BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
--------- ----------
ĐINH THỊ HUÊ
THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ
VÀ TÁI ĐỊNH CƯ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT Ở
TỈNH HÀ NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành: LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
Mã số: 60.38.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN QUỐC HOÀN
HÀ NỘI – 2011
MỤC LỤC
Mở đầu
1
Chương 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ
ĐẤT VÀ MỘT SỐ ĐỀ XUẤT NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC
HIỆN PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ VÀ TÁI ĐỊNH CƯ
KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT Ở TỈNH HÀ NAM
2.1. Khái quát đặc điểm kinh tế-xã hội của tỉnh Hà Nam
27
2.2. Thực tiễn thực hiện pháp luật về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi
31
nhà nước thu hồi đất ở tỉnh Hà Nam
2.3. Nguyên nhân của kết quả và hạn chế trong thực hiện pháp luật về bồi
48
thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất ở tỉnh Hà Nam
2.4. Một số đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về bồi
thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất ở Hà Nam nói riêng, ở
nước ta nói chung
KẾT LUẬN CHUNG
TÀI LIỆU THAM KHẢO
57
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BT
:
Bồi thường
HT
:
Hỗ trợ
TĐC
:
Tái định cư
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất là sản phẩm của tự nhiên, qua quá trình tác động của con người đất đai là yếu tố tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất nông
nghiệp, làm mặt bằng xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng, xây dựng
các công trình sản xuất kinh doanh, xây dựng đô thị và các khu dân cư...
Cùng với sự phát triển của xã hội, đất đai được sử dụng vào nhiều mục
đích và nhu cầu sử dụng đất ngày một tăng lên. Việc sử dụng đất có hiệu
quả cả về kinh tế – xã hội và tính bền vững môi trường ngày càng có ý
nghĩa. Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu,
người bị thu hồi đất...
Hà Nam là tỉnh phát triển kinh tế với tỷ trọng nông nghiệp cao,
(chiếm tỷ lệ khoảng 40% GDP), kinh tế hộ phụ thuộc phần lớn vào hoạt
động sản xuất nông nghiệp. Trong những năm gần đây, thực hiện chính
sách thu hút đầu tư nhằm phát triển kinh tế, trên địa bàn tỉnh nhiều dự án
được đầu tư, triển khai. Tuy nhiên công tác bồi thường, hỗ trợ giải
phóng mặt bằng và tái định cư đang gặp rất nhiều khó khăn do nhiều
nguyên nhân và một trong những nguyên nhân chủ yếu nhất là đất bị thu
hồi là: đất nông nghiệp - tư liệu sản xuất chính - ảnh hưởng nhiều đến
sản xuất và đời sống của nhân dân; đất ở cùng với nhà cửa cũng như vật
kiến trúc, hoa màu trên đất là tài sản rất lớn của nông dân nơi đây trong
khi việc bồi thường, hỗ trợ chưa tương xứng với mức độ thiệt hại đã gây
ra nhiều bức xúc trong nhân dân, từ đó đã có không ít trường hợp người
dân không nhận tiền bồi thường, hỗ trợ dẫn đến khiếu kiện kéo dài,
nhiều dự án phải thực hiện cưỡng chế thu hồi đất.
3
Bên cạnh đó, việc thực hiện chính sách về đất đai qua các thời kỳ
còn nhiều tồn tại, bất cập dẫn đến việc xác định nguồn gốc sử dụng đất để
áp dụng chính sách bồi thường, hỗ trợ gặp rất nhiều khó khăn, làm chậm
tiến độ thực hiện công tác giải phóng mặt bằng trên địa bàn tỉnh. Năng
lực, phẩm chất của một bộ phận cán bộ, công chức chưa tương xứng với
nhiệm vụ; công tác chỉ đạo, phối hợp giữa các cơ quan nhà nước chưa
tập trung, chưa quyết liệt; trình độ dân trí thấp, nhận thức pháp luật và
sử dụng quyền khiếu nại của người dân chưa thật sự đúng pháp luật, lợi
dụng quyền khiếu nại gây khó khăn cho hoạt động quản lý nhà nước.
Quan trọng hơn là pháp luật về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư còn
không ít hạn chế, chưa hoàn chỉnh, chưa đồng bộ, chưa thống nhất, rõ
giải pháp” (Luận văn thạc sĩ luật học của tác giả Lê Thanh Bình); “Một
số vấn đề lý luận và thực tiễn về thực hiện pháp luật ở thành phố Hà Nội
hiện nay” (Luận văn thạc sĩ luật học của tác giả Trần Thị Xuân); “Đánh
giá việc thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng và
tái định cư khi nhà nước thu hồi đất tại một số dự án trên địa bàn huyện
Phú Xuyên, thành phố Hà Nội” (Luận văn thạc sĩ luật học của tác giả
Trần Tuấn Nghĩa)...
Nhìn chung, các công trình trên mới chỉ đề cập đến thực hiện pháp
luật nói chung ở nhiều khía cạnh, nhiều nội dung trên phạm vi toàn quốc
hoặc ở một số địa phương nhất định. Cũng đã có một số đề tài đề cập
đến vấn đề thực hiện pháp luật về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi
nhà nước thu hồi đất tuy nhiên lại ở địa phương khác. Hiện nay chưa có
một công trình nghiên cứu cụ thể nào về việc thực hiện pháp luật về bồi
thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn của
tỉnh Hà Nam. Chính vì vậy, đề tài “Thực hiện pháp luật về bồi thường,
5
hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất ở tỉnh Hà Nam hiện nay”
được xem là công trình đầu tiên nghiên cứu vấn đề bồi thường, hỗ trợ và
tái định cư ở tỉnh Hà Nam.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
- Mục đích của luận văn
Luận văn có mục đích làm rõ một số vấn đề lý luận chung về bồi
thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất. Đồng thời, thông
qua thực tiễn thực hiện pháp luật về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi
nhà nước thu hồi đất ở tỉnh Hà Nam đề xuất một số giải pháp nhằm nâng
cao hiệu quả thực hiện pháp luật về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi
nhà nước thu hồi đất.
bối cảnh, giai đoạn phát triển nhất định của xã hội.
Luận văn sử dụng các phương pháp cụ thể như: Hệ thống, phân
tích, tổng hợp, khảo sát thực tiễn, so sánh, thống kê... nhằm làm rõ nội
dung cơ bản của luận văn và bảo đảm tính khoa học, hoàn thiện và logic
giữa các vấn đề của luận văn.
6. Những đóng góp về khoa học và ý nghĩa của luận văn
- Luận văn nghiên cứu làm rõ một số vấn đề lý luận chung về thực
hiện pháp luật về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi
đất.
- Đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật về bồi thường, hỗ trợ và
tái định cư khi nhà nước thu hồi đất ở tỉnh Hà Nam.
7
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp
luật về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất.
- Góp phần xây dựng luận cứ khoa học cho các cơ quan lãnh đạo
của tỉnh Hà Nam đưa ra những quyết sách bảo đảm cho pháp luật về bồi
thường, hỗ trợ và tái định cư được thực hiện đầy đủ, nghiêm chỉnh,
thống nhất trên địa bàn tỉnh Hà Nam trong thời gian tới.
- Luận văn còn có thể được dùng làm tài liệu tham khảo cho các
chuyên gia pháp luật, các nhà nghiên cứu và các nhà quản lý trong việc
tổ chức thực hiện pháp luật về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà
nước thu hồi đất trong bối cảnh đổi mới và hội nhập quốc tế ở Việt Nam
hiện nay.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận
văn có 02 chương
đồng, trong lĩnh vực pháp luật dân sự; bồi thường oan, sai do hành vi
của các cơ quan tố tụng gây ra trong lĩnh vực pháp luật hình sự… Tuy
nhiên, trong một số lĩnh vực pháp luật, chúng ta cũng thấy thuật ngữ
“bồi thường” được sử dụng với những trường hợp không gây thiệt hại
mà chỉ là sự hoàn lại những chi phí đã được sử dụng. Chẳng hạn, bồi
9
thường chi phí dạy nghề (Chi phí dạy nghề gồm các khoản chi phí hợp
lý cho người dạy, tài liệu, vật liệu thực hành, chi phí khấu hao nhà
xưởng, máy móc thiết bị và các chi phí khác đã chi cho người học) Nghị
định số 139/2006/NĐ-CP ngày 20/11/2006 do Chính phủ ban hành quy
định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Giáo dục và Bộ
luật lao động về dạy nghề. .
Gắn liền với “bồi thường” khái niệm “trách nhiệm bồi thường”.
Trách nhiệm bồi thường, trong đại đa số các trường hợp được đặt ra khi
một chủ thể có hành vi gây thiệt hại cho chủ thể khác trong xã hội.
Trách nhiệm này được rất nhiều các ngành luật đề cập như trách nhiệm
bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong lĩnh vực pháp luật dân sự;
trách nhiệm bồi thường oan, sai do hành vi của các cơ quan tố tụng gây
ra trong lĩnh vực pháp luật hình sự; trách nhiệm vật chất do hành vi của
người lao động gây ra trong lĩnh vực pháp luật lao động v.v;
Ở nước ta, trong lĩnh vực pháp luật đất đai, thuật ngữ bồi thường và
đôi khi được thay thế bằng thuật ngữ “đền bù” được sử dụng để nói đến
việc bồi thường những thiệt hại nhằm giải phóng mặt bằng đất đai để
phục vụ những mục tiêu nhất định. Nghị định số 151/TTg ngày
14/01/1959 của Hội đồng Chính phủ “Quy định thể lệ tạm thời về trưng
dụng ruộng đất”, tại Chương II đã đề cập đến việc “Bồi thường cho
người có ruộng đất bị trưng dụng”. Tiếp đến Thông tư số 1792/TTg
hiện việc bồi thường “ngang giá”.
Theo quan niệm của Luật đất đai năm 2003: "Bồi thường khi Nhà
nước thu hồi đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối
với diện tích đất bị thu hồi cho người bị thu hồi đất" (khoản 6 Điều 4).
Khái niệm này mới chỉ ra việc bồi thường giá trị quyền sử dụng đất mà
11
chưa đề cập đến việc bồi thường tài sản gắn liền với diện tích đất bị thu
hồi. Trong khi đó, thực tiễn bồi thường khi nhà nước thu hồi đất cho
thấy, ngoài việc trả lại giá trị quyền sử dụng đất, giá trị tài sản gắn liền
với đất cũng được bồi thường.
Tuy nhiên, trong các Nghị định của Chính phủ và Thông tư của các
cơ quan có thẩm quyền về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà
nước thu hồi đất đều đưa ra những quy định về bồi thường về đất và bồi
thường về tài sản khi nhà nước thu hồi đất. Ví dụ như tại Thông tư số
14/2009/TT-BTNMT ngày 01/10/2009 của Bộ Tài nguyên môi trường
quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và trình tự, thủ tục
thu hồi đất, giao đất cho thuê đất đều quy định rõ hai mục: Mục 1,
Chương II: Bồi thường về đất (từ Điều 3 đến Điều 9) và Mục 2, Chương
II: Bồi thường về tài sản (từ Điều 10 đến Điều 13).
Xuất phát từ thực trạng quy định pháp luật như vậy, có thể hiểu bồi
thường khi nhà nước thu hồi đất không chỉ đơn thuần chỉ là việc nhà
nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất mà phải được hiểu là việc nhà
nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất và giá trị tài sản gắn liền với đất bị
thu hồi cho người bị thu hồi đất.
Từ lý luận và thực tiễn pháp luật nói trên, chúng ta có thể nhận định
rằng; bồi thường khi nhà nước thu hồi đất là việc nhà nước trả lại giá trị
quyền sử dụng đất và giá trị tài sản gắn liền với đất bị thu hồi cho người
một lần nữa”, như tái bản, tái tạo, tái thiết… Còn định cư là “ở một nơi
nhất định để sinh sống, làm ăn”[29, tr. 547].
Theo Ngân hàng phát triển châu Á (ADB); “Tái định cư là xây
dựng khu dân cư mới, có đất để sản xuất và đủ cơ sở hạ tầng công cộng
13
tại một địa điểm khác”. [36, tr.6].
Trong các văn bản pháp luật ở Việt Nam, “thuật ngữ tái định cư”
được sử dụng khá phổ biến nhưng nội hàm của khái niệm này thế nào lại
chưa được giải thích cụ thể. Khái niệm về tái định cư không được “tìm
thấy” trong nội dung của Luật đất đai năm 1987, Luật đất đai năm 1993,
Luật đất đai năm 2003 và trong các văn bản hướng dẫn thi hành. Luật
đất đai năm 2003 chỉ quy định: “Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực
thuộc Trung ương lập và thực hiện các dự án tái định cư trước khi thu
hồi đất để bồi thường bằng nhà ở, đất ở cho người bị thu hồi đất mà phải
di chuyển chỗ ở…Trường hợp không có khu tái định cư thì người bị thu
hồi đất được bồi thường bằng tiền và được ưu tiên mua hoặc thuê nhà ở
thuộc sở hữu nhà nước đối với khu vực đô thị; bồi thường bằng đất ở đối
với khu vực nông thôn…” (khoản 3 Điều 42);
Từ thực tiễn của Việt Nam trong những năm qua, tái định cư có thể
được hiểu là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải chuẩn bị nơi ở
mới đáp ứng đầy đủ các điều kiện do pháp luật quy định cho người bị
nhà nước thu hồi đất ở để giúp họ nhanh chóng ổn định cuộc sống.
Với những quan niệm nêu trên, chúng ta có thể đi đến định nghĩa:
Pháp luật về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất
được hiểu là hệ thống các qui phạm điều chỉnh hoạt động của các cơ
quan nhà nước, các tổ chức và cá nhân công dân liên quan đến việc việc
nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất và giá trị tài sản gắn liền với
và giao đất đã thu hồi cho tổ chức, cá nhân thực hiện dự án đầu tư.
Thực hiện pháp luật về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà
nước thu hồi đất là toàn bộ hoạt động của các tổ chức, cá nhân có thẩm
quyền theo qui định của pháp luật thực hiện các công việc theo chức
15
năng và nhiệm vụ của mình để các quy phạm pháp luật về bồi thường hỗ
trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất và các quy phạm pháp luật
khác có liên quan được các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và mọi
công dân tuân thủ, chấp hành một cách nghiêm chỉnh và triệt để.
Xét ở khía cạnh chung nhất, thực hiện pháp luật về bồi thường, hỗ
trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất mang những đặc điểm chung
của thực hiện pháp luật nói chung theo quan điểm của Lý luận về nhà
nước và pháp luật. Tuy vậy, khi nghiên cứu, tìm hiểu về vấn đề này,
chúng ta có thể thấy một số điểm sau
Thứ nhất, thực hiện pháp luật về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
khi nhà nước thu hồi đất chủ yếu được thực hiện dưới hình thức áp dụng
pháp luật. Điều đó có nghĩa là nếu việc thực hiện pháp luật thuộc nhiều
lĩnh vực khác có thể được thực hiện một cách chủ động, hoặc bị động từ
bất kỳ một cá nhân hay tổ chức nào là chủ thể pháp luật, thì việc thực
hiện pháp luật về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi
đất trước hết là hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Thứ hai, thực hiện pháp luật về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
khi nhà nước thu hồi đất là hoạt động phức tạp. Tính chất phức tạp của
hoạt động này được thể hiện ở cả khía cạnh pháp lý và khía cạnh thực tế.
Ở khía cạnh pháp lý, nội dung pháp luật về bồi thường, hỗ trợ và tái
định cư khi nhà nước thu hồi đất liên quan đến nhiều lĩnh vực pháp luật
chuyên ngành khác nhau như luật đất đai, luật dân sự, luật hành chính…
phê duyệt dự án của cơ quan có thẩm quyền; đối với dự án đầu tư sử
dụng nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước thì nhu cầu sử dụng đất được
17
xác định theo văn bản thẩm định nhu cầu sử dụng đất của cơ quan nhà
nước có thẩm quyền; đối với dự án xây dựng cơ sở tôn giáo thì nhu cầu
sử dụng đất được xác định theo quyết định của Ủy ban nhân dân cấp
tỉnh.
Cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành văn bản thông báo về
chủ trương thu hồi đất hoặc văn bản chấp thuận địa điểm đầu tư theo qui
định của pháp luật. Đồng thời, cơ quan có thẩm quyền nơi có đất bị thu
hồi có trách nhiệm chỉ đạo phổ biến rộng rãi chủ trương thu hồi đất, các
quy định về thu hồi đất, về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi thu hồi
đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích
công cộng và phát triển kinh tế;
Bước 2. Chuẩn bị hồ sơ địa chính cho khu đất bị thu hồi
Trên cơ sở chủ trương đã được công bố, các cơ quan có thẩm quyền
trực tiếp hoặc chỉ đạo bộ phận chức năng chuẩn bị hồ sơ địa chính cho
khu đất bị thu hồi. Theo đó, các đơn vị chức năng sẽ tiến hành các công
việc cụ thể:
- Chỉnh lý bản đồ địa chính cho phù hợp với hiện trạng và làm trích
lục bản đồ địa chính. Đồng thời, hoàn chỉnh và trích sao hồ sơ địa chính
(sổ địa chính) để gửi cho cơ quan có chức năng thực hiện nhiệm vụ bồi
thường, giải phóng mặt bằng;
- Lập danh sách các thửa đất bị thu hồi với các nội dung: số hiệu tờ
bản đồ, số hiệu thửa đất, tên người sử dụng đất, diện tích của phần thửa
đất có cùng mục đích sử dụng, mục đích sử dụng đất.
Bước 3. Lập, thẩm định và xét duyệt phương án tổng thể về bồi
19
thì phải dừng thực hiện quyết định thu hồi đất; cơ quan nhà nước đã ban
hành quyết định thu hồi đất phải có quyết định hủy bỏ quyết định thu
hồi đất đã ban hành và bồi thường thiệt hại do quyết định thu hồi đất gây
ra (nếu có). Trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết
khiếu nại có kết luận việc thu hồi đất là đúng pháp luật thì người có đất
bị thu hồi phải chấp hành quyết định thu hồi đất.
Bước 6. Kê khai, kiểm kê và xác định nguồn gốc đất đai
Sau khi có quyết định thu hồi đất, cơ quan có chức năng thực hiện
nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng có trách nhiệm triển khai
thực hiện việc kê khai, kiểm kê đất đai, tài sản gắn liền với đất và xác
định nguồn gốc đất đai.
Trên cơ sở đó, cơ quan có chức năng thực hiện nhiệm vụ bồi
thường, giải phóng mặt bằng thực hiện việc kiểm tra xác định nội dung
kê khai và thực hiện kiểm kê đất đai, tài sản gắn liền với đất, xác định
nguồn gốc đất đai để xác định nguồn gốc sử dụng đất; xác định các
trường hợp được bồi thường, được hỗ trợ, được tái định cư.
Bước 7. Lập, thẩm định và xét duyệt phương án bồi thường, hỗ
trợ và tái định cư, công khai phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định
cư
Cơ quan có chức năng thực hiện nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt
bằng có trách nhiệm lập và trình phương án cụ thể về bồi thường, hỗ trợ và
tái định cư trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.
Sau khi phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được phê duyệt,
cơ quan có thức năng thực hiện nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt
bằng có trách nhiệm phổ biến và niêm yết công khai quyết định phê
1.4. Những yếu tố cơ bản ảnh hưởng trực tiếp đến việc thực
hiện pháp luật về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu
hồi đất
- Công tác đăng ký quyền sử dụng đất, lập và quản lý hồ sơ địa
chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Các nước trên thế giới đều coi đất đai là một loại tài sản phải đăng
ký quyền sở hữu, quyền sử dụng. Ở nước ta, theo quy định của Luật Đất
đai, người sử dụng đất phải đăng ký quyền sử dụng đất tại cơ quan nhà
nước có thẩm quyền để được xét duyệt lập hồ sơ địa chính, cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất. Hệ thống hồ sơ địa chính và giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất có liên quan mật thiết với công tác bồi thường,
hỗ trợ, tái định cư và là một trong những yếu tố quyết định khi xác định
nguồn gốc sử dụng đất, đối tượng và mức bồi thường, hỗ trợ.
Lập và quản lý chặt chẽ hồ sơ địa chính có vai trò quan trọng hàng
đầu để “quản lý chặt chẽ đất đai trong thị trường bất động sản”, là cơ sở
xác định tính pháp lý của đất đai. Tuy nhiên, rất nhiều xã, phường, thị
trấn chưa lập đầy đủ hồ sơ địa chính theo quy định để phục vụ yêu cầu
quản lý.
Trong công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu
hồi đất, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là căn cứ để xác định đối
tượng được bồi thường, loại đất, diện tích đất để tính bồi thường. Hiện
nay, công tác đăng ký đất đai ở nước ta nói chung, ở tỉnh Hà Nam nói
riêng vẫn còn yếu kém, đặc biệt công tác đăng ký biến động về sử dụng
đất; việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vẫn chưa hoàn tất.
Chính vì vậy mà công tác bồi thường giải phóng mặt bằng đã gặp rất