việc duy trì tư cách đó vì di chúc có thể
bị sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc hủy bỏ theo ý chí của người lập ra nó.” [17,
tr.158]
Thực tế, có trường hợp người chủ sở hữu vẫn chỉ dùng một hình thức văn
bản là di chúc để vừa cho một phần di sản (có hiệu lực pháp luật khi người được
tặng cho nhận được tài sản) vừa định đoạt di sản thừa kế (có hiệu lực khi người
để lại di chúc chết).
Nói tóm lại, di chúc là đối tượng điều chỉnh của BLDS chỉ khi nào nội
dung của di chúc định đoạt phần tài sản của người lập di chúc sau khi người đó
chết đi.
1.1.2. Khái niệm về di chúc chung của vợ, chồng:
Trong các văn bản pháp luật từ cổ luật, luật cận đại, luật hiện đại chưa có
văn bản nào đưa ra khái niệm về di chúc chung của vợ, chồng mà chỉ ghi nhận
quyền của vợ, chồng trong việc lập di chúc chung: “Vợ, chồng có thể lập di chúc
chung để định đoạt tài sản chung”.5
4
5
Điều 666 và điều 667 Bộ luật dân sự 2005
Điều 663 Bộ luật dân sự năm 2005
biệt của di chúc so với các loại giao dịch dân sự khác, nó được thể hiện cụ thể ở
việc: vợ, chồng toàn quyền định đoạt tài sản của mình cho bất kỳ ai, có quyền
phân định cho ai bao nhiêu tài sản; có quyền dành một phần tài sản trong khối di
sản để di tặng, thờ cúng; giao nghĩa vụ cho người thừa kế; chỉ định người giữ di
12
chúc, người quản lý di sản, người phân chia di sản. Di chúc chung của vợ, chồng
là sự thể hiện ý chí thống nhất của vợ, chồng mà nó không bị chi phối bởi ý kiến
của bất kỳ ai, đó là ý chí chủ quan, dựa trên ý chí và yếu tố tình cảm của bên lập
di chúc. Người lập di chúc có quyền để lại di sản cho bất kỳ tổ chức hay cá nhân
nào, người được hưởng thừa kế không nhất thiết phải có quan hệ huyết thống,
quan hệ hôn nhân hay quan hệ nuôi dưỡng đối với người để lại di chúc.
- Thứ hai: Tài sản được định đoạt trong di chúc chung của vợ, chồng là
tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng.
Điều 27 LHN&GĐ năm 2000 quy định:
1. Tài sản chung của vợ chồng bao gồm: Tài sản do vợ chồng tạo ra, thu
nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp
khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế
chung hoặc được tặng cho chung và những tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận
là tài sản chung.
Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung
của vợ chồng. Quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng có được trước khi kết hôn,
được thừa kế riêng chỉ là tài sản chung khi vợ chồng có sự thỏa thuận.
Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất.
2. Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp
luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì trong giấy chứng nhận quyền sở
hữu phải ghi tên của cả vợ chồng.
3. Trong trường hợp không có chứng cứ chứng minh tài sản mà vợ chồng
nhà lập pháp cho phép họ lập chung di chúc để định đoạt tài sản chung là hoàn
toàn có lý.
Tài sản của vợ chồng về nguyên tắc theo luật định không thể thỏa thuận
nhằm thay đổi chế độ tài sản chung bởi lẽ nếu như vậy thì sẽ đánh mất tính “bền
vững” của quan hệ hôn nhân và tính “cùng tạo dựng” tài sản để đảm bảo cuộc
sống chung. LHN&GĐ năm 2000 qui định chế độ cộng đồng tạo sản được áp
dụng với các cặp vợ chồng khi quan hệ hôn nhân được xác lập và chế độ tài sản
này được thực hiện trong suốt thời kỳ hôn nhân, không áp dụng kiểu chế độ tài
sản ước định (theo sự thỏa thuận của vợ chồng bằng hôn ước).
Chế độ sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng hoàn toàn đúng đắn và phù
hợp với truyền thống gia đình Việt Nam “của chồng, công vợ”. Chính sự hợp
14
nhất về tài sản là yếu tố tạo nên sự hài hòa và bền chặt trong quan hệ gia đình. Di
chúc chung của vợ, chồng phản ánh đúng quyền và nghĩa vụ của vợ và chồngnhững chủ sở hữu chung hợp nhất.
-Thứ ba: Di chúc chung của vợ, chồng được hình thành dựa trên quan hệ
hôn nhân đang còn hiệu lực.
“Thời kỳ hôn nhân là khoảng thời gian tồn tại quan hệ vợ chồng, tính từ
ngày đăng ký kết hôn đến ngày chấm dứt hôn nhân” (Khoản 7 Điều 8
LHN&GĐ). Theo đó thời kỳ hôn nhân được hiểu là khoảng thời gian tồn tại
quan hệ vợ, chồng về mặt pháp lý, tính từ ngày hai bên nam, nữ kết hôn cho đến
khi có sự kiện pháp lý xảy ra, ví dụ như: ly hôn, một bên vợ hoặc chồng chết
trước... Việc kết hôn của nam, nữ phải được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
công nhận theo đúng các thủ tục và điều kiện mà pháp luật quy định.
Tuy nhiên, do điều kiện hoàn cảnh lịch sử để lại, pháp luật Việt Nam phải
công nhận một số trường hợp sau:
+ Trường hợp nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không
đăng ký kết hôn (trước đây gọi là hôn nhân thực tế):
quy định thì có nghĩa vụ phải đăng ký kết hôn trong thời hạn hai năm. Tức là đến
ngày 01/01/2003 phải đăng ký kết hôn, nếu sau ngày 01/01/2003 mà không đăng
ký kết hôn thì không được pháp luật công nhận là vợ chồng ...
Như vậy, tính đến thời điểm này, chỉ những trường hợp nam nữ chung
sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn từ trước ngày
03/01/1987 thì quan hệ vợ chồng của họ vẫn được thừa nhận. Vậy nên, trường
hợp này mà họ viết di chúc chung thì di chúc đó cũng được coi là di chúc chung
của vợ, chồng.
+ Trường hợp nhiều vợ, nhiều chồng:
Bản chất của hôn nhân xã hội chủ nghĩa là hôn nhân một vợ, một chồng
như Ph.Ăngghen đã chỉ rõ: “vì bản chất của tình yêu là không thể chia sẻ…cho
nên hôn nhân dựa trên tình yêu của nam và nữ do ngay bản chất của nó là hôn
nhân một vợ, một chồng”.
Ở nước ta, chế độ đa thê đã được bảo hộ theo hệ thống pháp luật của Nhà
nước phong kiến, thực dân trong một thời gian khá dài. Do yếu tố lịch sử chi
phối, pháp luật nước ta đã thừa nhận những quan hệ hôn nhân trước khi
LHN&GĐ năm 1959 ra đời. Những người lấy nhiều vợ, nhiều chồng trước ngày
13 tháng 01 năm 1960 ở miền Bắc (ngày LHN&GĐ năm 1959 có hiệu lực) thì
16
không đặt vấn đề vi phạm luật. Do vậy, quan hệ hôn nhân của vợ chồng được
xác lập trước ngày 13/01/1960 tuy có vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một
chồng về hình thức nhưng vẫn được thừa nhận và không coi là trái luật. Theo
nguyên tắc chung, nguyên tắc hôn nhân một vợ, một chồng được thực hiện từ
ngày LHN&GĐ năm 1959 có hiệu lực (từ ngày 13/01/1960).
Do hoàn cảnh chiến tranh, đất nước ta tạm thời bị chia cắt làm hai miền
trong một thời gian kéo dài. Trong hoàn cảnh đó, nhiều cán bộ, chiến sĩ miền
Nam tập kết ra miền Bắc đã có vợ ở miền Nam, lại kết hôn với người khác ở
- Giai đoạn từ năm 1975 đến trước khi BLDS năm 2005 có hiệu lực thi
hành.
* Giai đoạn trước năm 1945:
Pháp luật Việt Nam giai đoạn này được tập trung chủ yếu vào Bộ luật
Hồng Đức (pháp luật thời nhà Lê), Bộ luật Gia Long (pháp luật thời nhà
Nguyễn) và các bộ dân luật Bắc Kỳ, bộ dân luật Trung Kỳ (là hai trong ba bộ
dân luật tiêu biểu cho pháp luật thời kỳ Pháp thuộc 1858-1945).
- Bộ luật Hồng Đức (Quốc triều hình luật): được ra đời dưới thời nhà
Lê- thời kỳ mà pháp luật nghiêm đến mức “của rơi ngoài đường không ai nhặt,
nhà nhà đêm ngủ mở cửa không phải lo trộm”.
Bộ luật gồm 13 chương, 722 điều, được chia làm 06 quyển. Vấn đề thừa
kế được quy định tại chương “Điền sản”. Bộ luật Hồng Đức ghi nhận hai hình
thức thừa kế: thừa kế theo di chúc (các Điều 354, 388), thừa kế theo pháp luật
(các Điều 374-377, Điều 380, 388). Quan điểm các nhà làm luật thời Lê khá gần
gũi với quan điểm hiện đại. Điều đáng chú ý trong bộ luật này là cho người con
gái có quyền hưởng thừa kế ngang bằng với người con trai. Bộ luật cũng ghi
nhận chế độ “tần tảo điền sản”- tài sản chung do hai vợ chồng tạo ra trong thời
kỳ hôn nhân. Đây là điểm tiến bộ không thể thấy ở các bộ luật thời phong kiến
khác nên được các nhà khoa học trong và ngoài nước đánh giá Bộ luật Hồng
Đức là bộ luật thành văn nổi tiếng và có giá trị bậc nhất trong cổ pháp Việt Nam.
Tuy nhiên, xuyên suốt các quy định trong bộ luật vẫn không có quy định nào ghi
nhận về quyền lập di chúc chung của vợ, chồng mặc dù hình thức thừa kế theo di
chúc đã được ghi nhận tại Điều 390: “Người làm cha mẹ phải liệu tuổi già mà
lập sẵn chúc thư”.
- Bộ luật Gia Long (Hoàng triều luật lệ) là bộ luật ra đời dưới thời nhà
Nguyễn, gồm 398 điều được chia làm 22 cuốn. Đây là bộ luật đầy đủ và hoàn
18
19
(chế độ nửa thực dân nửa phong kiến), bởi vậy hai bộ dân luật này vừa chịu ảnh
hưởng của hệ tư tưởng phong kiến vừa ảnh hưởng tư tưởng tiến bộ của BLDS
của cộng hòa Pháp 1804.
- Bộ dân luật Bắc Kỳ: được ban hành bằng một nghị định của Thống sứ
Bắc Kỳ ngày 30 tháng 3 năm 1931, gồm 1.464 điều, được chia làm 04 quyển.
Chế định thừa kế được quy định trong quyển thứ nhất, trong đó có 17 điều quy
định về thừa kế theo di chúc.
- Bộ dân luật Trung Kỳ (Hoàng Việt Trung Kỳ Hộ luật): ra đời thay thế
cho bộ luật Gia Long trước đây tại Trung Kỳ, gồm 1.709 điều, được chia làm 05
quyển. Đây là bộ luật sao chép lại hầu hết các điều khoản của Bộ dân luật Bắc
Kỳ.
Ở giai đoạn này mọi quy định về chế định thừa kế đều nhằm củng cố, bảo
vệ quyền lợi của giai cấp phong kiến. Mặc dù, thừa kế ở thời kỳ này phản ánh sự
bất bình đẳng giữa vợ và chồng (tại Điều 312 Bộ dân luật Bắc Kỳ và Điều 313
Bộ dân luật Trung Kỳ quy định: “Người vợ chỉ được lập di chúc để định đoạt tài
sản của mình (nếu được người chồng đồng ý)” nhưng nó vẫn được xây dựng
trên cơ sở tôn trọng, kế thừa các truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Di chúc chung
của vợ, chồng được quy định trong Bộ dân luật Bắc kỳ (Điều 321) và Bộ dân
luật Trung kỳ (Điều 313): “Người cha được lập chúc thư để xử trí tài sản chung
của gia đình tùy theo ý mình, nhưng phải có vợ chính đồng ý trừ tài sản của vợ
chính ra thì người chồng được làm chúc thư để để xử trí tài sản của gia đình tùy
theo ý mình, không có vợ chính thuận tình cũng được.”
* Giai đoạn 1945- 1975:
Sau khi giành được độc lập, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời.
Trước tình hình mới này thì chúng ta chưa xây dựng và ban hành kịp thời các
văn bản pháp luật, về nguyên tắc, Bộ dân luật Bắc Kỳ và Bộ dân luật Trung Kỳ
thông tư đã bao hàm các quy định tương đối đầy đủ và toàn diện về vấn đề thừa
kế so với các văn bản trước đây. Thông tư ra đời trong hoàn cảnh mới của một
Nhà nước thống nhất, đây là văn bản đánh dấu sự trưởng thành, đáp ứng được
yêu cầu của một thời kỳ lịch sử.
Thông tư 81-TANDTC trong phần quy định về quyền định đoạt tài sản
của người lập di chúc có nhắc đến di chúc chung của vợ, chồng; cụ thể như sau:
“Di chúc do vợ, chồng cùng làm để định đoạt tài sản chung, nếu một bên chết
21
trước thì chỉ riêng phần di sản của người đó được thi hành theo di chúc. Người
còn sống có quyền giữ nguyên, thay đổi hoặc hủy bỏ di chúc đối với phần tài sản
của mình.”
Trong điều kiện kinh tế phát triển, các quan hệ xã hội phát sinh ngày càng
phong phú và đa dạng, thông tư 81-TANDTC không còn phù hợp nữa, ngày 30
tháng 8 năm 1990, Hội đồng nhà nước của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam thông qua pháp lệnh thừa kế năm 1990. Có thể nói từ sau Cách mạng tháng
Tám năm 1945 đến trước khi có BLDS năm 1995 thì pháp lệnh thừa kế năm
1990 là văn bản pháp lý đầu tiên quy định một cách đầy đủ, có hiệu lực pháp lý
cao nhất ở nước ta về vấn đề thừa kế.
Pháp lệnh thừa kế gồm 06 chương với 38 điều đã xác định được những
nguyên tắc thừa kế cơ bản và xây dựng được một số khái niệm cần thiết.
Điều 23 pháp lệnh thừa kế năm 1990 quy định: “Trong trường hợp di
chúc do nhiều người lập chung, mà có người chết trước thì chỉ phần tài sản liên
quan đến người chết trước có hiệu lực”. Như vậy mặc dù pháp lệnh thừa kế
không trực tiếp quy định nhưng gián tiếp thừa nhận di chúc chung của vợ,
chồng.
BLDS năm 1995 được Quốc hội khóa IX thông qua ngày 28 tháng 10 năm
1995 và có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 1996; đây là kết quả pháp điển hóa
nhưng hai truyền thống pháp luật có tính chất kinh điển và ảnh hưởng lớn nhất
không chỉ tới hệ thống pháp luật của các quốc gia khác nhau mà còn tới cả các
truyền thống pháp luật khác. Đó là, truyền thống pháp luật Châu Âu lục địa
(Civil law) và truyền thống pháp luật án lệ (Common law). Đặc điểm của truyền
thống pháp luật Châu Âu lục địa là giải quyết các tranh chấp bằng văn bản pháp
luật, quy phạm pháp luật cụ thể chứ không phải dựa vào án lệ như truyền thống
pháp luật án lệ. Trong truyền thống pháp luật Châu Âu lục địa, cơ sở pháp luật
dân sự là Luật La Mã (Roman Law). Luật dân sự bắt nguồn trước tiên từ các
nước Châu Âu lục địa như Pháp, Đức, Italia... Cho đến nay Luật dân sự được áp
dụng ở các nước Châu Âu lục địa, các nước đã từng là thuộc địa của của những
nước này (như Việt Nam), các nước thừa nhận hệ thống pháp luật phương Tây
như Nhật Bản, Thái Lan, Trung Quốc. Bên cạnh đó, ở một số nước theo truyền
thống pháp luật án lệ cũng tồn tại BLDS. Đó là hai trường hợp đặc biệt của bang
Québec (Canada) và bang Loussiana (Hoa Kỳ).