KHAI THÁC tài NGUYÊN DU LỊCH NHÂN văn của THỊ xã hà TIÊN TRONG PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH KIÊN GIANG - Pdf 48

KHOA KHOA HỌC- XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
BỘ MÔN LỊCH SỬ- ĐỊA LÝ- DU LỊCH
- --- --- --- --- --- --- -- --- --

NGUYỄN THỊ HỒNG ĐÀO

KHAI THÁC TÀI NGUYÊN DU LỊCH NHÂN VĂN CỦA
THỊ XÃ HÀ TIÊN TRONG PHÁT TRIỂN DU LỊCH
TỈNH KIÊN GIANG

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH DU LỊCH

Cần Thơ, tháng 4/2011


KHOA KHOA HỌC- XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
BỘ MÔN LỊCH SỬ- ĐỊA LÝ- DU LỊCH
- --- --- --- --- --- --- -- --- --

NGUYỄN THỊ HỒNG ĐÀO
MSSV: 6075752

KHAI THÁC TÀI NGUYÊN DU LỊCH NHÂN VĂN CỦA
THỊ XÃ HÀ TIÊN TRONG PHÁT TRIỂN DU LỊCH
TỈNH KIÊN GIANG

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH DU LỊCH

Người hướng dẫn: TS. ĐÀO NGỌC CẢNH

Nguyễn Thị Hồng Đào


MỤC LỤC

Trang
M Ở ĐẦU . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 1
1.Lý do chọn đề tài ..................................................................................................... 1
2. Mục đích của đề tài .................................................................................................1
3. Đối tượng nghiên cứu ............................................................................................. 1
4. Thực trạng vấn đề nghiên cứu ................................................................................. 2
5. Quan điểm nghiên cứu ............................................................................................ 2
6. Phương pháp nghiên cứu......................................................................................... 2
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN.................................................................................... 4
1.1. Khái niệm tài nguyên du lịch nhân văn ................................................................ 4
1.2. Phân loại tài nguyên du lịch nhân văn .................................................................. 4
1.2.1. Di tích lịch sử - văn hóa ................................................................................ 4
1.2.2. Lễ hội ........................................................................................................... 5
1.2.3. Nghề và các làng nghề truyền thống ............................................................. 7
1.2.4. Các đối tượng gắn với dân tộc học ................................................................ 7
1.2.5. Các đối tượng văn hóa, thể thao hay những hoạt động mang tính sự kiện ..... 8
1.3. Ý nghĩa của tài nguyên du lịch nhân văn trong việc phát triển du lịch .................. 8
1.4. Bảo vệ tài nguyên du lịch nhân văn ...................................................................... 8
Chương 2: TÀI NGUYÊN DU LỊCH NHÂN VĂN ĐẶC TRƯNG CỦA
THỊ XÃ HÀ TIÊN ................................................................................................. 9
2.1. Tổng quan về tỉnh Kiên Giang ............................................................................. 9
2.2. Khái quát về thị xã Hà Tiên ............................................................................... 13
2.2.1. Vị trí địa lý ................................................................................................. 13
2.2.2. Lược sử hình thành thị xã Hà Tiên ............................................................. 15
2.3. Tài nguyên du lịch nhân văn của thị xã Hà Tiên ................................................. 16

KHAI THÁC TÀI NGUYÊN DU LỊCH NHÂN VĂN CỦA THỊ XÃ HÀ TIÊN

PHẦN MỞ ĐẦU

1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Là một người con sinh ra trên mảnh đất Kiên Giang, mảnh đất của những danh lam
thắng cảnh tuyệt đẹp và ấm áp tình người. Đến với Kiên Giang là đến với Hà Tiên thập
cảnh, đến với Phú Quốc nắng vàng biển xanh và đến với U minh biêng biếc bóng tràm.
Và đặc biệt là vùng đất Hà Tiên – vùng đất đầu sóng ngọn gió, nơi hội tụ hầu hết dáng vẻ
của những danh lam thắng cảnh trong nước. Thiên nhiên đã ban tặng cho Hà Tiên những
cảnh quan kỳ thú với hang động huyền ảo, bãi biển hiền hòa, núi non hùng vĩ. Đồng thời
Hà Tiên với lịch sử hình thành độc đáo và minh chứng cho những điều đó là những di tích
lịch sử, văn hóa, những chùa chiền, lăng tẩm từ thuở sơ khai vẫn còn đó. Nhắc đến vùng
đất Hà Tiên là bạn sẽ nghĩ ngay đến Mạc Cửu, người có công lao “mở đất khai trấn” để có
một Hà Tiên sầm uất như hôm nay. Bạn đã nghe chưa “Hà Tiên thập vịnh” nơi Tao Đàn
Chiêu Anh Các ra đời, nơi vị tổng trấn Mạc Thiên Tích tập hợp những anh tài trong thiên
hạ. Và danh thắng “Bình San diệp thúy”, nơi an nghỉ của dòng họ Mạc và và vẫn giữ
được cài hồn của “Hà Tiên thập vịnh”. Thiên nhiên và con người bao thế hệ đã mang lại
cho mảnh đất này những lợi thế và tiềm năng du lịch không nhỏ so với những địa phương
khác trong cả nước. Là một sịnh viên du lịch và là một đứa con của Kiên Giang tôi muốn
nâng cao trải nghiệm thực tế, đồng thời tìm hiểu vùng đất Hà Tiên để giúp phần nhỏ nào
đó trong việc khai thác tài nguyên du lịch nhân văn Hà Tiên phát triển hiệu quả và bền
vững hơn. Vì thế tôi quyết định chọn đề tài: “khai thác tài nguyên du lịch nhân văn của thị
xã Hà Tiên” trong việc phát triển du lịch của Hà Tiên nói riêng và của Kiên Giang nói
chung.
2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU:
Qua đề tài “khai thác tài nguyên du lịch nhân văn của thị xã Hà Tiên”, tôi muốn
có cái nhìn cụ thể về vùng đất Hà Tiên , về những tiềm năng du lịch của vùng đất này.
Đồng thời góp phần hỗ trợ cho công tác hướng dẫn của tôi trong thời gian sắp tới và giúp
tìm hiểu kĩ hơn về vấn đề khai thác hiệu quả những tiềm năng du lịch nhân văn sẵn có,

viết cố gắng đi sâu vào nghiên cứu 2 đối tượng lăng tẩm, nhà thờ họ Mạc, những di tích
của nhà họ Mạc, hoặc liên quan đến nhà họ Mạc và lễ hội Tao đàn Chiêu Anh Các.
5. QUAN ĐIỂM NGHIÊN CỨU
- Quan điểm lịch sử: Cần xét tài nguyên du lịch nhân văn trong mối quan hệ với
quá khứ trên quan điểm lịch sử. Quan điểm này giúp cho người nghiên cứu có cái nhìn
động về sự vật, hiện tượng nghĩa là luôn nhìn về sự vật, hiện tượng nào cũng có một quá
trình phát triển từ quá khứ đến hiện tại và tương lai. Đặc biệt khi đề cập đến đối tượng
nghiên cứu là di tích núi Bình San và Tao Đàn Chiêu Anh Các thì quan điểm này rất cần
thiết và được đánh giá cao qua việc tìm hiểu về nguồn gốc hình thành, lịch sử tồn tại và
phát triển của đểm du lịch Lăng Mạc Cửu và vùng đất Hà Tiên. Có quá khứ mới có hôm
nay và ngày mai, đây là một chân lý của cuộc sống. Vì thế với đề tài này thì quan điểm
lịch sử là quan trọng và được đưa vào trọng tâm.
- Quan điểm tổng hợp lãnh thổ: Còn gọi là quan điểm “vùng”là quan điểm đặc
thù của địa lý hay địa lý du lịch. Trong thưc tế các sự vật hiện tượng luôn có sự phân hóa
trong không gian làm cho chúng có sự khác biệt giữa nơi này và nơi khác. Trong nghiên
cứu địa lý du lịch thì quan điểm lãnh thổ là: người nghiên cứu phải tìm ra nét độc đáo của
lãnh thổ du lịch, sự hấp dẫn , nét riêng của từng vùng, điểm du lịch này với vùng, điểm du
lịch khác.Với đề tài này người viết chỉ khoanh vùng các điểm du lịch trong phạm vi thị xã
Hà Tiên, với những tài nguyên du lịch thuộc phạm vi của thị xã và những tài nguyên du
lịch nhân văn đặc trưng.

NGUYỄN THỊ HỒNG ĐÀO(6075752)

2

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP


KHAI THÁC TÀI NGUYÊN DU LỊCH NHÂN VĂN CỦA THỊ XÃ HÀ TIÊN
6. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.1. KHÁI NIỆM TÀI NGUYÊN DU LỊCH NHÂN VĂN:
Tài nguyên du lịch nhân văn:là nguồn tài nguyên do con người sáng tạo ra, là
những đối tượng, hiện tượng được hình thành do bàn tay, trí tuệ của con người trong suốt
quá trình tồn tại và có giá trị phục vụ du lịch.
Như vậy tài nguyên du lịch nhân văn cũng được hiểu là những tài nguyên du lịch
văn hóa. Tuy nhiên không phải sản phẩm văn hóa nào cũng điều là tài nguyên du lịch
nhân văn. Chỉ những sản phẩm văn hóa nào có giá trị phuc vụ du lịch mới được coi là tài
nguyên du lịch nhân văn. Hay nói cách khác, những tài nguyên du lịch nhân văn cũng có
giá trị văn hóa tiêu biểu cho mỗi dân tộc, mỗi quốc gia. Thông qua những hoạt động du
lịch dựa trên việc khai thác tài nguyên du lịch nhân văn, khách du lịch có thể hiểu được
những đặc trưng cơ bản về văn hóa của dân tộc, địa phương nơi mình đến. Là những sản
phẩm văn hóa nên nguồn tài nguyên du lịch nhân văn cũng rất đa dạng phong phú. Ưu thế
của tài nguyên du lịch nhân văn là không bị ảnh hưởng bởi tính thời vụ (trừ lễ hội), không
bị ảnh hưởng nhiều bởi điều kiện khí hậu và các điều kiện tự nhên khác.
1.2. CÁC LOẠI TÀI NGUYÊN DU LỊCH NHÂN VĂN
1.2.1. Di tích lịch sử - văn hóa:
Di tích lịch sử-văn hóa là tài sản quý giá của mỗi địa phương, mỗi dân tộc, mỗi đất
nước và của cả nhân loại. Nó là bằng chứng trung thành, xác thực cụ thể nhất về đặc điểm
văn hóa của mỗi nước. Ở đó chứa đựng tất cả những gì thuộc về truyền thống tốt đẹp,
những tinh hoa, trí tuệ, tài năng, giá trị văn hóa nghệ thuật của mỗi quốc gia. Di tích lịch
sử-văn hóa có khả năng rất lớn, góp phần vào việc phát triển trí tuệ, tài năng của con
người, góp phần vào việc phát triển khoa học nhân văn, khoa học lịch sử. Đó chính là bộ
mặt quá khứ của mỗi dân tộc, mỗi đất nước.
Trên thế giới những Kim Tự Tháp ở Ai Cập, những chùa dát vàng, bạc ở Ấn Độ,
Angcovat ở Campuchia…và trong nước với thành Cổ Loa, Đền Hùng, Cố Đô Huế, thánh
địa Mỹ Sơn… vẫn mãi là biểu tượng chói ngời cho kho tàng văn hóa của dân tộc.
Như vật, di tích lịch sử - văn hóa là những không gian vật chất cụ thể, khách quan, trong
đó chứa đựng các giá trị điển hình lịch sử, do tập thể cá nhân con người hoạt động sáng

NGUYỄN THỊ HỒNG ĐÀO(6075752)

(Rạch Gía, Hà Tiên), Chùa Vĩnh Tràng, Lăng Hoàng Gia (Tiền Giang)…
- Các loại danh lam thắng cảnh.: là loại hình tập hợp hai loại hình di tích: di tích
nhân tạo và di tích thiên tạo. Là những nơi có phong cảnh thiên nhiên tuyệt vời có chứa
những công trình do con người tạo ra bao gồm những ngôi chùa, ngôi đền, hay những
công trình văn hóa. Hà Tiên có các danh lam thắng cảnh như: lăng Mạc Cửu, Chùa Hang,
chùa Tam Bảo…đây là những công trình do các bậc tiền nhân đã xây dựng, nó có giá trị
về lịch sử và kiến trúc cho thế hệ sau.
2.2.1. Lễ hội
Trong các dạng tài nguyên du lịch nhân văn, lễ hội truyền thống là tài nguyên có
giá trị phục vụ du lịch rất lớn, lễ hội là một hình thức sinh hoạt văn hóa đặc sắc phản ánh
đời sống tâm linh của mỗi dân tộc.
Lễ hội là loại hình sinh hoạt văn hóa tổng hợp hết sức đa dạng và phong phú, là
một kiểu sinh hoạt tập thể của nhân dân sau thời gian lao động mệt nhọc, hoặc là một dịp
NGUYỄN THỊ HỒNG ĐÀO(6075752)

5

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP


KHAI THÁC TÀI NGUYÊN DU LỊCH NHÂN VĂN CỦA THỊ XÃ HÀ TIÊN
để con người hướng về một sự kiện lịch sử trọng đại, ngưỡng mộ tổ tiên, ôn lại truyền
thống, hoặc là để giải quyết những nỗi lo âu những khao khát ước mơ mà cuộc sống thực
tại chưa giải quyết được. Lễ hội chính là biểu tượng văn hóa đã được chuyền từ đời này
sang đời khác, là nơi hội tụ sức sống của dân tộc, sức sống của văn hóa Việt từ ngàn đời.
Các lễ hội đã tạo nên một môi trường mới, huyền diệu , giúp cho người tham dự có
điều kiện tiếp xúc với bí ẩn của khởi nguồn mọi sinh vật sống. Lễ hội dân tộc trở thành
dịp cho con người hành hương về với cội rể, bản thể của mình. Trong kho báu các di sản
của quá khứ để lại cho hôm nay, các lễ hội dân tộc có lẽ là một trong những thứ quý giá
nhất. Và vì thế các lễ hội dân tộc lành mạnh không bị mất đi, mà ngày càng được nhân


LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP


KHAI THÁC TÀI NGUYÊN DU LỊCH NHÂN VĂN CỦA THỊ XÃ HÀ TIÊN
học sáng chói một thời mà người chủ soái là Mạc Thiên Tích, tưởng nhớ công lao của
dòng họ Mạc trong công cuộc mở đất khai trấn Hà Tiên. Ngoài ra Kiên Giang còn thu hút
khách du lịch về đây bởi những lễ hội của người Khomer như: lễ Occ om bok,
lễ Chôl chnăm thmây, lễ Dolta…những lễ hội này thể hiện văn hóa của người Khomer là
dịp để họ nhớ về tổ tiên, và tham gia các trò chơi dân gian nhằm giải trí để bước vào vụ
mùa mới.
1.2.3. Nghề và các làng nghề truyền thống:
Cũng là loại tài nguyên du lịch nhân văn quan trọng và có sức hấp dẫn lớn đối với
du khách. Thông thường, nghề thủ công truyền thống với những sản phẩm độc đáo không
chỉ thể hiện tài khéo léo của nhân dân lao đông mà còn thể hiện những tư duy triết học,
những tâm tư tình cảm của con người. Đây cũng chính là phần riêng của các nền văn hóa
và là sức hấp dẫn của các nghề và làng nghề thủ công truyền thồng. Thông thường các
làng nghề thủ công truyền thống đều gắn liền với đặc điểm riêng của từng địa phương và
gắn liền với những nguyên liệu và sản vật mà thiên nhiên ban tặng cho cùng đất đó.. Điển
hình như Kiên Giang có các làng nghề làm đồi mồi, ngọc trai thành các hàng thủ công mỹ
nghệ ở Hà Tiên, làng làm đồ gốm từ đất sét ở Hòn Đất, nhà thùng nước mắm ở Phú Quốc,
làng dệt chiếu từ cây lát của người dân Tà Niên…
Hiện nay, du lịch ngày càng phát triển thì sản phẩm đặc thù của từng địa phương sẽ
là điểm thu hút du khách và ngược lại, đối tượng khách du lịch cũng là lối ra, con đường
tiếp thị cho các ngành nghề truyền thống thủ công mỹ nghệ của địa phương. Nhiều tỉnh
của Đồng bằng sông Cửu Long đã áp dụng cách làm này. Khi đến Sóc Trăng từ hướng
Hậu Giang trên tuyến đường quốc lộ 1A, đến cửa ngõ huyện Mỹ Tú, du khách sẽ bắt gặp
ngay hàng loạt các cửa hàng bành pía, lạp xưởng – đặc sản của Sóc Trăng. Về Bến Tre xứ sở của dừa, từ hướng TIền Giang qua phà Rạch Miễu trên tuyến lộ chính là những gian
hàng bày bán sản phẩm kẹo dừa, hàng thủ công mỹ nghệ từ dừa…
1.2.4.Các đối tượng gắn với dân tộc học

các quốc gia, vùng và khu vực và là những hạt nhân của các trung tâm du lịch.
1.3. Ý NGHĨA CỦA TÀI NGUYÊN DU LỊCH NHÂN VĂN ĐỐI VỚI DU LỊCH
- Ý nghĩa đối với cộng đồng địa phương: tài nguyên du lịch nhân văn phong phú
giúp người dân nâng cao ý thức giữ gìn và phát huy những giá trị vốn có của nó. Hơn nữa
nó còn làm tăng thêm thu nhập và cải thiện cuộc sống.
- Ý nghĩa đối với du lịch: tài nguyên du lịch nhân văn góp phần làm phong phú và
đa dạng các loài hình du lịch, thu hút ngày càng đông đảo khách du lịch đến tham quan,
nghiên cứu, góp phần làm tăng thu nhập cho quốc gia nói chung và địa phương nói riêng.
Hơn nữa còn thu hút các nhà đầu tư xây dựng dịch vụ du lịch. Góp phần làm hồi sinh các
loại hình nghệ thuật truyền thống, phát triển thị trường mới cho hàng thủ công mỹ nghệ
và các loại hình nghệ thuật truyền thống.Ngoài ra tài nguyên du lịch nhân văn cũng góp
phần không nhỏ cho du lịch nghiên cứu. Nó thu hút các nhà nghiên cứu, nhà sử học bởi
những giá trị lịch sử và những nét kiến trúc, những di chỉ đặc trưng của nó.
1.4 BẢO VỆ TÀI NGUYÊN DU LỊCH NHÂN VĂN
Các đối tượng do con người tạo ra bị phá huỷ chậm hơn so với tài nguyên du lịch
tự nhiên, chẳng hạn như thực động vật – nguồn nước.
Khác với tài nguyên du lịch tự nhiên, tài nguyên du lịch nhân văn không có khả năng tự
phục hồi. Ngày nay những tổn thất ngày càng hạn chế nhờ các giải pháp công trình – công
nghệ và phục chế. Song do sự phát triển rộng rãi của du lịch đã dẫn đến sự phá huỷ hoàn
toàn hay từng phần những giá trị du lịch của nhiều tài nguyên du lịch nhân văn.
Để tránh những hậu quả xấu do sử dụng không hợp lý, do lượng khách đến thăm quá tải,
do ô nhiễm môi trường… cần có những quy định cụ thể về nội quy tham quan các đối
tượng này, có các biện pháp quy hoạch lãnh thổ ở các địa phương có một hay một nhóm
đối tượng văn hoá – lịch sử, để bảo vệ các tài nguyên này không bị thất thoát, xuống cấp.
NGUYỄN THỊ HỒNG ĐÀO(6075752)

8

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP


bằng, rừng, núi, biển và hải đảo; điều kiện về tài nguyên, đất đai, khí hậu tạo cho Kiên
Giang có nhiều lợi thế về phát triển nông nghiệp, đánh bắt, nuôi trồng chế biến thủy hải
sản, sản xuất vật liệu xây dựng và đầu tư phát triển du lịch với nhiều loại hình du lịch
phong phú, đa dạng.
Tỉnh Kiên Giang nằm ở tọa độ từ 104040’đến 105032’40’’ kinh độ Đông và 9023’50”
đến 10032’30” vĩ dộ Bắc (phần đất liền).
Địa giới tỉnh Kiên Giang tiếp giáp với một số tỉnh ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long
và giáp đường biên giới:
- Phía Đông và Đông Nam:giáp hai tỉnh An Giang và Cần Thơ.
- Phía Tây giáp Vịnh Thái Lan với đường bờ biển dài trên 200km.
- Phía Nam giáp tỉnh Cà Mau.
- Phía Bắc giáp Campuchia với đường biên giới 56,8km.
Kiên Giang ở trong vùng vịnh Thái Lan, gần các nước Đồng Nam Á (ASEAN)
như: Campuchia, Thái Lan, Malaysia, Singapore, Philipine; có địa hình đa dạng, bờ biển
dài, có nhiều sông núi và hải đảo, tạo điều kiện thuận lợi để mở rộng giao lưu kinh tế với
các nước trong khu vực, là cầu nối các tỉnh miền Tây Nam Bộ với bên ngoài.
Địa hình phần đất liền tương đối bằng phẳng có hướng thấp dần từ hướng phía
Đông Bắc (độ cao trung bình từ 0,8 – 1,2 m) xuống Tây Nam (độ cao trung bình từ 0,2 –
0,4 m) so với mặt biển, đồng thời tạo nhiều kênh rạch,sông ngòi. Đặc điểm địa hình này
cùng với chế độ thủy triều biển Tây chi phối rất lớn khả năng tiêu úng về mùa mưa và bị
ảnh hưởng lớn của mặn vào các tháng mùa khô. Vùng biển có hai huyện đảo với hơn 100
hòn đảo lớn nhỏ. Từ những đặc điểm trên đã gây trở ngại tới sản xuất và đời sống của
nhân dân trong tỉnh.
Tuy nhiên do điều kiện khí hậu thời tiết ở Kiên Giang có những thuận lợi cơ bản: ít
thiên tai, ít có bão đổ bộ trực tiếp,không rét (nhiệt độ trung bình hàng năm từ 27 – 27,50C)
ánh sáng và nhiệt lượng dồi dào tất thuận lợi cho cây trồng vật nuôi sinh trưởng. Đồng
thời với vị trí địa lí của tỉnh cũng rất thuận lợi cho việc phát triển kinh tế mở cửa,hướng
ngoại do có biển, sân bay và có khoảng cách tới các nước ASEAN tương đối ngắn- là khu
vực đang có nhịp độ tăng trưởng kinh tế vào loại cao nhất thế giới.


Năm
N ă m 2009
N ă m 2010

Khách quốc tế
Khách nội địa
Tổng lượt khách
73.542
2.780.253
3.853.795
121.304
4.214.682
4.335.986
(Nguồn: sở văn hóa, thể thao, du lịch kiên giang)

Căn cứ vào điều kiện và hiện trạng tài nguyên du lịch của tỉnh Kiên Giang có thể
phân chia thành 4 khu du lịch,mỗi khu có một đặc trưng riêng.
Khu 1: Thị xã Hà Tiên, huyện Kiên Lương,và vùng phụ cận
Hà Tiên là nơi tập trung nhiều danh lam thắng cảnh nổi tiếng, đã thu hút du khách
gần xa đến đây để chiêm ngưỡng cảnh đẹp. Những cảnh đẹp đó đã xuất hiện từ ngày xưa
trong “Hà Tiên thập vịnh” của Mạc Thiên Tích. Hà Tiên đã được du khách gần xa biết
đến qua những danh lam thắng cảnh: lăng Mạc Cửu – người có công khai trấn mở đất Hà
Tiên, chùa Phù Dung, chùa tam Bảo, là bãi biển Mũi Nai hoang sơ...
NGUYỄN THỊ HỒNG ĐÀO(6075752)

11

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP



Với địa hình, tài nguyên thiên nhiên du lịch phong phú, Phú Quốc có thể phát triển
với nhiều loại hình du lịch như du thuyền trên biển, trên sông, câu cá, thẻ mực, tắm biển,
ca nô lướt ván, thể thao trên biển, nghỉ dưỡng ven biển thưởng thức những món ăn hải sản
tươi sống.
Khu 3: thành phố Rạch Gía và vùng phụ cận
Là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của tỉnh Kiên Giang. Thành phố Rạch Giá
có bờ biển dài khoảng 8-9 km, không có bãi tắm, nước biển ven bờ chứa nhiều phù sa do
NGUYỄN THỊ HỒNG ĐÀO(6075752)

12

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP


KHAI THÁC TÀI NGUYÊN DU LỊCH NHÂN VĂN CỦA THỊ XÃ HÀ TIÊN
các nhánh sông tù vùng tứ giác Long Xuyên, tây sông Hậu đổ ra. Với khu đô thị lấn biển
tập trung nhà hàng khách sạn, trung tâm vui chơi giải trí, các loại hình dịch vụ... đã thu
hút các nhà đầu tư về đây. Đây là thành phố đứng đầu tỉnh Kiên Giang về mật độ các di
tích lịch sử: đền thờ Nguyễn Trung Trực,chùa Tam Bảo, Chùa Láng Cát, mộ Hội Đòng
Suông,mộ danh nhân Huỳnh Mẫn Đạt... Được du khách gần xa biết đến qua lễ hội
Nguyễn Trung Trực diễn ra hằng năm vào các ngày 27 đến 29 tháng 8 âm lịch. Khu lân
cận thành phố Rạch Gía còn có khu di tích lịch sử Hòn Đất, quê hương của chị Sứ anh
hùng ( nhân vật chính trong tác phẩm “Hòn Đất” của Anh Đức).
Với nguồn tài nguyên du lịch nhân văn phong phú, rất nhiều các di tích lịch sử văn
hóa, các lễ hội...Nơi đây thích hợp phát triển các loại hình văn hóa, tham quan tìm hiểu, ...
Khu 4: Vùng U Minh Thượng
Với đặc thù sinh thái rừng tràm ngập nước trên đất than bùn, Vườn Quốc gia U
Minh Thượng – khu căn cứ địa cách mạng, khu dự trữ sinh quyển thế giới, đã mở cửa
phục vụ khách tham quan du lịch sinh thái. Khu du lịch Vườn Quốc gia U Minh Thượng
phục vụ khách tham quan du lịch sinh thái kết hợp với tìm hiểu văn hóa nhân văn sông

Nam – Campuchia ôm sát thị xã Hà Tiên về phía Bắc.

. Hình 2.2. Bản đồ hành chính thị xã Hà Tiên
(Nguồn: http://www.google.com.vn/imglanding?q=bản+dồ+thị+xã+hà+tiên)

Địa giới hành chính thị xã Hà Tiên :
-Phía Bắc giáp Vương quốc Campuchia
-Phía Tây và Tây Nam giáp Vịnh Thái Lan
-Phía Đông và Đông Nam giáp huyện Kiên Lương tỉnh Kiên Giang
NGUYỄN THỊ HỒNG ĐÀO(6075752)

14

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP


KHAI THÁC TÀI NGUYÊN DU LỊCH NHÂN VĂN CỦA THỊ XÃ HÀ TIÊN
Hà Tiên, nơi hội tụ những danh lam thắng cảnh hoang sơ đầy quyến rũ. Đi từ Rạch
Giá xuống Hà Tiên, du khách đi qua hàng chục cảnh đẹp. Một vùng biển, núi tuyệt vời
giữa chốn địa đầu biên giới Tây Nam với hơn 8.000 ha phố biển và 20 cây số bãi bờ thơ
mộng. Hà Tiên có đủ sông, núi, biển, đảo, hang động, đồng bằng, mang đậm dấu ấn văn
hóa lịch sử.
Thị xã Hà Tiên nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa có nền nhiệt cao và ổn định,
một năm chia làm hai mùa rõ rệt: Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12
đến tháng 4 năm sau.
Ngày nay, trong xu thế phát triển du lịch toàn cầu và chương trình nâng cấp các
khu du lịch, Hà Tiên-Kiên Lương sẽ trở thành những khu nghỉ mát lí tưởng, vùng du lịch
sinh thái biển “đệ nhất miền Tây”.
Hà Tiên – mảnh đất cực Tây Nam của Tổ quốc, có đủ các dạng địa hình đồng
bằng, núi sông, hang động, hải đảo tạo cho nơi đây nhiều cảnh quan tươi đẹp như tranh

KHAI THÁC TÀI NGUYÊN DU LỊCH NHÂN VĂN CỦA THỊ XÃ HÀ TIÊN
bảo tồn nghiêm ngặt, giá trị văn hóa lịch sử ngày càng được nâng lên với nhiều lễ hội độc
đáo, nhằm tưởng nhớ công lao và giáo dục truyền thống yêu nước của bao thế hệ “công
thần lập quốc”... Vì một Hà Tiên phát triển bền vững trong tương lai.
2.2.2 Sơ lược thành lập Thị xã Hà Tiên:
Hà Tiên, ,vùng đất được hàng bao thế hệ lưu dân tôn tạo ở Cực Nam của tổ quốc.
Được mệnh danh là “Nam thiên đệ nhất động” của Miền Nam.
Cái tên Hà Tiên không ai biết chính xác có tự bao giờ, chỉ biết xưa kia thuộc vùng đất
Mang Khảm (tục danh Trấn Phiên thành, còn gọi là Đồng Trụ trấn). Tương truyền, vì mến
cảnh trần gian nơi đây thiên nhiên tươi đẹp, non nước hữu tình, tiên nữ thường hay xuất
hiện ngoạn cảnh trần gian, từ đó đã xuất hiện tên gọi Hà Tiên. Và hiện nay đi trên đường
Trần Hầu, chúng ta sẽ bắt gặp khu tượng bằng đá thể hiện hình ảnh những nàng tiên đang
tắm, như lời giải thích về tên gọi Hà Tiên.
Thị xã Hà Tiên được hình thành cách đây 300 năm, nơi đây ngày xưa vốn là thủ
phủ của Mạc Cửu (1655-1935) nằm ở vị trí khá đẹp, hai bên bờ sông hướng ra biển, trên
bến dưới thuyền nhà doanh điền Mạc Cửu. Mạc Cửu sinh 1655 tại quảng Đông Trung
Quốc, bất phục chính sách cai trị của nhà Thanh, nên cùng gia quyến vượt biển đến nước
Chân Lạp. Mạc Cửu là người tài trí, khéo sử thế nên kết thân được với các quan Chân Lạp
và nhờ tiến cử lên vua. Vua Chân Lạp là Nặc Ong Non tin dùng, Mạc Cửu giúp vua được
nhiều việc nhưng Mạc Cửu muốn hùng cứ một phương nên tâu xin cho khai khẩn đất
Mang Khảm là vùng hoang địa ở phía tây duyên hải thủy Chân Lạp vua thuận và phong
cho Mạc Cửu chức Ốc Nha (tương đương với quan huyện). Mạc Cửu chiêu tập dân phu
lập đồn điền, mở chợ xây cảng giao thương với các nước. Mang Khảm bây giờ trở thành
một cửa khẩu phồn thịnh và thành mục tiêu xâm lược của các nước ngoài.
Năm 1674 có bề tôi Năc Ông Non làm phản, cầu viện Quân Xiêm đánh lại vua. Quân
Xiêm tiến đánh Mang Khảm. Mạc Cửu chống cự không lại cầu viện quân Chân Lạp, viện
binh chưa đến buộc Nặc Ong Non cầu viện chúa Nguyễn, quân chúa Nguyễn đánh tan
quân Xiêm. Quân Xiêm rút về đem theo gia quyến của Mạc Cửu cùng của cải chiếm
được. Sau đó năm 1706 thừa cơ hội nước Xiêm có nội loạn, Mạc Cửu cùng gia quyến và
gia nhân chạy về Trủng kè thuộc đất Mang Khảm. Ở đây phu nhân hạ sinh Mạc Thiên

Hoá. Có một ít Đồ Sơn, Cửa Tùng, có một ít Nha Trang, Long Hải.
Ở đây không có một cảnh nào to lớn đầy đủ; ở đây chỉ nhỏ nhắn xinh xinh mà cảnh nào
cũng có.
Phân tích được điều đó rồi mới biết vì sao, ai đến thăm Hà Tiên, thoạt nhìn, không thấy có
cảnh nào đặc sắc, mà sao lòng cứ như lưu luyến dễ say lòng.”
Vâng bạn sẽ say lòng và lưu luyến khi đến với những cảnh đẹp của Hà Tiên.
Nhưng Hà Tiên không chỉ có những giá trị về tự nhiên mà nơi ấy còn là cả kho tàng về
văn hóa, lịch sử, phong tục tập quán…
Đến với Hà Tiên là đến với những di tích, những trang sử mà bao đời thế hệ trước
đã để lại. Hà Tiên không ra dáng vẻ của một đô thị như trong suy nghĩ của mọi người khi
đến với mảnh đất này: không nhà cao tầng, không tiếng còi xe réo rắt suốt ngày, không ồn
ào náo nhiệt… nơi đây thật lặng lẽ và yên bình. Những mái ngói cổ rêu phong trong nắng
chiều, trong cái gió mang theo hương vị riêng của biển, trong cái hoang sơ của vùng đất
biên giới đã tạo nên nét riêng cho xứ sở Hà Tiên, Hà Tiên nghèo nhưng đẹp, nhiều người
đã bảo vậy!.Hà Tiên được ví như chiếc nôi văn hóa lịch sử của Nam Bộ đã nổi tiếng từ xa
xưa. Gần 300 năm hình thành và phát triển, mảnh đất biên cương xa xôi này luôn giữ
vững truyền thống kiên cường bát khuất suốt từ thời họ Mạc cho đến 2 cuộc kháng chiến
chống Pháp và Mỹ của dân tộc. Hà Tiên được biết đến với những tiềm năng về kinh tế, du
lịch, nghề thủ công truyền thống và đặc sản nổi tiếng. Đã đến Hà Tiên không thể nào
không ghé thăm từ đường của nhà họ Mạc được khởi đầu từ trấn binh Mạc Cửu tọa lạc
trên núi Bình San. Những bậc thang đá sẽ đưa du khách viếng thăm nơi an nghỉ của
NGUYỄN THỊ HỒNG ĐÀO(6075752)

17

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP


KHAI THÁC TÀI NGUYÊN DU LỊCH NHÂN VĂN CỦA THỊ XÃ HÀ TIÊN
những người đã có công khai phá đất Hà Tiên hơn 300 năm trước: là Mạc Cửu giỏi tài

vùng đất mới, lại hội tụ nhiều thành phần tộc người khác nhau cùng sinh sống, làm ăn, Hà
Tiên thời họ Mạc cai quản đã để lại nhiều giá trị văn hoá quí giá góp vào kho tàng văn
hoá của dân tộc, nhất là dưới thời Mạc Thiên Tứ. Tuy những công trình văn hoá như Đê
Lộc Trĩ Thôn, Tiêu Tự Thần Chung, Bình San Diệp Thúy có lăng tẩm nhà họ Mạc...là
những công trình kiến trúc nhằm suy tôn, đề cao vai trò của dòng họ Mạc, song bên cạnh
NGUYỄN THỊ HỒNG ĐÀO(6075752)

18

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP


KHAI THÁC TÀI NGUYÊN DU LỊCH NHÂN VĂN CỦA THỊ XÃ HÀ TIÊN
đó, không thể phủ nhận rằng đây cũng là dấu ấn một thời khai phá miền biên cương phía
Nam của các tầng lớp cư dân Việt - Hoa - Khmer...thuở ấy. Lăng Mạc Cửu, Chùa Phù
Dung, chùa Tam Bảo là những di tích gắn liền với dòng họ Mạc, với những trang sử khai
hoang mở đất. Đến với những khu di tích gắn liền với nhà Mạc là không chỉ đến với
những di tích có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa mà còn đến với những di tích mang đậm
nghệ thuật kiến trúc của một thời.Vượt lên trên hết và để lại nhiều ấn tượng khó phai mờ
trong lòng người vẫn là nét đặc sắc của Tao đàn Chiêu Anh Các một trong hai thi xã của
đất Nam Bộ thời mở cõi. Ra Đời vào tết Nguyên Tiêu năm Bính Thìn (1736), trên đỉnh
núi Bình San, Chiêu Anh Các là đứa con tinh thần của Mạc Thiên tứ và các tao nhân mặc
khách hoặc đã từng gắn bó với đất Hà Tiên, hoặc giả chưa đặt chân đến nơi này nhưng đã
cảm và say mảnh đất con người nơi đây. Và hôm nay đây các thế hệ sau biết đến Tao Đàn
qua lễ hội được tổ chức vào rằm tháng giêng hằng năm, đó như là một lòng thành kính về
sự biết ơn của con cháu đời sau.
Nếu như đến với Quy Nhơn chúng ta không bao giờ quên ghé viếng mộ nhà thơ
Hàn Mặc Tử thì Hà Tiên cũng có một thi sĩ mà tên tuổi đã gắn liền với vùng đất này – thi
sĩ Đông Hồ. Mảnh đất Hà Tiên đẹp và thơ mộng đã thu hút rất nhiều giới văn nghệ sĩ về
với vùng đất này trong đó đôi giai nhân Đông Hồ - Mộng Tuyết đã gắn bó cả cuộc đời với

là một di tích lịch sử của thị xã Hà Tiên thuộc tỉnh Kiên Giang. Từ chợ Hà Tiên đi khoảng
gần 1km đến ao sen – “bảo ngọc liên trì”là đến chân núi Bình San, nơi có đền thờ họ
Mạc- đền thờ họ Mạc còn có tên chữ là Trung Nghĩa Từ, Mạc Công Từ hay Mạc Công
Miếu, dân gian thường gọi là miếu ông Lịnh (vì Mạc Thiên Tứ được phong là Mạc Lịnh
Công).
Lăng Mạc Cửu là một trong những cảnh đẹp của Hà Tiên, và là một trong những
bài thơ về “Hà Tiên Thập Vịnh” Của Mạc Thiên Tích. Du khách đến viếng thăm Lăng sẽ
được nghe những câu chuyện về dòng họ Mạc, một dòng họ có nhiều công lao trong việc
khai hoang và trấn giữ đất Hà Tiên. Đến với khu di tích này chúng ta sẽ thấy được sự
hoang sơ, cổ kính và huyền bí của hệ thống lăng và đền thờ. Ngày 21/1/1989, núi Bình
San được Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận là thắng cảnh quốc gia. Và để ghi nhận công
lao của Mạc Cửu trong việc khai phá vùng đất Hà Tiên, cũng như kỷ niệm 300 năm vùng
đất này được thành lập, UBND tỉnh Kiên Giang đã tổ chức lễ khánh thành tượng đài danh
nhân Mạc Cửu cao 10 m một tay tỳ vào đốc kiếm, tay kia cầm cuốn thư văn, mắt nhìn ra
biển Đông lộng gió , vào ngày 7/9/2008 tại quảng trường (công viên Mũi Tàu) cạnh cầu
Tô Châu - thị xã Hà Tiên.
2.4.1.1 Công cuộc khai phá vùng đất Hà Tiên của trấn binh Mạc Cửu và nhà họ
Mạc:
Mạc Cửu (1655-1735) là người đầu tiên có công khai hoang lập nên 7 xã thuộc
vung đất Hà Tiên , Kiên Giang ngày nay. Ông vốn quê ở Lôi Châu, Quảng Đông, Trung
Quốc.
Vào năm 1680, vì không chịu thuần phục nhà Thanh, ông đem cả gia đình, binh sĩ
và một số sĩ phu khoảng 400 người lên thuyền rời khỏi Phúc Kiến. Sau nhiều ngày lênh
đênh trên biển cả, đoàn Mạc Cửu đổ bộ lên một vùng đất hoang trong vịnh Thái Lan. Sau
khi dò hỏi, biết vùng đất này thuộc ảnh hưởng của Chân Lạp. Mạc Cửu là người tài trí
khéo xử nên kết than được với các quan Chân Lạp và nhờ tiến cử lên vua. Vua Chân Lạp
là Nặc Ong Non tin dùng, được phong là Óc Nha vùng Lũng Kì (tương đương với chức
quan huyện). Mạc Cửu giúp vua được nhiều việc và ông xin ở lại lập ấp rải rác từ vũng
Thơm, Trùng Kè, Cần Vọt, Rạch Giá, Cà Mau, Hà Tiên.
Trước khi Mạc Cửu đến Hà Tiên tại các địa phương này đã có khá nhiều lưu dân


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status