Phòng ngừa tội cướp tài sản trên địa bàn tỉnh thái bình - Pdf 48

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƢ PHÁP

TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

HOÀNG HÀ VĨNH CHÂM

PHÒNG NGỪA TỘI CƢỚP TÀI SẢN
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI BÌNH
CHUYÊN NGÀNH: TỘI PHẠM HỌC VÀ ĐIỀU TRA TỘI PHẠM
MÃ SỐ: 60 38 70

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƢỜI HƢỚNG DẪN:
TS. TRƢƠNG QUANG VINH

HÀ NỘI - 2011


LỜI CAM ĐOAN

Đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, có tham khảo các tài liệu và
công trình nghiên của các tác giả khác về những vấn đề có liên quan, các tài
liệu tham khảo này có chỉ dẫn nguồn cụ thể.
Tôi cam đoan kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và
không có sự sao chép, trùng lặp với bất kỳ công trình nghiên cứu nào của
ngƣời khác đã công bố.
Tác giả


MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU ...........................................................................................................1
CHƢƠNG 1: TÌNH HÌNH TỘI CƢỚP TÀI SẢN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH
THÁI BÌNH GIAI ĐOẠN TỪ NĂM 2006 - 2010...................................................5
1.1 Thực trạng của tình hình tội cƣớp tài sản trên địa bàn tỉnh Thái Bình giai đoạn
2006 - 2010. ................................................................................................................5
1.2. Diễn biến của tình hình tội cƣớp tài sản trên địa bàn tỉnh Thái Bình giai đoạn
2006 - 2010. ..............................................................................................................15
1.3. Cơ cấu, tính chất của tình hình tội cƣớp tài sản trên địa bàn tỉnh Thái Bình giai
đoạn 2006 - 2010. ......................................................................................................19
Kết luận chƣơng 1 .....................................................................................................34
CHƢƠNG 2: NGUYÊN NHÂN CỦA TỘI CƢỚP TÀI SẢN TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH THÁI BÌNH ..................................................................................................35
2.1 Nguyên nhân xuất phát từ những yếu tố tiêu cực của tình hình kinh tế - xã hội. ....36
2.2. Nguyên nhân xuất phát từ những tồn tại, thiếu sót trong công tác văn hóa, giáo
dục và tuyên truyền phổ biến pháp luật. ...................................................................39
2.3 Nguyên nhân xuất phát từ những tồn tại, thiếu sót trong hoạt động quản lý về
trật tự, an ninh xã hội. ...............................................................................................45
2.4 Nguyên nhân xuất phát từ những tồn tại, thiếu sót trong hoạt động của các cơ
quan tƣ pháp. ............................................................................................................47
Kết luận chƣơng 2 .....................................................................................................49
CHƢƠNG 3: DỰ BÁO TÌNH HÌNH TỘI CƢỚP TÀI SẢN VÀ MỘT SỐ GIẢI
PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ PHÒNG NGỪA TỘI PHẠM NÀY TRÊN ĐỊA
BÀN TỈNH THÁI BÌNH. ........................................................................................51
3.1. Dự báo tình hình tội cƣớp tài sản trên địa bàn tỉnh Thái Bình trong thời gian tới.
...................................................................................................................................51
3.2 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả phòng ngừa tội cƣớp tài sản trên địa bàn
tỉnh Thái Bình. ..........................................................................................................54
Kết luận chƣơng 3 .....................................................................................................68
KẾT LUẬN ..............................................................................................................70

những khó khăn, thách thức nhƣ: điểm xuất phát của nền kinh tế thấp; ngân sách
hạn hẹp, thiếu vốn đầu tƣ phát triển kinh tế xã hội. Chịu ảnh hƣởng của khủng
hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, lạm phát và suy giảm kinh tế trong
nƣớc; trong khi đó thì dịch bệnh ở ngƣời, gia súc, gia cầm và cây trồng thì diễn biến
phức tạp. Mặt khác Thái Bình còn là tỉnh đất chật ngƣời đông mật độ dân số 1157


2

ngƣời/km2 trong đó dân số chủ yếu tập trung ở vùng nông thôn. Xuất phát từ những
khó khăn, hạn chế về kinh tế - xã hội cùng với các nguyên nhân khác nhƣ văn hóa,
giáo dục, tuyên truyền pháp luật, nguyên nhân liên quan đến các cơ quan bảo vệ
pháp luât... nên Thái Bình còn gặp phải nhiều khó khăn trong lĩnh vực giữ gìn an
ninh trật tự và an toàn xã hội. Trong thời gian vừa qua mặc dù các cơ quan chức
năng đã có nhiều cố gắng trong lĩnh vực phòng ngừa tội phạm và bƣớc đầu cũng đã
có những thành tựu đáng khích lệ. Tuy nhiên tình hình vi phạm, tội phạm có chiều
hƣớng gia tăng, ngày một tinh vi, xảo quyệt và mang tính tổ chức hơn, tai tệ nạn xã
hội còn nhiều bức xúc. Cùng với tình hình tội phạm, tình hình tội cƣớp tài sản cũng
có nhiều diễn biến phức tạp hơn trong thời gian gần đây, hoạt động của loại tội
phạm này ngày càng đa dạng với nhiều thủ đoạn tinh vi xảo quyệt, gây ra những
thiệt hại về ngƣời và tài sản của nhân dân và ảnh hƣởng nghiêm trọng đến an ninh
trật tự, an toàn xã hội của Thái Bình.
Để góp phần nâng cao chất lƣợng công tác phòng ngừa tội phạm nói chung
và phòng ngừa tội cƣớp tài sản nói riêng trên địa bàn tỉnh Thái Bình, việc nghiên
cứu một cách toàn diện và có hệ thống những vấn đề lý luận và thực tiễn về tình
hình tội cƣớp tài sản, từ đó có những đề xuất một số giải pháp để nâng cao hiệu quả
công tác phòng ngừa và tiến tới loại dần loại tội phạm này trong thời gian tới là cần
thiết và đó chính là lý do tác giả đã lựa chọn đề tài: “Phòng ngừa tội cướp tài sản
trên địa bàn tỉnh Thái Bình”.
2. Tình hình nghiên cứu

cướp tài sản trên địa bàn tỉnh Thái Bình” mang tính cấp thiết.
3. Đối tƣợng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu tình hình tội cƣớp tài sản, nguyên nhân của
tình hình tội cƣớp tài sản, nghiên cứu một số vụ án cụ thể để rút ra các đặc điểm của
tình hình tội phạm. Luận văn còn nghiên cứu các biện pháp phòng ngừa tội cƣớp tài
sản trên địa bàn tỉnh Thái Bình.
4. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là tình hình tội cƣớp tài sản ở tỉnh Thái
Bình trong giai đoạn 2006 - 2010. Với số liệu thực tiễn 5 năm, tác giả đánh giá và


4

rút ra các kết luận khoa học, đồng thời tìm ra những nguyên nhân của tình hình tội
cƣớp tài sản trên địa bàn tỉnh Thái Bình.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
- Phƣơng pháp luận: sử dụng phƣơng pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện
chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử.
- Phƣơng pháp nghiên cứu: sử dụng tổng hợp các phƣơng pháp nghiên cứu:
phƣơng pháp thống kê, tổng hợp, phân tích, so sánh và dự báo khoa học.
6. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích của của luận văn là nhằm làm rõ thực trạng, diễn biến, cơ cấu,
tính chất của tình hình tội cƣớp tài sản trên địa bàn tỉnh Thái Bình từ năm 2006 2010, làm rõ nguyên nhân của tội cƣớp tài sản và từ đó đề xuất giải pháp phòng
ngừa có hiệu quả tội phạm này trong thời gian tới trên địa bàn tỉnh Thái Bình.
- Để đạt đƣợc mục đích trên đây nhiệm vụ cơ bản của luận văn cần phải giải
quyết là:
+ Nghiên cứu thực trạng của tình hình tội cƣớp tài sản trên địa bàn tỉnh Thái Bình.
+ Làm sáng tỏ nguyên nhân của tội cƣớp tài sản trên địa bàn tỉnh Thái Bình.
+ Dự báo tình hình tội cƣớp tài sản trên địa bàn tỉnh Thái Bình trong thời
gian tới.

phạm (hoặc nhóm tội phạm hoặc loại tội phạm) đã xảy ra trong đơn vị không gian
và đơn vị thời gian nhất định” [8, tr203]. Nhƣ vậy trong nội dung của tình hình tội
phạm là sự hợp thành của nhiều bộ phận có mối quan hệ, ảnh hƣởng lẫn nhau tạo
nên bức tranh mô tả chung. Các bộ phận đó bao gồm: thực trạng của tình hình tội
phạm, diễn biến của tình hình tội phạm, cơ cấu và tính chất của tình hình tội phạm.
Sau đây chúng ta sẽ tìm hiểu các bộ phận đó thông qua tình hình tội cƣớp tài sản
trên địa bàn tỉnh Thái Bình trong giai đoạn 2006 - 2010.
1.1 Thực trạng của tình hình tội cƣớp tài sản trên địa bàn tỉnh Thái Bình giai
đoạn 2006 - 2010.
Thực trạng của tình hình tội phạm là tình trạng hiện thực của tội phạm đã và
đang diễn ra trong một đơn vị thời gian và trong giới hạn không gian nhất định.
Giáo sƣ - tiến sỹ Nguyễn Ngọc Hòa cho rằng thực trạng của tình hình tội phạm cần
nghiên cứu với hai nội dung: một là, mức độ của tội phạm xảy ra; hai là: tính chất


6

và cơ cấu của tội phạm [8, tr 211]. Do vậy, trong phạm vi luận văn khi trình bày về
thực trạng của tình hình tội cƣớp tài sản với nội dung phản ánh đặc tính về lƣợng
của tội phạm, với nội dung chủ yếu sau: Số vụ và số ngƣời phạm tội bị xét xử thể
hiện bằng các bản án sơ thẩm của Tòa án các cấp và có trong số liệu thống kê của
Tòa án nhân dân (TAND) Tối cao (tội phạm rõ). Theo cách thống kê hiện nay thì số
lƣợng bản án hình sự sơ thẩm (HSST) đƣợc hiểu đồng nghĩa với số vụ phạm tội
cƣớp tài sản xảy ra; Và phần ẩn của tội cƣớp tài sản.
* Số vụ và số người phạm tội cướp tài sản đã được xét xử và có trong số liệu
thống kê (2006 - 2010).
Số vụ và số ngƣời phạm tội cƣớp tài sản tại tỉnh Thái Bình năm 2006 - 2010.
Bảng 1.1. Số vụ và số bị cáo bị xét xử sơ thẩm về tội cướp tài sản trên địa bàn
tỉnh Thái Bình từ năm 2006 - 2010
Năm


32

95

Tổng

166

406

Trung bình

33

81

(Nguồn: TAND tỉnh Thái Bình thống kê xét xử HSST năm 2006 - 2010 theo mẫu 1A).
Thông số về số vụ và số ngƣời phạm tội bị xét xử sơ thẩm có trong số liệu
thống kê đã phản ánh cơ bản về lƣợng của tình hình tội cƣớp tài sản. Đây là phần tội
phạm rõ, có trong số liệu thống kê chính thức của TAND và cũng là phần quan
trọng nhất trong bức tranh tổng thể thực trạng của tình hình tội cƣớp tài sản qua
hàng năm từ 2006 - 2010 trên địa bàn tỉnh Thái Bình. Qua bảng số liệu trên có thể
nhận thấy trong thời gian từ năm 2006 - 2010 trên toàn tỉnh Thái Bình, TAND đã
xét xử 166 vụ cƣớp tài sản, xét xử 406 bị cáo nhƣ vậy trung bình mỗi năm xảy ra 33
vụ với khoảng 81 ngƣời phạm tội cƣớp tài sản.
Chỉ số tội phạm của tội cƣớp tài sản tại tỉnh Thái Bình (2006 - 2010).


7

32

58

1.860

1.72

3.12

2007

37

93

1.868

1.98

4.98

2008

30

85

1.861


33.2

81

1.832

1.81

4.43

(Nguồn: dân số theo số liệu báo cáo của Ủy ban nhân dân tỉnh).
Chỉ số tội phạm đƣợc tính theo tỉ lệ số tội phạm (số vụ phạm tội) trên 100
nghìn ngƣời dân, đƣợc xác định với một địa bàn nhất định và trong khoảng thời
gian nhất định. Chỉ số tội phạm đƣợc xác định để tìm hiểu mức độ phổ biến tội
phạm trong dân cƣ, vì vậy khi đánh giá thực trạng của tình hình tội phạm không thể
bỏ qua chỉ số tội phạm. Nhìn vào chỉ số tội phạm cho phép chúng ta đánh giá đầy
đủ hơn thực trạng tình hình tội phạm của từng năm, từng thời điểm nghiên cứu cũng
nhƣ từng địa phƣơng cụ thể. Chỉ số tội cƣớp tài sản đƣợc chúng tôi xác định trên cơ
sở số vụ, số ngƣời phạm tội đã đƣợc xét xử hàng năm và tính theo tỷ lệ trên 100
nghìn dân, trong mối tƣơng quan với dân số trong thời kỳ 2006 - 2010 trên địa bàn
tỉnh Thái Bình. Chỉ số tội phạm của tội cƣớp tài sản trung bình trong 5 năm (2006 2010) là 1.81 vụ và khoảng 4.43 ngƣời trên 100 nghìn dân. Năm 2006 chỉ số tội
phạm 1.72 vụ và 3.12 ngƣời trên 100 nghìn dân và năm 2010 chỉ số tội phạm 1.79
vụ và 5.32 ngƣời trên 100 nghìn dân, điều này có thể nói chỉ số tội phạm qua các
năm trên không giảm cả về số vụ và số ngƣời phạm tội.
Để thấy rõ hơn thực trạng của tình hình tội cƣớp tài sản trên địa bàn tỉnh
Thái Bình trong giai đoạn 2006 - 2010 chúng ta cần so sánh tình hình tội cƣớp tài
sản với tình hình tội phạm nói chung.


8

58

663

2007

37

93

2008

30

2009

Tỷ lệ %
(1)/(3)

(2)/(4)

888

4.8%

6.5%

656

986


95

552

871

5.8%

10.9%

Tổng

166

406

3193

4801

5.2%

8.5%

(Nguồn: TAND tỉnh Thái Bình thống kê xét xử HSST năm 2006 - 2010 theo mẫu 1A).
Qua bảng số liệu 1.2 trong thời gian từ năm 2006 đến năm 2010 trên toàn
tỉnh Thái Bình đã xảy ra 3193 vụ phạm tội nói chung với tổng số bị cáo 4801 bị cáo
trong đó có 166 vụ cƣớp tài sản với 406 bị cáo chiếm khoảng 5.2% tổng số vụ án
trên toàn tỉnh và chiếm 8.5% tổng số bị cáo trên toàn tỉnh, là một tỷ lệ đáng kể trong

(Nguồn: TAND tỉnh Thái Bình thống kê xét xử HSST năm 2006 - 2010 theo mẫu 1A).
Dựa vào bảng số liệu 1.3 ta thấy số vụ cƣớp tài sản luôn ít hơn số bị cáo và
dựa vào biểu đồ 1.1 và biểu đồ 1.2 ta cũng thấy tỷ lệ trung bình số bị cáo phạm tội
cƣớp tài sản so với số bị cáo phạm tội nói chung nhiều hơn số vụ phạm tội cƣớp tài
sản so với số vụ phạm tội nói chung. Nhƣ vậy có thể khẳng định số ngƣời tham gia
một vụ cƣớp tài sản cao hơn trung bình số ngƣời phạm tội nói chung.
Tội cƣớp tài sản là một tội danh đƣợc quy định trong chƣơng các tội xâm
phạm sở hữu (chƣơng XIV Bộ luật hình sự (BLHS)), để hiểu rõ tình hình tội cƣớp
tài sản cần xem xét trong mối tƣơng quan với các tội phạm khác trong nhóm tội
xâm phạm sở hữu.
Tỉ lệ số vụ, số ngƣời phạm tội cƣớp tài sản trong nhóm tội xâm phạm sở hữu.


10

Bảng 1.4: Số vụ, số bị cáo phạm tội cướp tài sản so với số vụ, số bị cáo phạm tội
thuộc nhóm tội xâm phạm sở hữu nói chung:
Năm

Tội cƣớp tài sản

Các tội xâm phạm sở hữu

Số vụ

Số bị cáo

Số vụ

Số bị cáo


(1)/(3)

(2)/(4)

454

10%

12.8%

296

486

12.5%

19.1%

85

320

497

9.4%

17.1%

35


1361

2223

12.2%

18.3%

(Nguồn: TAND tỉnh Thái Bình thống kê xét xử HSST năm 2006 - 2010 theo mẫu 1A).
Qua bảng 1.4 có thể minh họa bằng biểu đồ sau:
Biểu đồ 1.3: Số vụ cướp tài sản và số vụ các tội xâm phạm sở hữu khác trên địa
bàn tỉnh Thái Bình giai đoạn 2006 - 2010

12.2%

Số vụ cướp tài sản
Số vụ xâm phạm sở hữu
khác

87.8%

(Nguồn: TAND tỉnh Thái Bình thống kê xét xử HSST năm 2006 - 2010 theo mẫu 1A).
Biểu đồ 1.4: Số bị cáo phạm tội cướp tài sản so với số bị cáo phạm các tội xâm
phạm sở hữu khác trên địa bàn tỉnh Thái Bình giai đoạn 2006 - 2010

18.3%

81.7%


656

688

634

552
320

320

296

213

212
37

32
2006

2007

Tội cướp tài sản

35

30
2008



497

486

454

399

400
200

58

93

85

75

387

95

0
2006

2007

Số bị cáo phạm tội cướp tài sản

phạm tội
phạm tội
cƣớp tài
nói chung
sản
(2)
(1)

Toàn quốc
Số vụ, số bị Số vụ, số bị cáo
cáo phạm tội
phạm tội nói
cƣớp tài sản
chung
(3)
(4)

2006

32/58

663/888

2013/4935

55841/89839

2007

37/93


552/871

1810/4529

52595/88147

Tổng

166/406

3193/4801

9793/24578

282617/471564

Tỷ lệ %

(1)/(3)

(2)/(4)

1.6%/

1.1%/

1.2%

1.0%


1.0%

1.69%/

1.13%/

1.65%

1.02%

(Nguồn: TAND Tối cao thống kê xét xử HSST năm 2006 - 2010 theo mẫu 1A).
Qua bảng số liệu 1.5, có thể nhận thấy tỷ lệ số vụ phạm tội xét xử sơ thẩm
hàng năm của tỉnh Thái Bình chiếm tỷ lệ trung bình khoảng 1.13%, số bị cáo chiếm
1.02% so với toàn quốc. Trong đó số vụ cƣớp tài sản của tỉnh Thái Bình chiếm tỷ lệ
1.69% với số bị cáo chiếm 1.65% so với số vụ và số bị cáo phạm tội cƣớp tài sản
xảy ra trên toàn quốc. Nếu so sánh tội cƣớp tài sản trên địa bàn tỉnh Thái Bình với


13

tội phạm chung trên toàn quốc trong cùng khoảng thời gian trên thì thấy tội cƣớp tài
sản trên địa bàn tỉnh Thái Bình có trung bình số vụ chiếm 0.06% và số bị cáo chiếm
0.09%. Con số trên cho thấy tội cƣớp tài sản trên địa bàn tỉnh Thái Bình chiếm tỷ lệ
đáng kể trong tình hình tội phạm nói chung và tình hình tội cƣớp tài sản nói riêng
của toàn quốc.
* Phần ẩn của tội cướp tài sản.
Để đánh giá đúng tình hình tội phạm nói chung, tình hình tội cƣớp tài sản nói
riêng ngoài việc nghiên cứu những vụ phạm tội đã đƣợc phát hiện và xét xử, thì một
phần quan trọng cần phải đƣợc nghiên cứu, đó là phần ẩn của tình hình tội phạm.

Cƣờng cùng đồng bọn… các vụ án đã đƣợc xét xử nhƣng trong đó vẫn còn những
lần phạm tội khác các đối tƣợng đã khai nhận mà cơ quan chức năng không xác
định đƣợc ngƣời bị hại.
Tình hình tội phạm ẩn chủ quan, dạng ẩn này ở tội cƣớp tài sản trên địa bàn
tỉnh Thái Bình xảy ra ít hơn ở các tội khác, tội cƣớp tài sản có tỷ lệ điều tra xử lý
cao hơn, cụ thể chúng ta có thể tham khảo bảng số liệu dƣới đây:
Bảng 1.6: Số vụ và số người thực hiện hành vi cướp tài sản với số vụ và số bị cáo
bị đưa ra xét xử giai đoạn 2006 - 2010.
Số vụ thực

Số vụ phạm

Số vụ phạm tội

hiện hành vi

tội cƣớp tài

cƣớp tài sản bị Tỷ lệ (2) so

cƣớp tài sản bị

sản đã đƣợc

đƣa ra xét xử

phát hiện (1)

khám phá (2)


37

86.4%

84.1%

52

31

30

59.6%

57.7%

2009

58

35

35

60.3%

60.3%

2010



15

năng nhƣng cơ quan điều tra đã không tiến hành điều tra, không đƣa vào thống kê.
Tỷ lệ này rất thấp nhƣng vẫn tồn tại và thƣờng xảy ra đối với các vụ mà ngƣời bị
hại chƣa bị mất tài sản, hoặc tài sản bị chiếm đoạt không lớn.
Nhƣ vậy phần ẩn của tình hình tội cƣớp tài sản có tỷ lệ không cao và ở
những thời điểm khác nhau thì tỷ lệ ẩn khác nhau và ở các khu vực khác nhau tình
hình mức độ ẩn cũng thay đổi. Vấn đề đặt ra cần phải hạn chế tỷ lệ tội phạm ẩn để
có đƣợc cái nhìn tổng quát đầy đủ về thực trạng của tình hình tội cƣớp tài sản để từ
đó đề ra đƣợc biện pháp phòng ngừa tội phạm đạt hiệu quả.
1.2. Diễn biến của tình hình tội cƣớp tài sản trên địa bàn tỉnh Thái Bình giai
đoạn 2006 - 2010.
“Diễn biến của tình hình tội phạm là sự phản ánh xu hƣớng tăng, giảm hoặc
ổn định tƣơng đối của tội phạm nói chung (hoặc một tội hoặc nhóm tội phạm) xảy
ra trong một khoảng thời gian nhất định và trên địa bàn nhất định” [10, tr208].
Giai đoạn từ năm 2006 đến năm 2010 trên toàn tỉnh Thái Bình trung bình
mỗi năm có 33 vụ cƣớp tài sản với 81 bị cáo bị đƣa ra xét xử. Nếu lấy số liệu xét xử
của năm 2006 làm gốc tƣơng ứng với 100% thì diễn biến tiếp theo của tình hình tội
cƣớp tài sản cụ thể nhƣ sau:
Bảng 1.7: Diễn biến của tình hình tội phạm tội cướp tài sản trên địa bàn tỉnh
Thái Bình giai đoạn 2006 - 2010.
Năm

Số vụ

Số bị cáo

2006


35

109.4% (+ 9.4%)

75

129.3%% (+ 29.3%)

2010

32

100% ( 0%)

95

163.8% (+63.8%)

(Nguồn: TAND tỉnh Thái Bình thống kê xét xử HSST năm 2006 - 2010 theo mẫu 1A).
Qua bảng số liệu trên có thể thấy số vụ cƣớp tài sản trên địa bàn tỉnh Thái
Bình có xu hƣớng giảm, tuy nhiên thì tỷ lệ tăng giảm không đồng đều giữa các
năm. Trong đó thì tỷ lệ tăng cao nhất là năm 2007 (tăng 15.6%) so với năm 2006,
nhƣng ngay năm sau đó 2008 thì lại giảm mạnh nhất (giảm 6.3%) so với năm 2006.


16

Ngƣợc lại với xu hƣớng giảm của số vụ cƣớp tài sản thì tình hình số bị cáo phạm tội
cƣớp tài sản lại không hề giảm mà phát triển ngƣợc lại theo xu hƣớng tăng. Tỷ lệ
tăng cao nhất vào năm 2010 (tăng 63.8%), điều này có thể cho thấy tỷ lệ số bị cáo


2007

2008

Số vụ phạm tội cƣớp tài sản

2009

2010

Số bị cáo phạm tội cƣớp tài sản

(Nguồn: TAND tỉnh Thái Bình thống kê xét xử HSST năm 2006 - 2010 theo mẫu 1A).
Tội cƣớp tài sản thuộc nhóm tội xâm phạm sở hữu, để làm rõ hơn diễn biến
của tội cƣớp tài sản chúng ta so sánh với diễn biến của nhóm tội xâm phạm sở hữu
đƣợc thể hiện qua bảng số liệu sau:
Bảng số 1.8: Diễn biến tình hình tội phạm nhóm các tội xâm phạm sở hữu trên
địa tỉnh Thái Bình giai đoạn 2006 - 2010.
Năm

Số vụ

Số bị cáo

2006

320

100%


399

87,9% (-12,1%)

2010

213

66,6% (-33,4%)

387

85,2% (-14,8%)

(Nguồn: TAND tỉnh Thái Bình thống kê xét xử HSST năm 2006 - 2010 theo mẫu 1A).


17

Qua bảng số liệu 1.8 ta có thể thấy rõ các tội trong nhóm tội xâm phạm sở
hữu trên địa bàn tỉnh Thái Bình trong giai đoạn 2006 - 2010 đều có xu hƣớng giảm
cả về số vụ và số bị cáo phạm tội. Điển hình mức giảm mạnh nhất là năm 2010, số
vụ xâm phạm sở hữu giảm 33.4%, số bị cáo phạm tội xâm phạm sở hữu giảm
14.8%. Năm 2007 trong khi số vụ xâm phạm sở hữu có xu hƣớng giảm thì tội cƣớp
tài sản lại tăng cao nhất. Những điều này cho thấy tình hình tội cƣớp tài sản có diễn
biến hết sức phức tạp về số bị cáo trong một vụ. Để hiểu rõ hơn về diễn biến tình
hình tội cƣớp tài sản và nhóm tội xâm phạm sở hữu ta có thể xem biểu đồ dƣới đây:
Biểu đồ 1.8: So sánh diễn biến số vụ cướp tài sản với nhóm các tội xâm phạm sở
hữu trên địa bàn tỉnh Thái Bình giai đoạn 2006 - 2010.

2008

2009

Số vụ cƣớp tài sản

2010

Số vụ xâm phạm sở hữu

(Nguồn: TAND tỉnh Thái Bình thống kê xét xử HSST năm 2006 - 2010 theo mẫu 1A).
Biểu đồ 1.9: So sánh diễn biến số bị cáo phạm tội cướp tài sản với số bị cáo phạm
tội xâm phạm sở hữu trên địa bàn tỉnh Thái Bình giai đoạn 2006 - 2010

200%
160.30%

150%
100%

100%

107%

146.50%
109.40%

163.80%
129.30%
87.90%


Số vụ

Số bị cáo

2006

663

100%

888

100%

2007

656

98,9% (-1,1%)

986

111% (+11%)

2008

634

95,6% (- 4,4%)

lại có xu hƣớng tăng (chỉ có năm 2010 là giảm 1.9%), điều này càng cho thấy tính
chất phức tạp trong mỗi vụ án. Để hiểu rõ hơn diễn biến tình hình tội phạm trên địa
bàn tỉnh Thái Bình, ta có biểu đồ so sánh diễn biến số vụ cƣớp tài sản và số vụ các
tội xâm phạm sở hữu với số vụ phạm tội nói chung trong cùng khoảng thời gian trên
địa bàn toàn tỉnh Thái Bình nhƣ sau:
Biểu đồ 1.10: So sánh diễn biến số vụ cướp tài sản và số vụ các tội xâm phạm sở
hữu với số vụ phạm tội nói chung trên địa bàn tỉnh Thái Bình giai đoạn 2006 - 2010.
140%
120%
100%
80%
60%
40%
20%
0%
2006
2007
Số vụ cướp tài sản

2008
Số vụ xâm phạm sở hữu

2009

2010
Số vụ phạm tội nói chung

(Nguồn: TAND tỉnh Thái Bình thống kê xét xử HSST năm 2006 - 2010 theo mẫu 1A).




406

12.2%

18.3%

Cƣớp giật tài sản

61

122

4.5%

5.5%

Cƣỡng đoạt tài sản

85

125

6.3%

5.6%

Trộm cắp tài sản

845


5.2%

5.1%

Tổng số

1361

2223

100%

100%

Lạm dụng tín nhiệm chiếm
đoạt tài sản

bị cáo

(Nguồn: TAND tỉnh Thái Bình thống kê xét xử HSST năm 2006 - 2010 theo mẫu 1A).
Căn cứ vào bảng số liệu trên ta có biểu đồ về cơ cấu số vụ, số bị cáo phạm
tội xâm phạm sở hữu trên địa bàn tỉnh Thái Bình giai đoạn 2006 - 2010 nhƣ sau:


20

Biểu đồ 1.11: Cơ cấu số vụ các tội xâm phạm sở hữu trên địa bàn tỉnh Thái Bình
giai đoạn 2006 - 2010.
Cƣớp tài sản

5.2%

Cướp giật tài sản

18%
5.5%

58.1%

5.6%

Cưỡng đoạt tài sản

Trộm cắp tài sản
Lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Lạm dụng tín nhiệm chiếm
đoạt tài sản
Tội xâm phạm sở hữu khác

(Nguồn: TAND tỉnh Thái Bình thống kê xét xử HSST năm 2006 - 2010 theo mẫu 1A).
Qua bảng số liệu 1.10 và biểu đồ số 1.11 và 1.12 trên ta có thể nhận thấy
trong nhóm tội xâm phạm sở hữu tội cƣớp tài sản luôn chiếm tỷ lệ khá cao và cao
hơn hẳn so với các tội phạm khác cùng nhóm tội và duy nhất chỉ sau tội trộm cắp tài
sản là loại tội có thể nói bao giờ cũng chiếm tỷ lệ cao nhất trong nhóm tội này.
- Cơ cấu tội cướp tài sản theo hình thức phạm tội (phạm tội riêng lẻ và
phạm tội theo hình thức đồng phạm).
Từ năm 2006 - 2010, qua khảo sát ngẫu nhiên 121 vụ phạm tội cƣớp tài sản
thì có 62 vụ đồng phạm chiếm 51.2% tổng số vụ cƣớp tài sản. Tỷ lệ đồng phạm



8.3%

5%

7.4%

6.6%

13.2%

Thành phố
Vũ Thƣ
Đông Hƣng
Kiến Xƣơng
Hƣng Hà
Quỳnh Phụ
Thái Thụy
Tiền Hải

(Nguồn: Thống kê của tác giả qua 121 vụ án HSST giai đoạn 2006 -2010).



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status