ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN VĂN DŨNG ĐÁNH GIÁ VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
BỒI THƢỜNG GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG KHI
NHÀ NƢỚC THU HỒI ĐẤT Ở MỘT SỐ DỰ ÁN
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN KỲ ANH,
TỈNH HÀ TĨNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
THÁI NGUYÊN - 2014
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM NGUYỄN VĂN DŨNG
Nguyễn Văn Dũng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
ii
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự
giúp đỡ, những ý kiến đóng góp, chỉ bảo quý báu của các thầy cô giáo trường
Đại học Nông lâm Thái Nguyên.
Để có được kết quả nghiên cứu này, ngoài sự cố gắng và nỗ lực của bản
thân, tôi còn nhận được sự hướng dẫn chu đáo, tận tình của PGS.TS Đặng
Văn Minh, là người hướng dẫn trực tiếp tôi trong suốt thời gian nghiên cứu đề
tài và viết luận văn.
Tôi cũng nhận được sự giúp đỡ, tạo điều kiện của Phòng Tài nguyên &
Môi Trường huyện Kỳ Anh, Phòng Thanh tra huyện Kỳ Anh, Hội đồng bồi
thường hỗ trợ tái định cư huyện Kỳ Anh, các anh chị em và bạn bè đồng
nghiệp, sự động viên, tạo mọi điều kiện về vật chất, tinh thần của gia đình và
người thân.
Với tấm lòng chân thành, tôi xin cảm ơn mọi sự giúp đỡ quý báu đó!
Thái Nguyên, ngày…. tháng…. năm 2014
Tác giả luận văn
1.2.1. Chính sách bồi thường GPMB và tái định cư của các tổ chức tài trợ
(WB và ADB) 6
1.2.2. Chính sách bồi thường GPMB một số nước trên thế giới 8
1.3. Chính sách bồi thường GPMB của Nhà nước qua các thời kỳ 13
1.3.1. Trước khi có Luật đất đai 1993 13
1.3.2. Sau khi ban hành Luật Đất đai 1993 15
1.3.3. Luật sửa đổi một số điều của Luật Đất đai năm 1998, 2001 16
1.3.4. Công tác bồi thường GPMB hiện nay (theo Luật Đất đai 2003) 18
1.4. Cơ sở pháp lý của việc tổ chức thực hiện bồi thường GPMB, hỗ trợ và
TĐC theo Nghị định 84/2007/CP của Chính phủ 18
1.4.1. Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư 18
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
iv
1.4.2. Trách nhiệm của Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư 19
1.4.3. Trách nhiệm của UBND các cấp 19
1.4.4. Trình tự tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư 21
1.5. Những điểm mới về chính sách bồi thường GPMB theo Nghị định số
69/CP so với Nghị định số 84/CP 22
1.6. Những vấn đề tồn tại cần nghiên cứu 24
1.7. Khái quát thực trạng trong công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng
của tỉnh Hà Tĩnh 26
CHƢƠNG 2 30
NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
2.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 30
2.2. Nội dung nghiên cứu 30
2.2.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyên Kỳ Anh 30
2.2.2. Tình hình quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn huyện Kỳ Anh
30
3.4. Đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả của công tác bồi
thường, hỗ trợ và TĐC 76
3.4.1. Các giải pháp về chính sách giá bồi thường đất đai, tài sản 76
3.4.2. Các giải pháp về chính sách hỗ trợ và ổn định cuộc sống 76
3.4.3. Các giải pháp về tổ chức chỉ đạo thực hiện trong công tác bồi
thường GPMB 77
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 80
1. Kết luận 80
2. Kiến nghị 81
TÀI LIỆU THAM KHẢO 82
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
vi
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Ký hiệu
Các chữ viết tắt
ADB
: Ngân hàng phát triển Châu Á
BAH
: Bị ảnh hưởng
BT
: Bồi thường
CNH-HĐH
: Công nghiệp hoá- Hiện đại hoá
GCNQSDĐ
tượng và điều kiện được bồi thường 57
Bảng 3.7. Ý kiến của người dân có đất bị thu hồi về giá bồi thường đất và
tài sản, vật kiến trúc, cây cối hoa màu tại 2 dự án nghiên cứu 61
Bảng 3.8. Tổng hợp diện tích đất thu hồi của hai dự án nghiên cứu 62
Bảng 3.9. Tổng số hộ ảnh hưởng theo loại đất, mức độ bị ảnh hưởng ở hai
dự án nghiên cứu 63
Bảng 3.10. Đơn giá, kết quả bồi thường về đất tại dự án thứ nhất 66
Bảng 3.11. Đơn giá bồi thường về đất tại dự án thứ hai 79
Bảng 3.12. Kết quả bồi thường thiệt hại về đất 80
Bảng 3.13. Kết quả bồi thường tài sản tại 2 dự án 69
Bảng 3.14. Tổng hợp ý kiến của người dân bị thu hồi đất về giá bồi thường
tại 2 dự án 70
Bảng 3.15. Tình hình việc làm của người dân trước và sau khi bị thu hồi đất 74
Bảng 3.16. Tổng hợp ý kiến của người dân về thu nhập trước và sau khi
nhà nước thu hồi đất 74
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai không chỉ là nguồn tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư
liệu sản xuất đặc biệt mà còn là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng cơ
sở kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh và quốc phòng.
Trong những năm gần đây, nền kinh tế nước ta thay đổi một cách
nhanh chóng, nhu cầu về đất cho người dân, cho các công trình xây dựng, các
khu công nghiệp, khu đô thị…tăng lên mạnh mẽ làm cho đất càng trở nên
Tuy nhiên, còn nhiều nội dung cần phải phân tích, đánh giá có cơ sở khoa
học thông qua việc khảo sát thực tế, điều tra xã hội học nhằm sửa đổi và
hoàn thiện các nội dung chính sách, đảm bảo lợi ích hợp pháp cho người có
đất bị thu hồi, duy trì trật tự, kỷ cương của pháp luật, hạn chế tối đa những
tranh chấp, khiếu kiện, khiếu nại về đất của nhân dân trong việc bồi thường
GPMB khi Nhà nước thu hồi đất.
Vì những lý do nêu trên, để đánh giá việc thực hiện chính sách bồi
thường GPMB khi Nhà nước thu hồi đất, được sự phân công của khoa Sau đại
học, dưới sự hướng dẫn của thầy giáo - PGS.TS. Đặng Văn Minh, tôi tiến
hành thực hiện đề tài: “ Đánh giá việc thực hiện chính sách bồi thường giải
phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất ở một số dự án trên địa bàn
huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh”, nhằm điều tra, tìm hiểu thực trạng và tìm ra
nguyên nhân gây cản trở, đề xuất một số giải pháp nhằm đẩy nhanh tiến độ
của công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, đáp ứng yêu cầu cải cách hành
chính của Nhà nước.
2. Mục tiêu của đề tài
2.1. Mục tiêu tổng quát
Đánh giá việc thực hiện chính sách bồi thường giải phóng mặt bằng khi
Nhà nước thu hồi đất ở một số dự án trên địa bàn huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà
Tĩnh 3
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà
Tĩnh.
- Đánh giá tình hình quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn huyện Kỳ
Anh, tỉnh Hà Tĩnh.
- Đánh giá chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trên địa bàn huyện
Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh.
TĐC được hiểu là một quá trình từ bồi thường thiệt hại về đất, tài sản,
di chuyển đến nơi ở mới và các hoạt động hỗ trợ để xây dựng lại cuộc sống,
thu thập, cơ sở vật chất, tinh thần ại đó. TĐC là hoạt động nhằm giảm nhẹ các
tác động xấu về KT-XH đối với bộ phận dân cư đã gánh chịu vì sự phát triển
chung của đất nước.
Hiện nay nước ta, khi Nhà nước thu hồi đất mà phải di chuyển chỗ ở thì
người sử dụng đất được bố trí tái định cư bằng hình thức sau:
- Bồi thường bằng nhà ở.
- Bồi thường bằng đất ở mới.
- Bồi thường bằng tiền để xây dựng nơi ở mới.
TĐC là việc không thể tách rời và giữ vị trí rất quan trọng trong chính sách
giải phóng mặt bằng. 5
Bản chất của công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng trong tình hình
hiện nay không đơn thuần là bồi thường về mặt vật chất mà còn phải đảm bảo
lợi ích của người dân sau khi bị thu hồi đất, đó là có một chỗ ở ổn định với
điều kiện sống bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ, được hỗ trợ đào tạo chuyển đổi
nghề nghiệp, tạo việc làm nhằm ổn định và nâng cao cuộc sống.
1.1.2. Đặc điểm của quá trình bồi thƣờng GPMB
Quá trình bồi thường GPMB mang tính đa dạng và phức tạp:
- Tính đa dạng thể hiện: mỗi dự án được tiến hành trên một vùng đất
khác nhau với điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và trình độ dân trí nhất định.
Đối với khu vực nội thị, mật độ dân cư cao, ngành nghề đa dạng, giá trị đất và
tài sản trên đất lớn dẫn đến quá trình GPMB có đặc trưng nhất định. Đối với
khu vực ven đô, mức độ tập trung dân cư khá cao, ngành nghề dân cư phức
tạp, hoạt động sản xuất đa dạng: công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương
mại, buôn bán nhỏ…quá trình GPMB cũng có đặc trưng riêng của nó. Còn
Ngân hàng Thế giới (WB) là một trong những tổ chức tài trợ quốc tế
đầu tiên đưa ra chính sách về TĐC bắt buộc. Tháng 2/1980, lần đầu tiên chính
sách TĐC được ban hành dưới dạng một Thông báo Hướng dẫn Hoạt động
nội bộ (OMS 2.33) cho nhân viên. Từ đó đến nay chính sách TĐC đã được
sửa đổi và ban hành lại nhiều lần [23].
Như chúng ta đã biết, khi Nhà nước thu hồi đất và TĐC thì những
người bị ảnh hưởng (BAH) là những người mà do hậu quả của dự án họ phải
chịu thiệt hại toàn bộ hay một phần tài sản vật chất và phi vật chất, bao gồm
nhà cửa, cộng đồng, hệ thống hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, các phương
tiện sản xuất bao gồm đất đai, nguồn thu nhập, kế sinh nhai do đất đai tạo ra,
đặc trưng văn hóa và tiềm năng về sự hỗ trợ lẫn nhau để đảm bảo đời sống, tài
nguyên cho sinh tồn và hệ sinh thái v.v. Kinh nghiệm của WB cho thấy việc 7
TĐC không tự nguyện do các dự án phát triển gây nên, trong trường hợp
không thể giảm thiểu được, thường dẫn đến những hiểm họa nghiêm trọng về
kinh tế, xã hội và môi trường do các hệ thống sản xuất bị phá vỡ, con người
phải đối mặt với sự bần cùng hóa khi những tài sản, công cụ sản xuất hay
nguồn thu nhập của họ bị mất đi. Tất cả những điều đó nếu giải quyết không
tốt sẽ dẫn đến những khó khăn, căng thẳng về xã hội và dễ dàng dẫn tới sự
bần cùng hóa đời sống dân cư.
Từ tháng 02/1994, Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) đã bắt đầu áp
dụng bản Hướng dẫn Hoạt động của WB về TĐC và từ tháng 11/1995 Ngân
hàng này đã có chính sách riêng của Ngân hàng về TĐC bắt buộc.
Nhìn chung, phương châm của ADB cũng tương tự như của WB đều có
xu hướng giảm thiểu đến mức thấp nhất các tác động của việc thu hồi đất,
đồng thời có chính sách thoả đáng, phù hợp đảm bảo cho người BAH không
gặp phải bất lợi trong cuộc sống, khôi phục, cải thiện chất lượng cuộc sống,
nguồn sống. Để thực hiện được phương châm đó, thì chìa khoá dẫn tới sự
cầu chính đáng của họ trong suốt quá trình lập kế hoạch bồi thường TĐC
cho tới khi thực hiện công tác lập kế hoạch.
1.2.2. Chính sách bồi thƣờng GPMB một số nƣớc trên thế giới
Đối với bất cứ một quốc gia nào trên thế giới, đất đai là nguồn lực
quan trọng nhất, cơ bản của mọi hoạt động đời sống kinh tế - xã hội. Với
những đặc thù về quan hệ đất đai, nhiều nước trên thế giới cố gắng không
ngừng trong việc hoàn thiện chính sách pháp luật trong đó có chính sách về
bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, đặc biệt các nỗ lực trong việc khôi phục
cuộc sống và khôi phục nguồn thu nhập cho người bị ảnh hưởng. Từ kinh
nghiệm lý thuyết và thực tế cho thấy, các yếu tố đảm bảo cho bồi thường, hỗ
trợ và TĐC thành công là nhờ những chính sách phù hợp của Chính phủ, 9
nguồn tài chính đầu tư, khâu tổ chức của chính quyền địa phương, trình độ
nhận thức và hiểu biết pháp luật của người dân đồng thời phải có sự kiểm
soát, giám sát chặt chẽ của cơ quan quản lý Nhà nước. Dưới đây là một số
kinh nghiệm quản lý đất đai của các nước trên thế giới sẽ phần nào giúp ích
cho Việt nam chúng ta, đặc biệt trong chính sách bồi thường GPMB.
1.2.2.1. Trung Quốc
Ở Trung Quốc, đất đai thuộc chế độ công hữu, gồm sở hữu toàn dân và
sở hữu tập thể. Đất đai ở khu vực thành thị và đất xây dựng thuộc sở hữu nhà
nước. Đất ở khu vực nông thôn và đất nông nghiệp thuộc sở hữu tập thể, nông
dân lao động. Theo quy định của Luật đất đai Trung Quốc năm 1998, đất đai
thuộc sở hữu nhà nước được giao cho các tổ chức, cá nhân sử dụng theo các
hình thức giao đất không thu tiền sử dụng đất (cấp đất), giao đất có thu tiền sử
dụng đất và cho thuê đất [23].
Đất thuộc diện được cấp bao gồm đất sử dụng cho cơ quan nhà nước,
phục vụ mục đích công cộng, xây dựng cơ sở hạ tầng và phục vụ cho mục
đích quốc phòng, an ninh. Đất sử dụng vào mục đích sản xuất kinh doanh thì
Về nguyên tắc bồi thường các khoản tiền bồi thường phải đảm bảo cho
người dân bị thu hồi đất có chỗ ở bằng hoặc cao hơn so với nơi ở cũ. Ở Bắc
Kinh, phần lớn các gia đình dùng số tiền bồi thường đó cộng với khoản tiền
tiết kiệm của họ có thể mua được căn hộ mới. Còn đối với người dân ở khu
vực nông thôn có thể dùng khoản tiền bồi thường mua được hai căn hộ ở cùng
một nơi.
Tuy nhiên, ở thành thị, cá biệt cũng có một số gia đình sau khi được bồi
thường cũng không mua nổi một căn hộ để ở. Những đối tượng trong diện
giải toả mặt bằng thường được hưởng chính sách mua nhà ưu đãi của Nhà
nước, song trên thực tế họ thường mua nhà bên ngoài thị trường. 11
Về tổ chức thực hiện và quản lý giải toả mặt bằng Cục quản lý tài
nguyên đất đai ở các địa phương thực hiện việc quản lý giải toả mặt bằng.
Người nhận khu đất thu hồi sẽ thuê một đơn vị xây dựng giải toả mặt bằng
khu đất đó, thường là các đơn vị chịu trách nhiệm thi công công trình trên khu
đất giải toả [23].
Nhìn chung hệ thống pháp luật về bồi thường và TĐC của Trung Quốc
đều nhằm bảo vệ những người mà mức sống có thể bị giảm do việc thu hồi
đất để thực hiện các dự án. Theo một nghiên cứu gần đây của WB thì các luật
về TĐC của Trung Quốc đối với các dự án phát triển đô thị, công nghiệp và
giao thông "đã đáp ứng đầy đủ các yêu cầu của WB trong tài liệu hướng dẫn
thực hiện TĐC".
1.2.2.2. Hàn Quốc
- Luật bồi thường thiệt hại của Hàn Quốc được chia làm hai thể chế:
+ Một là: Luật “ Đặc lệ” liên quan đến bồi thường thiệt hại cho đất
công cộng đã được quy định theo thủ tục thương lượng của pháp luật.
+ Hai là: Luật “ sung công đất” theo thủ tục quy định cưỡng chế của
công pháp.
trợ 30% giá trị của tòa nhà đó. Còn nếu như là dự án xây dựng nhà chung cư
thì cung cấp cho các đối tượng này nhà chung cư hoặc nhà ở với giá thấp hơn
giá thành. Đối với các đối tác kinh doanh để kiếm sống nhưng có pháp nhân,
các đối tác kinh doanh nông nghiệp, gia cầm thì có chính sách mang tính ân
huệ thì ngoài biện pháp di dời còn ưu tiên cung cấp cho các cửa hàng hoặc
khu vực kinh doanh [20].
1.2.2.3. Nhận xét, đánh giá
Việc xây dựng và phát triển các công trình đều cần đất. Do đất đai
không phải lúc nào cũng có sẵn để đáp ứng cho nhu cầu phát triển kinh tế - xã
hội, quốc phòng, an ninh của mỗi nước. Vì thế, mọi Nhà nước đều phải sử 13
dụng quyền lực của mình để thu hồi đất hoặc trưng thu đất của người đang sở
hữu, đang sử dụng để phục vụ cho nhu cầu xây dựng các công trình phục vụ
lợi ích công cộng, lợi ích quốc gia . Ở mỗi nước, quyền lực thu
hồi, trưng thu đất được ghi trong Hiến pháp hoặc tại Bộ Luật Đất đai hoặc
một bộ luật khác. Nếu việc thu hồi, trưng thu đã phù hợp với quy định của
pháp luật mà người sở hữu hoặc sử dụng đất không thực hiện thì Nhà nước có
quyền chiếm hữu đất đai. Việc thu hồi đất, trưng thu đất và bồi thường về đất
tại mỗi quốc gia đều được thực hiện theo chính sách riêng do Nhà nước đó
quy định.
Qua nghiên cứu chính sách bồi thường GPMB của một số nước và các
tổ chức Ngân hàng Quốc tế, Việt Nam chúng ta cần học hỏi các kinh nghiệm
để tiếp tục hoàn thiện chính sách bồi thường GPMB ở một số điểm sau:
- Hoàn thiện các quy định về định giá đất nói chung và định giá đất để
bồi thường GPMB nói riêng;
- Bổ sung thêm một số giải pháp nhằm hỗ trợ người dân có đất bị
thu hồi khôi phục thu nhập, ổn định cuộc sống, đặc biệt là đối với lao
động trên 35 tuổi;
việc thực hiện đền bù về đất không được thực hiện mà chỉ thực hiện đền bù
những tài sản có trên đất hoặc những thiệt hại do việc thu hồi đất gây nên.
Luật Đất đai năm 1988, không nêu cụ thể việc bồi thường khi Nhà
nước thu hồi đất, mà chỉ nêu nghĩa vụ của người sử dụng đất (Điều 48). Các
văn bản hướng dẫn thi hành Luật Đất đai năm 1988 không hướng dẫn nội
dung về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất mà chỉ tập trung vào việc bồi
thường đất nông nghiệp, đất có rừng khi chuyển sang mục đích khác.
Ngày 31/05/1990, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Quyết định số
186/HĐBT về việc đền bù thiệt hại đất nông nghiệp, đất có rừng khi bị
chuyển sang sử dụng vào mục đích khác thì phải bồi thường thiệt hại. Căn cứ 15
để tính đền bù thiệt hại về đất nông nghiệp và đất có rừng theo Quyết định
này là diện tích, chất lượng và vị trí đất. Tại quyết định này, mức đền bù còn
được phân biệt theo thời hạn sử dụng đất lâu dài hay tạm thời, đồng thời quy
định việc miễn giảm tiền đền bù đối với việc sử dụng đất để xây dựng hệ
thống đường giao thông, thuỷ lợi.
1.3.2. Sau khi ban hành Luật Đất đai 1993
Hiến pháp 1992 ra đời thay thế Hiến pháp 1980 đã quy định: “Nhà
nước phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường
có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN”. Hiến pháp công nhận
và bảo vệ quyền sử dụng đất của các tổ chức, cá nhân và quyền sở hữu cá
nhân về tài sản và sản xuất. Tại Điều 23: “Tài sản hợp pháp của cá nhân, tổ
chức không bị quốc hữu hoá, trong trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc
phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, Nhà nước trưng mua hoặc trưng dụng có bồi
thường tài sản của cá nhân hoặc tổ chức theo thời giá thị trường. Thể thức
trưng mua, trưng dụng do luật định” [2].
Những quy định trên đã tạo điều kiện củng cố quyền hạn riêng của Nhà
nước trong việc thu hồi đất đai cho mục đích an ninh, quốc phòng và các lợi
1.3.3. Luật sửa đổi một số điều của Luật Đất đai năm 1998, 2001
Về cơ bản, Luật Đất đai sửa đổi năm 1998, vẫn dựa trên nền tảng cơ
bản của Luật cũ, chỉ một số điều được bổ sung thêm cho phù hợp với thực tế.
Tháng 10/1999, Cục quản lý Công sản - Bộ Tài chính đã tiến hành dự
thảo lần thứ nhất về việc sửa đổi bổ sung Nghị định 22/1998/CP về việc đền
bù thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất. Trong đó, một số điều cơ bản đã được
đề nghị sửa đổi như xác định mức đất để tính đền bù, giá đất đền bù, lập
khu tái định cư, quyền và nghĩa vụ của người bị thu hồi đất phải chuyển đến
nơi ở mới, các chính sách hỗ trợ và các điều kiện bắt buộc phải có của khu tái