đánh giá việc thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất tại một số dự án trên địa bàn huyện hiệp hoà - tỉnh bắc giang - Pdf 23

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN
PHÙNG VĂN THÀNH
Tên đề tài:
ĐÁNH GIÁ VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BỒI THƢỜNG,
HỖ TRỢ VÀ TÁI ĐỊNH CƢ KHI NHÀ NƢỚC THU HỒI ĐẤT
TẠI MỘT SỐ DỰ ÁN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN HIỆP HOÀ -
TỈNH BẮC GIANG Chuyên ngành : QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
Mã số : 60. 62. 16
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Phạm Quang Hà


LỜI CẢM ƠN Trong quá trình điều tra, nghiên cứu để hoàn thành luận văn, ngoài sự nỗ
lực của bản thân, tôi đã được sự giúp đỡ nhiệt tình của Khoa Sau Đại học, các
thầy, cô trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên. Bên cạnh đó tôi cũng được
sự giúp đỡ nhiệt tình, chu đáo của cơ quan, tổ chức, nhân dân và địa phương.
Tôi xin bày tỏ sự cảm ơn trân trọng nhất tới giáo viên hướng dẫn khoa
học PGS.TS Phạm Quang Hà đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt
quá trình hoàn thành luận văn.
Tôi xin trân trọng cảm ơn sự góp ý chân thành của các thầy, cô giáo
trong khoa và nhà trường, Hội đồng GPMB huện Hiệp Hoà, phòng TN&MT
huyện, UBND thị trấn Thắng, UBND các xã Đại Thành, Hợp Thịnh, đã nhiệt
tình giúp đỡ tôi trong quá trình hoàn thành luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Tác giả luận văn Phùng Văn Thành
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Doanh nghiệp
: DN
Giải phóng mặt bằng
: GPMB
Giấy chứng nhận
: GCN

thuộc dự án 1 69
Bảng 4.12. Phương thức sử dụng tiền bồi thường hỗ trợ của các hộ dân
thuộc dự án 2 (số tiền được làm tròn số) 70
Bảng 4.13. Trình độ văn hoá, chuyên môn của số người trong độ tuổi
lao động tại 02 dự án nghiên cứu 71
Bảng 4.14. Thu nhập bình quân của người dân tại 02 dự án nghiên cứu 73
Bảng 4.15. Tình hình thu nhập của các hộ sau khi thu hồi đất tại 2 dự án 73
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 4.1: Bản đồ hành chính tỉnh Bắc Giang 31
Hình 4.2. Cơ cấu sử dụng đất huyện Hiệp Hoà, năm 2009 34
Hình 4.3. Cơ cấu kinh tế huyện Hiệp Hoà năm 2009 38
Hình 4.4. Cơ cấu lao động phân theo ngành kinh tế 40
Ảnh 1: Khu TĐC dự án 1 48
Ảnh 2 : Công nhân trên công trình của dự án 2 49
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

MỤC LỤC Phần I: ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.1. Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2. Mục đích, yêu cầu 2
1.2.1. Mục đích 2
1.2.2. Yêu cầu 3
Phần II: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
2.1. Bản chất của công tác bồi thường, GPMB 4
2.2 Chính sách bồi thường, hỗ trợ và TĐC của các tổ chức tài và một số

4.1.1. Điều kiện tự nhiên 30
4.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội 36
4.2. Một số nội dung Quản lý đất đai của huyện Hiệp Hoà từ năm 2003 đến
nay 46
4.2.1. Tình hình đo đạc lập bản đồ địa chính 46
4.2.2. Lập quy hoạch, Kế hoạch sử dụng đất 46
4.2.3. Công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 46
4.2.4. Công tác thanh tra giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai 47
4.3. Tình hình chung về công tác bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi
đất trên địa bàn huyện Hiệp Hoà - tỉnh Bắc Giang 47
4.4. Giới thiệu về hai dự án và các văn bản pháp lý liên quan đế hai dự án
48
4.4.1. Dự án xây dựng công viên trung tâm huyện Hiệp Hoà – Dự án 1 48
4.4.2. Dự án xây dựng trạm biến áp 500 Kv Sơn La - Hiệp Hoà – Dự án 2 . 49
4.4.3. Các văn bản pháp lý có liên quan đến bồi thường, hỗ trợ tại hai dự án
50
4.5. Đánh giá việc thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi
Nhà nước thu hồi đất tại hai dự án nghiên cứu 51
4.5.1. Xác định đối tượng, điều kiện được bồi thường hỗ trợ về đất 51
4.5.2. Kết quả điều tra, xác định các đối tượng và điều kiện được bồi thường ở
2 dự án nghiên cứu 53
4.5.3. Bồi thường, hỗ trợ về đất, tài sản, công trình, vật nuôi trên đất 56
4.5.4. Kết quả thực hiện bồi thường, hỗ trợ về đất và tài sản, công trình trên đất
ở hai dự án 60
4.5.5. Chính sách hỗ trợ 61
4.5.6. Kết quả thực hiện các khoản hỗ trợ của hai dự án 64
4.5.7. Chính sách TĐC 64
4.5.8. Đánh giá chung kết quả đạt được và những tồn tại của hai dự án, giải
pháp thực hiện 65
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

không những mất đi mà còn tăng lên.
Việt Nam cũng như nhiều nước khác trên thế giới, việc bồi thường đất đai,
giải phóng mặt bằng (GPMB) là vấn đề mà Nhà nước phải đối mặt như một quy
luật tất yếu và phổ biến, không thể tránh khỏi. Đây là một vấn đề hết sức nhạy
cảm, phức tạp tác động tới mọi mặt của đời sống kinh tế - chính trị - xã hội.
Trong điều kiện quỹ đất ngày càng hạn hẹp, giá đất ngày càng cao, nhịp
độ phát triển ngày càng lớn thì nhu cầu GPMB càng trở nên cấp thiết và trở
thành một thách thức lớn đối với sự phát triển kinh tế, chính trị - xã hội trên
phạm vi vùng, quốc gia. Vấn đề bồi thường, GPMB trở thành điều kiện tiên
quyết để thực hiện dự án phát triển, nếu không được xử lý tốt thì sẽ trở thành
vật cản của sự phát triển kinh tế - xã hội, bởi vậy đòi hỏi phải có sự quan tâm
đúng mức và giải quyết triệt để.
Ngày nay đất nước ta đang tiến hành công cuộc đổi mới kinh tế, công
nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước. Chúng ta đã và đang triển khai nhiều dự
án đầu tư xây dựng và cải thiện cơ sở hạ tầng, các dự án đều cần quỹ đất. Sự
phát triển đô thị, khu dân cư, an ninh quốc phòng, cơ sở sản xuất đều cần có

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

2
qũy đất. Việc GPMB, thu hồi đất đang diễn ra ở mọi nơi song gặp nhiều khó
khăn trong công tác bồi thường, TĐC làm ảnh hưởng đến tiến độ và thời gian
thi công công trình, gây nhiều thiệt hại cho Nhà nước.
Việc bồi thường, TĐC hiện nay được thực hiện theo các quy định của
Chính phủ như: điều 42 Luật Đất đai (Luật Đất đai) ngày 26/11/2003, Nghị
định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về bồi thường, hỗ
trợ và TĐC khi Nhà nước thu hồi đất; Nghị định 84/2007/NĐ-CP ngày
25/5/2007 của Chính phủ Quy định bổ sung về việc cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục
bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu

- Các số liệu, tài liệu điều tra phải phản ánh đúng tình hình thực hiện
chính sách bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất ở một số dự án trên địa bàn
huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang.
- Các số liệu phải có độ chính xác và được phân tích, đánh giá một cách
khách quan.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

4
Phần II
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

2.1. Bản chất của công tác bồi thƣờng, GPMB
Theo từ điển tiếng Việt thì: "Bồi thường" hay “đền bù” có nghĩa là trả lại
tương xứng giá trị hoặc công lao cho một chủ thể nào đó bị thiệt hại vì một
hành vi của chủ thể khác. “GPMB” có nghĩa là di dời, di dân đi nơi khác để
lấy mặt bằng xây dựng công trình [21].
Điều này có nghĩa là:
+ Không phải mọi khoản đều bồi thường bằng tiền
+ Sự mất mát của người bị thu hồi đất không chỉ là về mặt vật chất mà
nhiều trường hợp còn mất mát cả về tinh thần nhất là khi phải tái định cư.
+ Về mặt hành chính thì đây là một quá trình không tự nguyện, có tính
cưỡng chế và vốn là điều hoà sự "hi sinh" không chỉ là một sự bồi thường
ngang giá tuyệt đối.
Việc bồi thường có thể vô hình (xin lỗi) hoặc hữu hình (bồi thường bằng
tiền, bằng vật chất khác), có thể do các quy định của pháp luật điều tiết, hoặc
do thỏa thuận giữa các chủ thể.

2.2.1.1. Trung Quốc
Có thể thấy rằng Luật Đất đai của Trung Quốc có nhiều nét tương đồng
với Luật Đất đai của Việt Nam. Tuy nhiên nhìn về tổng thể, Trung Quốc là
một nước khá thành công trong việc thực hiện công tác bồi thường và TĐC.
Nguyên nhân chính của sự thành công đó là do nước này có một hệ thống
pháp luật nói chung và pháp Luật Đất đai nói riêng rất đầy đủ, chi tiết đồng
bộ, phù hợp với công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất năng động, khoa
học. Cùng với một Nhà nước pháp quyền vững chắc, năng lực thể chế của
chính quyền địa phương theo thẩm quyền có hiệu lực cao, người dân có ý
thức chấp hành pháp luật nghiêm minh. Bên cạnh đó việc sử dụng đất đai tại
Trung Quốc thực sự tiết kiệm, Nhà nước Trung Quốc hoàn toàn cấm việc mua

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

6
bán chuyển nhượng đất đai. Do vậy thị trường đất đai gần như không tồn tại
mà chỉ có thị trường nhà cửa. Trung Quốc xây dựng chính sách và các thủ tục
rất chi tiết ràng buộc hoạt động TĐC với nhiều lĩnh vực khác nhau, trong đó
mục tiêu của chính sách này là cung cấp cơ hội cho TĐC thông qua cách tiếp
cận cơ bản nơi ở ổn định, tạo nguồn lực sản xuất cho người thuộc diện bồi
thường và tái định cư. Về phương thức bồi thường, Nhà nước thông báo cho
người sử dụng đất biết trước việc họ sẽ bị thu hồi đất trong thời hạn một năm.
Người dân có quyền lựa chọn các hình thức bồi thường, bằng tiền hoặc nhà tại
khu ở mới. Giá bồi thường theo tiêu chuẩn giá thị trường. Nhưng đồng thời
được Nhà nước quy định cho từng khu vực và điều chỉnh rất linh hoạt cho
phù hợp với thực tế. Đối với các dự án phải bồi thường GPMB thì kế hoạch
TĐC chi tiết được chuẩn bị trước khi thông qua dự án cùng với việc dàn xếp
kinh tế, khôi phục cho từng địa phương từng hộ gia đình và từng người bị ảnh
hưởng [1].
2.2.1.2. Thái Lan

2.2.1.3. Australia
Luật Đất đai của Australia quy định đất đai của quốc gia thuộc sở
hữu Nhà nước và sở hữu tư nhân. Luật Đất đai bảo hộ tuyệt đối quyền lợi và
nghĩa vụ cảu chủ sở hữu đất đai. Chủ sở hữu đất đai có quyền cho thuê,
chuyển nhượng, thế chấp, thừa kế theo di chúc mà không có sự cản trở nào,
kể cả việc tích luỹ đất đai. Luật cũng quy định Nhà nước có quyền trưng thu
đất tư nhân để sử dụng vào mục đích công cộng, phục vụ phát triển kinh tế, xã
hội và việc trưng thu đó gắn liền với việc Nhà nước thực hiện bồi thường.
Theo Luật Accquisition Act 1989 của Australia có hai loại thu hồi đất,
đó là thu hồi đất bắt buộc và thu hồi đất tự nguyện.
Thu hồi đất tự nguyện được tiến hành khi chủ đất cần được thu hồi đất.
Trong thu hồi đất tự nguyện không có quy định đặc biệt nào được áp dụng mà
việc thoả thuận đó là nguyên tắc cơ bản nhất. Chủ có đất cần được thu hồi và

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

8
người thu hồi đất sẽ thoả thuận giá bồi thường đất trên tinh thần đồng thuận
và căn cứ vào thị trường. Không có bên nào có quyền hơn bên nào trong thoả
thuận và cũng không có bên nào được áp đặt đối via bên kia.
Thu hồi đất bặt buộc được Nhà nước Australia tiến hành khi Nhà nước
có nhu cầu sử dụng đất cho các mục đích cong cộng và các mục đích khác.
Thông thường, Nhà nước thu hồi được đất thông qua đàm phán.
Trình tự thu hồi đất bắt buộc được thực hiện như sau: Nhà nước gửi
cho các chủ đất một văn bản trong đó nêu rõ mục tiêu thu hồi đất vì các mục
đích công cộng. Văn bản này gồm các nội dung chính như cơ quan muốn thu
hồi đất, miêu tả chi tiết khu đất, mục đích sử dụng đất sau khi thu hồi và các
giải thích vì sao mảnh đất đó phù hợp với mục tiêu công cộng đó. Chủ sở hữu
mảnh đất có thể yêu cầu Bộ Tài chính và quản lý xem xét lại vấn đề thu hồi
đất. Nếu chủ sở hữu vẫn chưa hài lòng thì có thể tiếp tục yêu cầu Trọng tài

chứ không phải chính sách bồi thường vật chất. Từ quan điểm đó chính sách
bồi thường công bằng là bồi thường ngang bằng với tình trạng như không có
dự án được sử dụng bằng giá thay thế, sao cho đời sống của người bị ảnh
hưởng sau khi được bồi thường ít nhất phải đạt được ngang mức cũ của họ
như trước khi có dự án. Tuy vậy các chính sách này cũng có những khác biệt
so với chính sách của Nhà nước Việt Nam như:
- Khái niệm hợp pháp hay không hợp pháp trong chính sách bồi thường,
TĐC là một trong những khác biệt có khả năng gây ra những vấn đề xã hội
lớn khi áp dụng chính sách TĐC của ADB. Theo ADB và WB thì thiếu chứng
thư hợp pháp về đất sẽ không ảnh hưởng tới bồi thường cho một số nhóm dân
bị ảnh hưởng và được mở rộng đối với cả đối tượng không bị thiệt hại về đất
và tài sản mà chỉ bị ảnh hưởng tới mặt tinh thần. Ở Việt Nam trước kia chỉ bồi
thường cho những người có chứng thư hợp pháp nhưng ở Nghị định
197/2004/NĐ-CP đó mở rộng hơn khái niệm hợp pháp, đồng thời có quy định

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

10
rõ ràng các trường hợp không được bồi thường về đất nếu xét thấy cần được
hỗ trợ thì UBND cấp tỉnh ra quyết định đối với từng trường hợp có thể.
- Theo chính sách của ADB thì việc bồi thường, hỗ trợ và TĐC bao giờ
cũng phải hoàn thành xong trước khi tiến hành công trình xây dựng, trong khi
ở Việt Nam chưa có quy định rõ ràng về thời hạn này (rất nhiều dự án về giải
tỏa mặt bằng và triển khai thi công, chỗ nào GPMB xong thì thi công trước
tránh lấn chiếm đất đai), do vậy, nhiều gia đình còn chưa kịp thời sửa chữa,
xây dựng lại hoặc xây dựng nhà ở mới ổn định trước khi giải tỏa.
- Quy định của ngân hàng ADB là không những phải thông báo đầy đủ
các thông tin về dự án cũng như chính sách bồi thường, tái định cư của dự án
cho các hộ dân mà còn tham khảo ý kiến và tìm mọi cách thỏa mãn các yêu
cầu chính đáng của họ trong suốt quá trình kế hoạch hóa cũng như thực hiện

quy định thể lệ tạm thời về trưng dụng ruộng đất, là văn bản pháp quy đầu tiên
liên quan đến việc bồi thường và TĐC bắt buộc ở Việt Nam. Nghị định này
quy định những nguyên tắc cơ bản trong việc trưng dụng ruộng đất của nhân
dân trong việc xây dựng những công trình do Nhà nước quản lý, đó là: "Đảm
bảo kịp thời và đủ tiện ích cần thiết cho công trình xây dựng đồng thời chiếu cố
đúng mức quyền lợi và đời sống của người có ruộng đất. Những người có
ruộng đất được trưng dụng được bồi thường và trong trường hợp cần thiết được
giúp giải quyết công ăn việc làm ". Có thể nói, những nguyên tắc cơ bản của
việc bồi thường thiệt hại trong Nghị định 151/TTg là rất đúng đắn, đáp ứng nhu
cầu trưng dụng đất đai trong những năm 1960. Tuy nhiên, Nghị định chưa quy
định cụ thể mức bồi thường thiệt hại mà chỉ quan tâm đến sự thỏa thuận của
các bên. Tiếp đó, ngày 06 tháng 07 năm 1959 ban hành Thông tư liên bộ:
1424/TTLB hướng dẫn thi hành Nghị định 151/TTg.
Ngày 11 tháng 01 năm 1970 Thủ tướng Chính phủ ban hành Thông tư:
1792/TTg quy định một số điểm tạm thời về bồi thường nhà cửa, đất đai và
cây cối lâu năm, hoa màu cho nhân dân xây dựng vùng kinh tế mới, mở

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

12
rộng tỉnh trên nguyên tắc: "Phải đảm bảo thỏa đáng quyền lợi hợp pháp của
Hợp tác xã và của nhân dân". Tuy nhiên, thông tư này mới chỉ dừng lại ở
việc quy định bồi thường về tài sản trên đất mà chưa đề cập cụ thể đến
chính sách bồi thường về đất.
Hiến pháp năm 1980 quy định về đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà
nước thống nhất quản lý, ngày 01 tháng 07 năm 1980 Hội đồng Chính phủ ra
Quyết định số 201/CP về việc "Không được phát canh, thu tô, cho thuê, cầm
cố hoặc bán nhượng đất dưới bất cứ hình thức nào, không được dùng để thu
những khoản lợi không do thu nhập mà có, trừ trường hợp do Nhà nước quy
định". Quan hệ đất đai thời kỳ đơn thuần chỉ là quan hệ "Giao-thu" giữa Nhà

ổn định lâu dài và có trách nhiệm, nghĩa vụ của người được Nhà nước cho sử
dụng đất (Tổ chức và cá nhân có trách nhiệm bảo vệ, bồi thường khai thác
hợp lý, sử dụng tiết kiệm đất, được chuyển quyền sử dụng đất do Nhà nước
giao theo quy định của pháp luật). Tại Điều 23, Hiến pháp quy định: "Tài sản
hợp pháp của cá nhân, tổ chức không bị quốc hữu hóa, trong trường hợp thật
cần thiết vì lý do An ninh - Quốc phòng, lợi ích quốc gia mà Nhà nước trưng
mua hay trưng dụng, có bồi thường tài sản của cá nhân hay tổ chức theo thời
giá thị trường" [11].
Trên cơ sở Hiến pháp năm 1992, thừa kế có chọn lọc Luật Đất đai năm
1988, Luật Đất đai năm 1993 ra đời với những đổi mới quan trọng, đặc biệt
với nội dung thu hồi đất phục vụ cho công cộng và bồi thường khi Nhà nước
thu hồi đất. Luật Đất đai năm 1993 thể chế hóa các quy định của Hiến pháp
năm 1992 về đất đai thông qua việc giao đất, cho thuê đất, chế độ quản lý, sử
dụng các loại đất, quản lý việc sử dụng đất đúng hợp lý, xác định thời hạn
giao đất, cho thuê đất, thẩm quyền thu hồi và giao, cho thuê đất; hạn mức sử
dụng các loại đất và quy định cụ thể các quyền và nghĩa vụ của các tổ chức,
cá nhân sử dụng đất. Luật quy định rõ hơn về quyền của người được giao đất
gồm: quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế, cho thuê, thế chấp. Đồng

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

14
thời, Chính phủ quy định khung giá đất cho từng loại đất, từng vùng theo thời
gian [14].
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai ngày 29 tháng 6 năm
2001 quy định cụ thể hơn về bồi thường, GPMB khi Nhà nước thu hồi đất sử
dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng.
Việc bồi thường, hỗ trợ được thực hiện theo quy định của Chính phủ. Nhà
nước có chính sách để ổn định đời sống cho người có đất bị thu hồi [16].
Luật Đất đai 2003 có ý nghĩa quan trọng, đáp ứng yêu cầu mới đặt ra

công nghiệp cao su, khu vui chơi giải trí, khu dân cư tập trung và các dự án
đầu tư phát triển khác được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định và
đất sử dụng xây dựng các công trình phục vụ công ích, cộng đồng khác không
nhằm mục đích kinh doanh của địa phương, do UBND tỉnh, tỉnh trực thuộc
TW quyết định. Nghị định 22/1998/NĐCP ngày 24/04/1998 quy định chi tiết
hơn, hoàn chỉnh hơn, toàn diện hơn, tiến bộ hơn và hợp lý hơn Nghị định
90/CP. Mở rộng phạm vi được bồi thường cho các đối tượng có khả năng hợp
pháp hóa quyền sử dụng đất. Giá đất để tính bồi thường được tính trên cơ sở
giá đất của địa phương ban hành theo quy định của Chính phủ nhân với hệ số
K. Các Nghị định trước đây chủ yếu quan tâm đến việc bồi thường đất bị thu
hồi và tài sản trên đất đó thì Nghị định 22/1998/NĐCP ngày 24/04/1998 đó có
thêm một số chính sách hỗ trợ cũng như một số điều khoản mới về việc lập
khu TĐC cho các hộ phải di chuyển.
Thông tư số 145/1998/TT-BTC ngày 04/11/1998 của Bộ Tài chính
hướng dẫn thi hành Nghị định 22/1998/NĐCP ngày 24/04/1998 quy định
phương pháp hệ số K để định giá đất bồi thường, lập lại phương án đền bù và
bổ sung thêm một số nội dung như: Điều kiện đền bù về đất, đền bù về nhà,
công trình kiến trúc về nhà cấp 4, đền bù cho người thuê nhà thuộc quyền sở
hữu của Nhà nước, đền bù cho doanh nghiệp (DN), đơn vị hành chính sự
nghiệp Điểm cần lưu ý trong Thông tư này là giao trách nhiệm cho chủ đầu

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

16
tư là thành viên của Hội đồng GPMB xem xét, thẩm định. Trên cơ sở đó trình
UBND tỉnh phê duyệt hoặc Hội đồng thẩm định thỏa thuận để UBND cấp
huyện phê duyệt.
Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về bồi
thường, hỗ trợ và TĐC khi Nhà nước thu hồi đất. Đây là Nghị định thay thế cho
Nghị định 22/1998/NĐ-CP ngày 24/04/1998 của Chính phủ trong quá trình phát


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status