bộ giáo dục và đào tạo
Bộ tư pháp
Trường đại học luật Hà Nội
Nguyễn minh hằng
Pháp luật về chào bán cổ phần
của công ty cổ phần ở việt nam
Những vấn đề lý luận và thực tiễn
Chuyên ngành:
Luật Kinh tế
Mã số:
62.38.50.01
Luận án tiến sĩ luật học
Người hướng dẫn khoa học:
1. TS. PHạM THị GIANG THU
2. Ts. NGUYễN AM HIểU
Hà nội - 2010
Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan đây là công
trình nghiên cứu của riêng tôi.
1
11
CHÀO BÁN CỔ PHẦN VÀ PHÁP LUẬT VỀ CHÀO BÁN CỔ PHẦN
1.1
Những vấn đề lý luận cơ bản về hoạt động chào bán cổ phần
của công ti cổ phần
11
1.2
Những vấn đề lý luận liên quan đến pháp luật về hoạt động
chào bán cổ phần của công ti cổ phần
36
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ CHÀO BÁN CỔ
PHẦN CỦA CÔNG TI CỔ PHẦN Ở VIỆT NAM
70
2.1
70
Quy định về chủ thể tham gia quan hệ chào bán cổ phần của
công ti cổ phần
chào bán cổ phần của các doanh nghiệp ở Việt Nam
183
PHẦN KẾT LUẬN
198
DANH MỤCTÀI LIỆU THAM KHẢO
201
155
1
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Năm 2000 là thời điểm đánh dấu bước đi đầu tiên của thị trường chứng
khoán Việt Nam.Trải qua chặng đường 10 năm, nhu cầu được điều chỉnh
bằng một hệ thống pháp luật minh bạch, đầy đủ đối với hoạt động chào bán
chứng khoán nói chung và hoạt động chào bán cổ phần nói riêng của công ty
cổ phần càng chứng tỏ một cách rõ ràng.Thị trường chứng khoán là một thị
trường tiềm ẩn nhiều rủi ro, tuy nhiên, sức hấp dẫn của thị trường này khiến
cho các nhà đầu tư luôn có nhu cầu tham dự, thậm chí chấp nhận rủi ro. Đứng
ở góc độ bình ổn xã hội và bảo vệ quyền lợi chính đáng của các chủ thể trong
kinh doanh, pháp luật luôn can thiệp để giúp các nhà đầu tư giảm thiểu rủi ro,
từ đó làm cho nền kinh tế ít bị ảnh hưởng bởi những biến động tiêu cực của
một thị trường đặc biệt như thị trường chứng khoán. Pháp luật chủ yếu can
các văn bản pháp luật khác nhau điều chỉnh các vấn đề cụ thể phát sinh trong
quá trình công ty cổ phần thực hiện việc chào bán cổ phần riêng lẻ và chào
bán cổ phần ra công chúng. Hơn nữa, thực trạng pháp luật về chào bán cổ
phần của công ty cổ phần còn nhiều điểm bất cập, hiệu quả áp dụng trên thực
tế chưa cao. Vì vậy,việc nghiên cứu những vấn đề lý luận cũng như thực trạng
pháp luật về hoạt động chào bán cổ phần của công ty cổ phần ở Việt Nam có
thể được thực hiện dưới nhiều cách tiếp cận khác nhau, và ở cách tiếp cận nào
cũng tìm thấy những giá trị cơ bản, đóng góp cho việc hoàn thiện pháp luật về
chào bán cổ phần của công ty cổ phần cũng như nâng cao hiệu quả áp dụng
những quy định pháp luật này trên thực tế.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Pháp luật về chào bán cổ phần của công ty cổ phần bao gồm pháp luật
điều chỉnh hoạt động chào bán cổ phần riêng lẻ và pháp luật điều chỉnh hoạt
động chào bán cổ phần ra công chúng là một trong những nội dung quan
trọng của pháp luật tài chính, thương mại trong điều kiện nền kinh tế thị
trường, đang được nhiều nhà khoa học ở nhiều quốc gia, thuộc các lĩnh vực
khác nhau quan tâm nghiên cứu. Ở các phạm vi và mức độ khác nhau, có một
3
số công trình đã được công bố, đề cập đến một vài khía cạnh kinh tế và pháp
lý của hoạt động chào bán cổ phần của công ty cổ phần.
Xét trên phạm vi khu vực và toàn thế giới, các công trình nghiên cứu về
hoạt động chào bán cổ phần của công ty cổ phần chủ yếu tập trung vào: (i)
giới thiệu các đặc điểm và cách thức tiến hành hoạt động chào bán cổ phần
của công ty cổ phần, đặc biệt là hoạt động chào bán cổ phần ra công chúng
của một số quốc gia trên thế giới (Mark Greene, Securities Finance, Law
Bussines Reseach ltd, 2007); (ii) đánh giá những tác động của hoạt động chào
bán cổ phần của công ty cổ phần tới nền kinh tế (Eilis Ferran, Principles of
Corporate Finance Law, Oxford University Press, 2008; Mathew Harrison,
loại chủ thể là các doanh nghiệp được quyền chào bán chứng khoán ở Việt
Nam bao gồm: doanh nghiệp nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm
hữu hạn và các loại chứng khoán khác nhau được chào bán trong các doanh
nghiệp đó như cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư…
Tuy nhiên, những công trình kể trên mới dừng lại ở việc nghiên cứu
hoạt động chào bán cổ phần của công ty cổ phần dưới góc độ kinh tế và
những ảnh hưởng của hoạt động này tới đời sống xã hội hoặc nghiên cứu từng
khía cạnh nhỏ của hoạt động chào bán cổ phần của công ty cổ phần dưới góc
độ pháp lý, ví dụ như vấn đề chủ thể chào bán cổ phần hoặc phương thức chào
bán cổ phần ra công chúng của công ty cổ phần.
Từ việc đánh giá tình hình hình nghiên cứu pháp luật về hoạt động chào
bán cổ phần ở Việt Nam, cho thấy đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu
pháp luật về chào bán cổ phần của công ty cổ phần dựa trên cơ sở hệ thống
các quy định hiện hành; điều kiện kinh tế xã hội là thời kỳ của Việt Nam giai
đoạn những năm 2005-2010 và quan trọng hơn, chưa có công trình khoa học
pháp lý nào ở cấp độ luận án tiến sĩ luật học chỉ nghiên cứu pháp luật về chào
bán cổ phần của công ty cổ phần ở Việt Nam cho đến thời điểm luận án này
được công bố, trên cơ sở đó chỉ ra cơ sở khoa học của việc hoàn thiện và nâng
cao hiệu quả thực thi pháp luật về hoạt động chào bán cổ phần của công ty cổ
phần ở Việt Nam hiện nay. Có thể khẳng định đây là công trình đầu tiên
nghiên cứu về vấn đề này ở nước ta, với cấp độ luận án tiến sỹ Luật học.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Mục đích của Luận án là làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn của
pháp luật điều chỉnh hoạt động chào bán cổ phần của công ty cổ phần, trên cơ
5
sở đó đưa ra phương hướng hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động chào
bán cổ phần của công ty cổ phần ở Việt Nam trên những điều kiện kinh tế, xã
hội cụ thể.
6
luật và các nguyên tắc chung để hướng tới mục tiêu bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của các nhà đầu tư và đảm bảo cho hoạt động của thị trường phát
hành minh bạch, an toàn, hiệu quả. Do đó, việc nghiên cứu để xây dựng và
hoàn thiện bộ phận pháp luật về chào bán cổ phần của công ty cổ phần là một
yêu cầu tất yếu và có tính chất bắt buộc.
Nhìn chung, pháp luật điều chỉnh hoạt động chào bán cổ phần của công
ty cổ phần là vấn đề pháp luật còn tương đối mới ở Việt Nam và có nội dung
khá phức tạp. Luận án tập trung nghiên cứu những nội dung cơ bản trong
pháp luật điều chỉnh hoạt động chào bán cổ phần của công ty cổ phần, nhất là
những nội dung có nhiều điểm bất cập, đang gây cản trở, làm giảm hiệu quả
của hoạt động chào bán cổ phần của công ty cổ phần ở Việt Nam.
Pháp luật điều chỉnh hoạt động chào bán cổ phần của công ty cổ phần
được tạo thành bởi nhiều quy định pháp luật nằm rải rác ở các văn bản pháp
luật khác nhau, điều chỉnh các vấn đề cụ thể phát sinh trong quá trình công ty
cổ phần thực hiện hoạt động chào bán cổ phần của công ty cổ phần. Vì vậy,
việc nghiên cứu pháp luật điều chỉnh hoạt động chào bán cổ phần của công ty
cổ phần được thực hiện dưới nhiều cách tiếp cận khác nhau. Luận án lựa chọn
cách tiếp cận để nghiên cứu pháp luật điều chỉnh hoạt động chào bán cổ phần
của công ty cổ phần dựa trên các nội dung cơ bản, bao gồm:
(i) Cơ sở lý luận và những điều kiện kinh tế, xã hội để ban hành và thực
thi có hiệu quả pháp luật điều chỉnh hoạt động chào bán cổ phần của công ty
cổ phần ở Việt Nam.
(ii) Các quy định về chủ thể liên quan đến hoạt động chào bán cổ phần
của công ty cổ phần (bao gồm: chủ thể chào bán, chủ thể hỗ trợ chào bán, nhà
đầu tư). Luận án đã lý giải để xác định phạm vi nghiên cứu của đề tài bao
gồm cả việc trình bày về hoạt động chào bán cổ phần của công ty cổ phần
chuyển đổi từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và công ty cổ phần
chuyển đổi từ doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước.
Thứ hai, xác định được rõ kết cấu pháp luật chào bán cổ phần của công
ty cổ phần bao gồm: pháp luật về chủ thể chào bán cổ phần, pháp luật về
8
phương thức chào bán cổ phần và pháp luật về quản lý nhà nước đối với hoạt
động chào bán cổ phần của công ty cổ phần.
Thứ ba, chỉ rõ những bất cập và nguyên nhân dẫn đến bất cập của pháp luật
hiện hành điều chỉnh hoạt động chào bán cổ phần của công ty cổ phần, đang ảnh
hưởng tiêu cực đến hiệu quả thực hiện hoạt động này trên thực tế, đồng thời ảnh
hưởng đến quyền tự do, bình đẳng trong kinh doanh của các công ty cổ phần cũng
như các nhà đầu tư trong điều kiện nền kinh tế thị trường Việt Nam. Những bất cập
của pháp luật điều chỉnh hoạt động chào bán cổ phần của công ty cổ phần ở Việt
Nam được luận án chỉ ra gồm: sự thiếu hụt một khái niệm và phân chia ranh giới cụ
thể giữa chào bán riêng lẻ và chào bán ra công chúng; điều kiện về chào bán cổ
phần ra công chúng và chào bán riêng lẻ còn thể hiện sự hạn chế quyền tự do kinh
doanh của các chủ thể; quy định về nhà đầu tư còn chưa thống nhất; quy định về
cách thức quản lý nhà nước đối với hoạt động chào bán cổ phần của công ty cổ phần
còn thể hiện sự chưa phù hợp và hiệu quả. Trong số những bất cập chủ yếu được chỉ
ra này, luận án xác định rằng bất cập về cách thức quản lý nhà nước đối với hoạt
động chào bán cổ phần của công ty cổ phần là bất cập quan trọng nhất cần được giải
quyết bởi lẽ khi giải quyết được bất cập này, các bất cập khác sẽ được giải quyết
như là hệ quả của việc hiệu quả hóa quản lý nhà nước trong chào bán cổ phần của
công ty cổ phần ở Việt Nam. Những nội dung khác liên quan đến pháp luật về chào
bán cổ phần của công ty cổ phần ở Việt Nam chưa được đề cập trong luận án này sẽ
là những ý tưởng gợi mở để các nhà khoa học tiếp tục nghiên cứu trong những công
trình khoa học khác.
Thứ tư, đề xuất quan điểm và xác định luận cứ khoa học cho việc hoàn
thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động chào bán cổ phần của công ty cổ phần,
pháp lý chuyên ngành, bao gồm:
+ Thứ nhất, trên cơ sở nghiên cứu các học thuyết, quan niệm về hoạt động
chào bán cổ phần của công ty cổ phần ở những nước phát triển cũng như thực
tiễn pháp lý Việt Nam, luận án đã xây dựng được hệ thống lý luận khoa học pháp
luật vê hoạt động chào bán cổ phần của công ty cổ phần ở Việt Nam;
+ Thứ hai, luận án đã chỉ rõ pháp luật về chào bán cổ phần của công ty
cổ phần ở Việt Nam chưa đạt được sự tương thích cần thiết trong tương quan
với pháp luật doanh nghiệp, pháp luật đầu tư. Có thể nói, sự thiếu tương thích
giữa các văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động chào bán cổ phần của công ty
10
cổ phần này là vấn đề rất quan trọng, quyết định tới hiệu quả của hoạt động
chào bán cổ phần của công ty cổ phần;
+ Thứ ba, luận án là công trình khoa học đầu tiên phân tích, đánh giá
một cách có hệ thống những bất cập trong từng quy định cụ thể của pháp luật
điều chỉnh hoạt động chào bán cổ phần của công ty cổ phần ở Việt Nam, cụ
thể là chỉ ra những hạn chế trong các nội dung pháp luật gồm: pháp luật về
chủ thể chào bán cổ phần; pháp luật về phương thức chào bán cổ phần và
pháp luật về quản lý Nhà nước đối với hoạt động chào bán cổ phần của công
ty cổ phần;
+ Thứ tư, luận án đã xây dựng hệ quan điểm khoa học cũng như đưa ra
những giải pháp tiến bộ, hiện đại cho việc hoàn thiện pháp luật điều chỉnh
hoạt động chào bán cổ phần của công ty cổ phần ở Việt Nam phù hợp với
pháp luật và tập quán thương mại quốc tế đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế
quốc tế của Việt Nam.
6. Kết cấu luận án
Ngoài Lời nói đầu và Kết luận, luận án được cơ cấu thành 03 chương
với các nội dung cụ thể như sau:
trường giao dịch chứng khoán để tìm kiếm thu nhập và lợi nhuận. Với những
lợi ích mà cổ phần mang lại cho công ty cổ phần và cho các nhà đầu tư, nền
kinh tế xã hội cũng vì thế mà phát triển, dựa vào sự tăng trưởng vốn kinh
doanh và sự luân chuyển linh hoạt của dòng vốn này.
Ở Việt Nam, giá trị biểu thị một phần vốn đầu tư này được định danh
bằng hai thuật ngữ là “cổ phần” và “cổ phiếu”, người nắm giữ các “cổ phần”,
“cổ phiếu” này gọi là “cổ đông” (Điều 77, Luật Doanh nghiệp 2005). Các
giao dịch thương mại được thiết lập với đối tượng là các cổ phần, cổ phiếu do
công ty cổ phần chào bán đã tạo nên sự linh hoạt trong vấn đề luân chuyển
vốn và tăng trưởng vốn của các chủ đầu tư nói riêng và của cả nền kinh tế - xã
12
hội nói chung. Dưới khía cạnh kinh tế, hoạt động chào bán cổ phần của công
ty cổ phần đã thiết lập nên những mối quan hệ giữa chủ thể chào bán cổ phần
và nhà đầu tư, nhằm mục đích huy động vốn cho hoạt động kinh doanh của
công ty cổ phần và tạo cơ hội đầu tư hưởng lợi nhuận của các nhà đầu tư.
Có thể khẳng định, hoạt động chào bán cổ phần là tiền đề để các chủ
thể có thể thực hiện các giao dịch tài chính, thương mại liên quan đến cổ
phần. Nói cách khác, không có hoạt động chào bán cổ phần sẽ không có
những hoạt động như kinh doanh chứng khoán, môi giới chứng khoán hay lưu
ký chứng khoán [123, tr15]. Như vậy, dưới góc độ kinh tế, hoạt động chào
bán cổ phần là nền tảng, cơ sở để thiết lập nên các hoạt động khác liên quan
đến chứng khoán. Hoạt động này được hiểu là việc tổ chức chào bán có đủ
điều kiện đưa cổ phần vào thị trường theo trình tự thủ tục xác định, với ý
nghĩa giúp các tổ chức chào bán cổ phần dễ dàng huy động vốn với chi phí
thấp hơn so với các hình thức huy động vốn khác.
Chào bán cổ phần của công ty cổ phần là hoạt động mà xét dưới các
góc độ chủ thể khác nhau sẽ mang những ý nghĩa kinh tế - xã hội khác nhau,
các nhóm lợi ích cụ thể được thể hiện như sau:
bản chất hoạt động kinh doanh của công ty. Từ việc xác định các yếu tố này,
công ty có thể lựa chọn phương thức chào bán phù hợp với điều kiện thực tế
của mình và gắn liền với nó là những trình tự, thủ tục theo quy định pháp luật.
Giai đoạn này có ý nghĩa kinh tế quan trọng, quyết định khả năng thành công
của đợt chào bán, có nghĩa là xác định được số vốn mà công ty có thể huy
động được trong đợt chào bán đó. Việc chuẩn bị chào bán có sự tính toán về
tỷ lệ giữa số vốn huy động được và chi phí cần thiết để tiến hành chào bán cổ
phần sẽ góp phần làm tăng hiệu quả kinh tế của hoạt động chào bán cổ phần
của công ty cổ phần.
(ii) Tiến hành chào bán cổ phần: Dưới góc độ kinh tế, đây là hoạt động
tổng hợp các công đoạn chào bán. Tuỳ theo quy mô và phương thức chào bán
mà các công đoạn này được các công ty cổ phần xác định mức độ đơn giản
hay phức tạp. Đối với chào bán cổ phần nội bộ (chào bán riêng lẻ), quá trình
chào bán đơn giản hơn do quy mô và số lượng các nhà đầu tư bị hạn chế. Đối
với chào bán cổ phần rộng rãi cho các nhà đầu tư không hạn chế số lượng
(chào bán ra công chúng), các công đoạn chào bán thường phức tạp do có tổ
chức tài chính trung gian chịu trách nhiệm thiết kế cuộc chào bán, xác định
mức giá cổ phiếu và trực tiếp phân phối cổ phiếu. Trong giai đoạn này, trách
14
nhiệm đối với nhà đầu tư của tổ chức chào bán và tổ chức tài chính trung gian
cũng được xác định. Những hành vi gian lận trong quá trình này cần phải
được loại trừ từ cả hai phía là bên mua và bên bán để đảm bảo sự công bằng
và quyền lợi hợp pháp của các bên. Dưới góc độ kinh tế, việc thực hiện thành
công giai đoạn tiến hành chào bán cổ phần sẽ được thể hiện bằng các yếu tố:
công ty được phép chào bán cổ phần; nhà đầu tư tiến hành mua cổ phần; công
việc thanh toán tiền mua cổ phần hoàn thành. Giai đoạn này có ý nghĩa quan
trọng về mặt kinh tế, quyết định sự thành công của kế hoạch huy động vốn
của công ty cổ phần.
định giá tài sản và giá trị vốn của mỗi thành viên được ghi nhận trong vốn
điều lệ phải bằng chính giá trị đã được định giá. Khác biệt với các hoạt động
góp vốn trên, việc góp vốn vào công ty cổ phần thông qua việc mua cổ phần
do công ty chào bán, chủ đầu tư có thể phải trả lượng vốn lớn hơn, thậm chí
lớn hơn nhiều lần so với giá trị vốn của chủ đầu tư này được ghi nhận trong
vốn điều lệ của công ty cổ phần. Ngược lại, với số trường hợp đặc biệt, giá trị
đồng vốn mà chủ đầu tư bỏ ra để “mua” được lượng cổ phần của công ty cổ
phần lại nhỏ hơn so với giá trị vốn mà chủ đầu tư này được ghi nhận trong
vốn điều lệ của công ty cổ phần. Khác với các loại hình công ty khác, công ty
cổ phần ngay từ đợt chào bán cổ phần lần đầu để hình thành vốn điều lệ mà
thành công đã có một nguồn vốn thặng dư nằm bên ngoài vốn điều lệ của
công ty chào bán. Chính vì vậy, huy động vốn của công ty cổ phần thông qua
việc chào bán cổ phần cho các nhà đầu tư thể hiện sự linh hoạt, hiệu quả hơn
so với hoạt động huy động vốn của các loại hình công ty khác được điều
chỉnh theo Luật Doanh nghiệp. Xuất phát từ đặc trưng về mặt kinh tế của hoạt
động chào bán cổ phần của công ty cổ phần, pháp luật điều chỉnh hoạt động
này cũng thể hiện bản chất kinh tế đó với những đặc trưng riêng biệt.
1.1.1.2. Quan niệm về hoạt động chào bán cổ phần của công ty cổ phần
dưới góc độ pháp lý
Dưới góc độ pháp lý, thông thường hoạt động chào bán cổ phần của
công ty cổ phần được điều chỉnh ở một số vấn đề như sau: các chủ thể tham
gia vào quá trình chào bán cổ phần của công ty cổ phần; phương thức chào
bán cổ phần của công ty cổ phần; hoạt động quản lý nhà nước đối với hoạt
động chào bán cổ phần của công ty cổ phần. Hoạt động chào bán cổ phần của
công ty cổ phần là loại hoạt động có nhiều chủ thể tham gia. Đó có thể là chủ
16
thể chào bán cổ phần, nhà đầu tư, tổ chức bảo lãnh, các tổ chức hỗ trợ chào
bán khác và không thể thiếu sự tham gia của các chủ thể quản lý nhà nước. Số
17
cho người lao động cũng được nêu ra trong các văn bản pháp luật về cổ phần
hoá doanh nghiệp. Theo đó, người lao động trong doanh nghiệp sẽ được
hưởng quyền mua cổ phần của doanh nghiệp tuỳ thuộc vào mức độ đóng góp
của họ vào doanh nghiệp đó.
Tuy có những phương thức chào bán khác nhau tuỳ theo quan niệm,
thực tế chào bán cổ phần cũng như tập quán của các quốc gia khác nhau
nhưng nhìn chung, pháp luật điều chỉnh hoạt động chào bán cổ phần của các
công ty cổ phần theo hệ thống luật Anh Mỹ, luật Châu Âu lục địa (điển hình
là Pháp và Cộng hoà liên bang Đức) và pháp luật một số nước khu vực châu
Á (Trung Quốc, Nhật Bản, Singapore) đều quy định hoạt động chào bán cổ
phần của công ty cổ phần được bao gồm hai phương thức chào bán cơ bản là
chào bán riêng lẻ và chào bán ra công chúng. Có thể khẳng định, cùng với sự
phân biệt hai phương thức này là sự điều chỉnh cụ thể của pháp luật đối với
hoạt động chào bán cổ phần của công ty cổ phần.
Về phương thức chào bán cổ phần riêng lẻ, pháp luật của hầu hết các
quốc gia trên thế giới đều coi đây là một phương thức chào bán chứng khoán
trong phạm vi một số nhà đầu tư nhất định và đôi khi có tính chất đặc biệt như
các tổ chức đầu tư chuyên nghiệp, các nhà đầu tư chiến lược có tiềm lực về
vốn, các công ty đầu tư chứng khoán, các quỹ tín thác đầu tư... Chào bán cổ
phần riêng lẻ thường được các tổ chức chào bán lựa chọn trong các trường
hợp: một là, những công ty cổ phần không đủ tiêu chuẩn, điều kiện để thực
hiện chào bán cổ phần ra công chúng; hai là, những công ty cổ phần tuy đủ
điều kiện chào bán cổ phần ra công chúng nhưng không lựa chọn phương thức
chào bán cổ phần ra công chúng (lý do là số vốn cần huy động ít, nếu chào
bán ra công chúng thì chi phí chào bán cao, hiệu quả huy động vốn vì thế bị
ảnh hưởng hoặc bản thân những công ty cổ phần này không muốn công khai
thông tin với cơ quan quản lý chào bán); ba là, các công ty cổ phần tăng vốn
điều lệ bằng cách chào bán thêm cổ phần cho những cổ đông hiện hữu tương
ứng với tỉ lệ sở hữu vốn cổ phần của họ trong công ty hoặc các nhà đầu tư
như báo chí, đài phát thanh, truyền hình, biển quảng cáo và qua internet [121;
tr4]. Ở Việt Nam, theo Nghị định 01/2010/NĐ-CP ngày 04/01/2010 của Chính
phủ về chào bán cổ phần riêng lẻ, chào bán riêng lẻ có những điểm đặc thù.
Tính đặc thù thể hiện ở chỗ Nghị định này đã phân chia quyền quản lý
19
các chủ thể chào bán cho một số cơ quan Nhà nước có thẩm quyền như Ủy
ban Chứng khoán Nhà nước, Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước… và yêu
cầu chủ thể chào bán phải đăng kí với các cơ quan quản lý trực tiếp trước mỗi
đợt chào bán cổ phần riêng lẻ.
Về phương thức chào bán cổ phần ra công chúng, ở hầu hết các quốc
gia trên thế giới như Mỹ, Trung Quốc và một số quốc gia khác, tiêu chí để
nhận diện một đợt chào bán cổ phần ra công chúng của công ty cổ phần chính
là việc công ty cổ phần chào bán phải tiến hành đăng kí việc chào bán này với
cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Ở Mỹ, Quy chế về thị trường giao dịch
chứng khoán do Uỷ ban chứng khoán và giao dịch chứng khoán Hoa Kỳ ban
hành đã đưa ra định nghĩa chào bán chứng khoán ra công chúng được nhận
diện là hoạt động chào bán mà chủ thể chào bán phải đăng ký hoạt động này
với cơ quan quản lý chứng khoán [123]. Ở Trung Quốc, Luật chứng khoán
đưa ra khái niệm về chào bán chứng khoán ra công chúng, trong đó hoạt động
chào bán này phải được cơ quan quản lý nhà nước về chứng khoán chấp
thuận, xác minh, phê chuẩn.[74]
Chào bán chứng khoán ra công chúng theo quy định của pháp luật Việt
Nam là việc chào bán chứng khoán theo một trong các phương thức như sau:
(i) thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, kể cả internet; (ii) chào bán
chứng khoán cho từ 100 nhà đầu tư trở lên, không kể nhà đầu tư chứng khoán
chuyên nghiệp; (iii) chào bán chứng khoán cho một số lượng nhà đầu tư
không xác định (Khoản 12, Điều 6, Luật Chứng khoán 2006). Theo quan điểm
định các vấn đề khác cần phải điều chỉnh như điều kiện chào bán, thủ tục chào
bán, nhà đầu tư có quyền mua cổ phần chào bán của công ty cổ phần.. Như
vậy, với việc xem xét cách nhìn nhận của pháp luật về một quy trình trong số
các quy trình chào bán cổ phần của công ty cổ phần có thể thấy rằng, dưới góc
độ pháp luật, hoạt động chào bán cổ phần của công ty cổ phần là phức hợp
của nhiều hoạt động khác nhau, thực hiện bởi nhiều chủ thể khác nhau xoay
quanh việc thực hiện một quyền được pháp luật xác nhận và bảo vệ của công
ty cổ phần. Chính vì vậy, hoạt động phức tạp và có khả năng ảnh hưởng lớn
tới nền kinh tế xã hội này đã được các chế định pháp luật điều chỉnh một cách
chi tiết, đầy đủ và cụ thể.
Như vậy, xuất phát từ bản chất kinh tế, hoạt động chào bán cổ phần của
công ty cổ phần được xác định để điều chỉnh dưới dạng một tập hợp các hoạt
21
động tương đối phức tạp của công ty cổ phần và các chủ thể khác có liên quan.
Nghiên cứu hoạt động chào bán cổ phần của công ty cổ phần dưới góc độ pháp
lý để hiểu một cách sâu sắc hơn về bản chất pháp lý của hoạt động này; đồng
thời hoàn thiện khung pháp luật điều chỉnh hoạt động chào bán cổ phần của công
ty cổ phần nói riêng và khung pháp luật tài chính, thương mại nói chung.
1.1.2. Đặc điểm của hoạt động chào bán cổ phần của công ty cổ phần và
phân biệt hoạt động này với các hoạt động huy động vốn khác
1.1.2.1. Đặc điểm của hoạt động chào bán cổ phần của công ty cổ phần
Hoạt động chào bán cổ phần của công ty cổ phần được ghi nhận là một
cách thức huy động vốn điển hình, linh hoạt và có khả năng xã hội hoá cao
của công ty cổ phần. Việc tổ chức thực hiện hoạt động chào bán cổ phần của
công ty cổ phần trong nội bộ doanh nghiệp được giải quyết chủ yếu dựa vào
nguyên tắc đối vốn. Dưới góc độ kinh tế và góc độ pháp lý, khi nghiên cứu
hoạt động chào bán cổ phần của công ty cổ phần, chúng tôi cho rằng hoạt