Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
http://www.foxitsoftware.com For evaluation only.
TRƯ ỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
BỘ MÔN: LỊCH SỬ - ĐỊA LÝ - DU LỊCH
HỌ VÀ TÊN: HỮU HUY ỀN VŨ THOẠI
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH DU LỊCH
Cần Thơ, tháng 04 /2011
Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
http://www.foxitsoftware.com For evaluation only.
Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
http://www.foxitsoftware.com For evaluation only.
TRƯ ỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
BỘ MÔN: LỊCH SỬ - ĐỊA LÝ - DU LỊCH
HỌ VÀ TÊN: HỮU HUY ỀN VŨ THOẠI
MSSV: 6076602
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH DU LỊCH
Cần Th ơ
tháng
Hữu Hu yền Vũ Tho ại
năm
Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
http://www.foxitsoftware.com For evaluation only.
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
Trang
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
3. ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượn g n ghiên cứu
3.2. Phạm vi nghiên cứu
4. THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨ U
4.1. Trên thế giới
4.2. Ở Việt Nam
5. QUAN ĐIỂM NGHIÊN CỨU
5.1. Quan điểm h ệ th ống
5.2. Quan điểm tổng hợp lãnh thổ
5.3. Quan điểm kinh tế - sinh th ái bền vững
5.4. Quan điểm lịch sử - viễn cảnh
12
14
14
14
15
17
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. KHÁI NIỆM VỀ DU LỊCH VÀ DU LỊCH SINH THÁI
1.1.1. Kh ái niệm du lịch
1.1.2. Kh ái niệm du lịch sinh th ái
1.1.3. Các loại h ình du lịch sinh thái
1.1.4. Các đặc trưng cơ bản của du lịch sinh thái
1.1.5. Các ngu yên tắt cơ b ản của hoạt động du lịch sinh thái
1.1.6. Nh ững yêu cầu cơ b ản để ph át triển du lịch sinh thái
1.1.6.1. Yêu cầu đầu tiên
1.1.6.2. Yêu cầu thứ hai
1.1.6.3. Yêu cầu thứ ba
1.1.6.4. Yêu cầu thứ tư
1.1.7. Phân b iệt những điểm giống và kh ác nh au giữa Du lịch Sinh thái và
một số loại hình Du lịch gần ngh ĩa với Du lịch Sinh th ái.
1.1.7.1. Một số loại hìn h Du lịch gần n ghĩa với Du lịch Sinh thái
1.1.7.2. Những đ iểm giống nhau giữa Du lịch Sinh thái với các loại hình
Du lịch gần n gh ĩa với Du lịch Sinh thái
17
17
18
2.2.5. Nguồn lao động tron g Du lịch củ a Vườn quốc gia Mũ i Cà Mau
2.2.6. Đánh giá chun g về h iện trạng khai th ác tài ngu yên du lịch
2.3. HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI VƯỜN QUỐC
GIA MŨI CÀ MAU
2.3.1. Hiện trạn g khách du lịch
2.3.2. Do anh thu khách du lịch
2.3.3. Hiện trạn g về n guồn nhân lực phục vụ du lịch
2.3.4. Hiện trạn g về cở sở vật ch ất k ỹ thuật
2.3.5. Hiện trạn g về hoạt động giáo dục môi trườn g
2.3.6. Hiện trạn g về các lợi ích mang lại cho n gười dân đ ịa phương
2.3.7. Hiện trạn g về hoạt động bảo tồn
2.3.8. Hiện trạn g các tu yến du lịch chính
18
19
19
19
19
20
20
20
20
21
21
21
21
22
22
LỊCH SINH THÁI VƯỜN QUỐC GIA MŨI CÀ MAU
3.1. ĐỊNH HƯ ỚNG
3.1.1. Định hướn g chung
3.1.2. Định hướn g cụ thể
3.2. GIẢI PHÁP
3.2.1. Giải pháp về vốn
3.2.2. Giải pháp về cơ chế chính sách
3.2.3. Giải ph áp về đ ầu tư phát triển cơ sở hạ tần g, nâng cấp cơ sở vật
chất kỹ th uật
3.2.4. Giải pháp về tăng cường vai trò quản lý của nhà nước
3.2.5. Giải pháp về khu yến kh ích sự th am gia của cộng đồn g đ ịa phương
3.2.6. Giải pháp về ưu tiên sử dụn g n guồn lao độn g tại đ ịa phương.
3.2.7. Giải pháp về quản lý tài ngu yên p hát triển du lịch bền vững
3.2.8. Giải pháp về môi trường
3.2.9. Giải pháp về đ ào tạo nguồn nhân lực
KẾT LU ẬN
1. KẾT LUẬN
2. Ý KIẾN ĐỀ XUẤT
TÀI LIỆU THAM KHẢO
MỘT SỐ HÌNH ẢNH VỀ VƯỜN QUỐC GIA MŨI CÀ MAU
35
35
36
37
38
40
42
quan tâm rộng rãi của các tầng lớp dân cư trong xã hội. Đặc biệt trong hai thập kỷ qua
khi mà các nhà máy, các xí nghiệp ngày càng phát triển, dân số không ngừng gia tăng,
đô thị hóa và tập chung dân cư, khi công nghiệp với nhiều nhà máy, khói bụi giao
thông đang là vấn nạn thì việc tìm về với tự nhiên là nhu cầu tất yếu.
Du lịch sinh thái đang có chiều hướng phát triển và trở thành một bộ phận có
tốc độ tăng trưởng mạnh nhất về tỷ trọng trong ngành du lịch. Nơi nào còn giữ được
nhiều khu thiên nhiên, có được sự cân bằng sinh thái thì nơi đó sẽ có tiềm năng phát
triển tốt về du lịch sinh thái và thu hút được nguồn du khách lớn, lâu vài và ổn định.
Từ đó, sẽ mang lại những lợi ích kinh tế to lớn góp phần làm tăng thu nhập quốc dân,
tạo nhiều cơ hội về việc làm, cải thiện đời sống, từng bước nâng cao chất lượng cuộc
sống của cộng đồng dân cư ở các địa phương, nhất là ở những nơi có các khu bảo tồn
thiên nhiên, các cảnh quan thiên nhiên và di tích văn hóa hấp dẫn.
Nằm ở vành đai khí hậu nhiệt đới, lãnh thổ Việt Nam trải dài trên 150 vĩ tuyến
với ¾ địa hình là đồi núi và cao nguyên, có hơn 3000 km bờ biển và hàng ngàn đảo
lớn nhỏ. Việt Nam được đánh giá là nơi có nhiều cảnh quan đặc sắc và các hệ sinh thái
điển hình với nền văn hóa đa dạng của 54 dân tộc anh em. Tính đa dạng sinh học được
đánh giá là cao so với nhiều quốc gia trên thế giới. Theo số liệu điều tra mới nhất có
trên 2000 loài thực vật, trên 550 loài động vật đã được đăng ký, trong đó có nhiều loài
đặc hữu quý hiếm ghi trong sách đỏ của thế giới. Đây chính là những tiềm năng to lớn
và đặc sắc tạo nên sự thuận lợi phát triển du lịch sinh thái ở Việt Nam nói chung và Cà
Mau nói riêng, đặc biệt ở các Vườn quốc gia. (Nguồn: http://ngochien.camau.gov.vn/)
Vườn quốc gia Mũi Cà Mau là một nơi có tiềm năng để phát triển du lịch sinh
thái. Ở đây có những hệ sinh thái đặc trưng cho rừng ngập mặn, tuy nhiên hiện nay vẫn
chưa được đầu tư phát triển đúng mức, chưa phát huy được tiềm năng, những thế mạnh
sẵn có về du lịch sinh thái tại đây. Và hệ sinh thái nơi này vô cùng đa dạng, tài nguyên
thiên nhiên phong phú nhưng vẫn chưa được khai thác và bảo vệ một cách hiệu quả.
Đời sống kinh tế của người dân nơi này còn khó khăn, ý thức bảo vệ môi trường còn
kém đã góp phần tàn phá môi trường sinh thái nơi này. Bên cạnh đó, việc đầu tư khai
thác các loại hình du lịch sinh thái ở Vườn quốc gia Mũi Cà Mau vẫn còn nhiều hạn
chế. Các điểm du lịch như: Công viên văn hóa du lịch Mũi Cà Mau, Khu du lịch sinh
Đánh giá tiềm năng và hiện trạng phát triển du lịch sinh thái Vườn quốc gia
Mũi Cà Mau (Các số liệu dẫn chứng trong đề tài ở phần hiện trạng chỉ giới hạn đến
năm 2010).
Đề xuất một số định hướng và giải pháp cơ bản nhằm khai thác hợp lí lãnh thổ
du lịch theo hướng đảm bảo các yêu cầu của du lịch sinh thái.
3.4. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu toàn bộ lãnh thổ của Vườn quốc gia Mũi Cà Mau cùng
với 6 xã và một thị trấn (xã Đất Mũi, xã Tam Giang Tây, xã Tân Ân, xã Tân Ân Tây,
xã Viên An, xã Viên An Đông và thị trấn Rạch Gốc) của huyện Ngọc Hiển và 2 xã (xã
Đất Mới, xã Tam Giang) và một thị trấn (thị trấn Năm Căn) của huyện Năm Căn.
10. THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
4.3. Trên thế giới
Trong vài thập niên gần đây, du lịch phát triển rất mạnh mẽ và ngày càng trở
nên phổ biến trên toàn thế giới. Không chỉ ở các nước phát triển mà ngay cả các nước
đang phát triển, du lịch được xem như là một trong số những ngành kinh tế chủ đạo.
Tuy nhiên, trong quá trình phát triển của mình, du lịch ngày càng bộc lộ rõ những tác
động tiêu cực của mình đến các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường. Vì
thế, các nhà nghiên cứu du lịch đã cố gắng tìm ra những mô hình phát triển du lịch
nhằm hạn chế những tác động tiêu cực của du lịch đến các lĩnh vực nêu trên, đồng thời
giúp cân bằng giữa ba mục tiêu kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường. Mục đích của
họ là nhằm tiến tới mục tiêu phát triển bền vững. Mô hình có mối quan hệ mắc xích
với phát triển bền vững là mô hình du lịch sinh thái.
Du lịch sinh thái mới được bàn đến từ những năm đầu thập kỷ 80 của thế kỷ
XX. Những nhà nghiên cứu tiên phong và điển hình về lĩnh vực này là Ceballos
HỮU HUYỀN VŨ THOẠI (6076602)
2
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
11. QUAN ĐIỂM NGHIÊN CỨU
5.3. Quan điểm hệ thống
Đối tượng nghiên cứu của khoa học địa lí du lịch là hệ thống lãnh thổ du lịch.
Hệ thống này bao gồm nhiều thành phần (tự nhiên, kinh tế, xã hội, văn hóa) có mối
liên hệ qua lại chặc chẽ với nhau. Do đó, bất kỳ một sự thay đổi nào dù lớn hay nhỏ
của một thành phần tất yếu sẽ kéo theo sự thay đổi của các thành phần khác trong toàn
bộ hệ thống. Đối với VQG Mũi Cà Mau, chỉ cần sự thay đổi về chế độ thủy văn sẻ dẩn
đến sự thay đổi về môi trường, cảnh quan và từ đó sẻ ảnh hưởng đến chất lượng của
sản phẩm du lịch và tất nhiên củng ảnh hưởng đến lượng khách đến hàng năm, v.v. Do
đó, trong nghiên cứu cần phải thấy được mối quan hệ này để đưa ra các giải pháp đúng
đắn giúp cho các thành phần của hệ thống lãnh thổ du lịch phát triển một cách đồng
bộ.
5.4. Quan điểm tổng hợp lãnh thổ
HỮU HUYỀN VŨ THOẠI (6076602)
3
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
http://www.foxitsoftware.com For evaluation only.
NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI VƯỜN QUỐC GIA MŨI CÀ
MAU
Các đối tượng trong địa lý du lịch có những đặc trưng riêng nhưng quá trình tồn
tại và phát triển của chúng gắn liền với một lãnh thổ nhất định. Lãnh thổ du lịch VQG
Mũi Cà Mau là một hệ thống liên kết không gian của các đối tượng du lịch (tài nguyên
du lịch, cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật, nguồn lao động, khách du lịch, v.v),
cần thiết cho nội dung đề tài.
Các tài liệu có liên quan mật thiết đến địa bàn nghiên cứu của đề tài bao
gồm:
HỮU HUYỀN VŨ THOẠI (6076602)
4
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
http://www.foxitsoftware.com For evaluation only.
NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI VƯỜN QUỐC GIA MŨI CÀ
MAU
Báo cáo tổng kết: điều chỉnh quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Cà Mau
– thời kỳ 2003 - 2010 và định hướng đến 2020.
Cẩm nang xúc tiến du lịch – thương mại và đầu tư Cà Mau.
6.6. Phương pháp khảo sát thực địa
Đối với đề tài nghiên cứu ở một địa bàn cụ thể nhất thiết phải có quá trình thực
địa. Quá trình này giúp người nghiên cứu thu thập thêm tài liệu có liên quan đến đề tài,
đồng thời kiểm chứng tính chính xác của thực tế so với sách vở. Bên cạnh đó, còn giúp
người nghiên cứu phần nào phát huy tính độc lập của mình trong nghiên cứu và có cái
nhìn xác đáng, toàn diện hơn thực tế.
Trong quá trình thực hiện được đề tài, em đã tiến hành đi thực địa ở một số xã
của hai huyện Năm Căn và Ngọc Hiển. Điển hình như xã Đất Mũi, xã Viên An, xã Đất
Mới, v.v. Để thu thập tài liệu, chụp ảnh, hỏi chuyện, tham quan và đồng thời cũng đến
các điểm du lịch nổi tiếng khác của tỉnh Cà Mau (Vườn chim Công viên văn hóa Cà
Mau, Vườn quốc gia U Minh hạ, Vườn dâu Cái Tàu, Hòn Đá Bạc, Căn cứ Tỉnh ủy
Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
http://www.foxitsoftware.com For evaluation only.
NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI VƯỜN QUỐC GIA MŨI CÀ
MAU
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.2. KHÁI NIỆM VỀ DU LỊCH VÀ DU LỊCH SINH THÁI
1.1.7. Khái niệm du lịch
Khoa học kĩ thuật ngày càng phát triển, xã hội có nhiều tiến bộ hơn trước, chính
vì vậy việc thỏa mãn nhu cầu của con người trong cuộc sống ngày nay là rất cao và
cần thiết. Sau khoảng thời gian làm việc và học tập căng thẳng, con người muốn tự
thưởng cho mình những chuyến du lịch.
Từ xa xưa, du lịch đã được xem là một sở thích, hay niềm đam mê của con
người. Đó là sự khám phá những vùng đất mới, những nền văn hóa mới hay đơn giản
chỉ là sự nghỉ dưỡng. Tuy nhiên, trước đây du lịch có thể chỉ dành cho những người
trong giới quý tộc, thượng lưu. Nhưng ngày nay, du lịch đã được phát triển rộng hơn,
nó không chỉ dành cho một tầng lớp nào cả, mà nó đã trở thành một nhu cầu không thể
thiếu trong đời sống văn hóa xã hội của tất cả mọi người trên trái đất này. Không chỉ
góp mặt vào đời sống xã hội, du lịch còn được xem là một ngành kinh tế quan trọng
của một số quốc gia phát triển hiện nay.
Có thể nói rằng, du lịch là một ngành công nghiệp, công nghiệp du lịch và nó
chỉ đứng sau ngành công nghiệp dầu khí và công nghiệp ô tô. Nguồn lợi mà du lịch
đem về có thể vực dậy nền kinh tế đang ốm yếu của các nước đang phát triển hiện nay.
Vậy du lịch được định nghĩa như thế nào? Đó cũng là một câu hỏi đang được bàn luận
nhiều và đến nay vẫn chưa được thống nhất.
Trong ngôn ngữ của nhiều quốc gia, thuật ngữ “du lịch” bắt nguồn từ tiếng Hy
Lạp với ý nghĩa là đi một vòng. Thuật ngữ này được La Tinh hóa thành “tornus” và
trong khu vực, nạn khủng bố, việc tăng giá xăng dầu, cùng với những thiên tai như bão
lụt, động đất, núi lửa, v.v, đều có tác động trực tiếp đến du lịch, vì thế mà họ gọi du
lịch là “ngành công nghiệp béo bệu”. Còn người Nam Tư thì xem du lịch là “tấm hộ
chiếu đi đến một thế giới hòa bình”. Mỗi quan niệm của mỗi quốc gia là mỗi khía cạnh
của du lịch. Nhưng nếu nhìn một cách tổng quát, tập hợp những quan niệm này thì ta
sẽ thấy rõ hơn về khái niệm du lịch.
Tuy nhiên trong vòng 6 thập kỉ vừa qua, kể từ khi thành lập Hiệp hội Quốc tế
các tổ chức du lịch IUOTO (International of Union Official Travel Organization) năm
1925 tại Hà Lan, khái niệm du lịch luôn luôn được tranh luận. Trong những hoàn cảnh
(thời gian, không gian) khác nhau, dưới mỗi góc độ nghiên cứu khác nhau, mỗi quốc
gia và mỗi nhà nghiên cứu đều có những cách hiểu khác nhau về khái niệm du lịch.
Một người nghiên cứu về du lịch đã từng nhận định rằng : “Đối với du lịch có bao
nhiêu tác giả nghiên cứu thì có bấy nhiêu định nghĩa”. Đầu tiên du lịch được hiểu là
việc đi lại của một cá nhân hay một nhóm người rời khỏi chỗ ở của mình để đi đến
những khu vực xung quanh để nghỉ ngơi, thư giãn, khám phá những điều mới lạ hay
để chữa bệnh. Bên cạnh đó cũng còn rất nhiều những khái niệm khác nhau. Nhà
nghiên cứu Ausher và Viện sĩ Nguyễn Khắc Viện đã đưa ra những khái niệm về du
lịch khá ngắn gọn và xúc tích. Ausher định nghĩa rằng “du lịch là nghệ thuật đi chơi
của các cá nhân”, còn Viện sĩ Nguyễn Khắc Viện thì cho rằng “du lịch là sự mở rộng
không gian văn hóa của con người”. Trong quyển sách “Du lịch và kinh doanh du
lịch”, PTS Trần Nhạn đã đưa ra khái niệm về du lịch như sau “Du lịch là quá trình
hoạt động của con người rời khỏi quê hương mình đến một nơi khác với mục đích chủ
yếu là được thẩm nhận những giá trị vật chất và tinh thần đặc sắc, độc đáo, khác lạ với
quê hương, không nhằm mục đích sinh lời được tính bằng đồng tiền”. Dưới góc độ
nghiên cứu của những nhà kinh tế, khái niệm du lịch được hiện lên là một ngành kinh
tế hiện đại, một ngành công nghiệp không khói. Du lịch đối với họ là một ngành kinh
tế đem lại lợi nhuận rất lớn nếu biết khai thác hết tiềm năng của nó.
HỮU HUYỀN VŨ THOẠI (6076602)
với các chủ đề cho từng năm gắn du lịch với việc tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau
giữa các dân tộc, vì nền hòa bình và tình hữu nghị trên toàn thế giới. Du lịch không
còn là hiện tượng lẻ loi, đặc quyền của cá nhân hay nhóm người nào đó. Ngày nay nó
mang tính phổ biến và tính nhận thức với mục tiêu không ngừng nâng cao đời sống vật
chất và tinh thần cho con người, cũng cố hòa bình và hữu nghị giữa các dân tộc.
Như vậy, khái niệm du lịch có thể được xác định như sau : “Du lịch là một dạng
hoạt động của dân cư trong thời gian rỗi liên quan đến sự di chuyển và lưu lại tạm thời
bên ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất và
tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức - văn hóa hoặc thể thao kèm theo việc tiêu thụ
những giá trị về tự nhiên, kinh tế và văn hóa (I.I Pirogionic, 1985).
1.1.8. Khái niệm du lịch sinh thái
Du lịch sinh thái là một khái niệm tương đối mới nhưng đã nhanh chóng thu hút
được sự quan tâm của nhiều người, thuộc các lĩnh vực khác nhau. Cho đến nay khái
niệm về Du lịch sinh thái vẫn còn hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau, với những tên gọi
khác nhau. Mặc dù những tranh luận vẫn còn tiếp tục nhằm đưa ra định nghĩa chung
được chấp nhận về Du lịch sinh thái, nhưng đa số các ý kiến tại diễn đàn quốc tế chính
thức về Du lịch sinh thái điều cho rằng Du lịch sinh thái là loại hình du lịch dựa vào
thiên nhiên, hỗ trợ cho các hoạt động bảo tồn và được quản lý bền vững về mặt sinh
HỮU HUYỀN VŨ THOẠI (6076602)
8
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
http://www.foxitsoftware.com For evaluation only.
NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI VƯỜN QUỐC GIA MŨI CÀ
MAU
Du lịch
Định nghĩa
về DLST
Du lịch được
quản lý bền vững
Du lịch có giáo
dục môi trường
Hình 1: Sơ đồ cấu trúc du lịch sinh thái
Nguồn: Du lịch sinh thái (Lê Văn Nhương)
HỮU HUYỀN VŨ THOẠI (6076602)
9
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
http://www.foxitsoftware.com For evaluation only.
NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI VƯỜN QUỐC GIA MŨI CÀ
MAU
Định nghĩa tương đối hoàn chỉnh về DLST lần đầu tiên được Hector Ceballos Lascurain đưa ra năm 1987: “Du lịch sinh thái là du lịch đến những khu vực tự nhiên
còn ít bị thay đổi, với những mục đích đặc biệt: nghiên cứu, tham quan với ý thức trân
trọng thế giới hoang dã và những giá trị văn hóa được khám phá”.
Hội DLST Hoa Kỳ đưa ra định nghĩa như sau: “DLST là du lịch tại các vùng
còn chưa bị con người làm biến đổi, nó phải đóng góp cho bảo tồn thiên nhiên và phúc
lợi địa phương”.
giới, Cần Giờ - khu dự trữ sinh quyển thế giới, một số vườn Quốc gia có hệ sinh thái
HỮU HUYỀN VŨ THOẠI (6076602)
10
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
http://www.foxitsoftware.com For evaluation only.
NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI VƯỜN QUỐC GIA MŨI CÀ
MAU
đa dạng nuôi dưỡng nhiều loại động, thực vật quý hiếm với không gian thoáng đãng
rừng xanh ngút ngàn, biển cả êm đềm…Bên cạnh thiên nhiên hấp dẫn còn có những
nét tín ngưỡng đặc sắc, những di tích khảo cổ, di sản văn hóa lịch sử,…khêu gợi tính
tò mò, ham hiểu biết của con người. Tất cả tạo nên một nước Việt Nam xinh đẹp, rất
gần gũi nhưng tinh khôi, rất độc đáo lại hiền hòa, duyên dáng…là điểm du lịch sinh
thái đầy háp dẫn, quyến rũ du khách trong và ngoài nước. Nhưng mỗi nơi mỗi vẻ,
thích hợp cho các loại hình du lịch sinh thái, du khách có thể đến tham quan, nghiên
cứu, hội họp, giải trí…(Du lịch sinh thái, Lê Huy Bá, 2006, Tr 185, 186, 187)
Một số loại hình du lịch sinh thái phổ biến ở Việt Nam như : Du lịch dã ngoại, tham
quan, giải trí, nghỉ ngơi, tỉnh dưỡng.
Loại hình du lịch này phục vụ khách du lịch thuần túy chỉ đơn giản là tìm về
với thiên nhiên có không khí trong lành, tươi mát, để được hòa mình với thiên nhiên
hoang dã, rừng xanh, suối mát, bãi biển mênh mông…Loại hình du lịch này có thể thu
hút mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội trong và ngoài nước; và là địa điểm thường đến
là những khu bảo tồn thiên nhiên, các khu vui chơi giải trí…có cảnh quan thơ mộng,
có nhiều biệt thự để nghỉ ngơi, nghỉ dưỡng.
Du lịch tìm hiểu, nghiên cứu theo chuyên đề sinh thái, lịch sử, khảo cổ, văn hóa
NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI VƯỜN QUỐC GIA MŨI CÀ
MAU
tồn thiên nhiên có căn cứ cách mạng hay các khu di tích lịch sử ( Phú Quốc, Bạch Mã,
Nam Cát Tiên…).
Du lịch sinh thái rạn san hô
Du lịch tham quan các hệ sinh thái san hô là một hình thức du lịch khá mới mẻ,
có tính hấp dẫn cao và thu được nhiều lợi nhuận. việc tận dụng các rạn sinh thái san hô
cho phát triển Du lịch sinh thái là hình thức bảo tồn không chỉ cho các tảng đá san hô
mà còn cho cả những sinh vật biển sống nhờ các bãi đá này. Hệ sinh thái san hô là hệ
sinh thái phong phú nhất trên trái đất, nó được ví như những khu rừng nhiệt đới về sự
đa dạng và mức đô sinh sản.
Nhưng trong những năm gần đây, do sự nóng lên của toàn cầu, sự ô nhiễm môi
trường từ các hoạt động ven biển và sự khai thác quá mức của con người đã làm suy
thái và biến mất nhiều rạn san hô có tầm qua trọng và với quy mô không nhỏ. Hiện
nay, ở Việt Nam có thể khẳng định một số khu vực có điều kiện phát triển du lịch sinh
thái rạn san hô là:
Đảo Cát Bà (Hải Phòng)
Côn Đảo (Bà Rịa-Vũng Tàu)
Vùng vịnh Văn Phong – Đại Lãnh (Khánh Hòa)
Các quần đảo miền Trung
Đảo Phú Quốc.
1.1.10.Các đặc trưng cơ bản của du lịch sinh thái
Tính giáo dục cao về môi trường:
Du lịch sinh thái hướng con người tiếp cận gần hơn nữa với các vùng tự nhiên
và các khu bảo tồn, nơi có giá trị cao về đa dạng sinh học và rất nhạy cảm về mặt môi
trường. Hoạt động du lịch gây nên những áp lực lớn đối với môi trường, và Du lịch
sinh thái được xem là chiếc chìa khóa để cân bằng giữa mục tiêu phát triển du lịch với
việc bảo vệ môi trường.
Góp phần bảo tồn các nguồn tài nguyên thiên nhiên và duy trì tính đa
nơi mình đến tham quan sẽ có được sự hiểu biết cao hơn về giá trị của môi trường tự
nhiên, về những đặc điểm sinh thái khu vực và văn hóa bản địa. Với những hiểu biết
đó thái độ cư xử của du khách sẽ thay đổi biểu hiện bằng những nỗ lực tích cực hơn
trong hoạt động bảo tồn và phát triển các giá trị tự nhiên, sinh thái và văn hóa khu vực.
Bảo vệ môi trường và duy trì hệ sinh thái
Cũng như hoạt động của các loại hình du lịch khác, hoạt động DLST tiềm ẩn
những tác động tiêu cực đối với môi trường và tự nhiên. Nếu như đối với những loại
hình du lịch khác, vấn đề bảo vệ môi trường và duy trì hệ sinh thái chưa phải là những
ưu tiên hàng đầu thì ngược lại, Du lịch sinh thái coi đây là một trong những nguyên tắc
cơ bản, quan trọng cần phải bảo vệ vì:
Việc bảo vệ môi trường và duy trì các hệ sinh thái chính thức là mục tiêu hoạt
động của Du lịch sinh thái.
Sự tồn tại của Du lịch sinh thái gắn liền với môi trường tự nhiên và các hệ sinh
thái điển hình. Sự xuống cấp của môi trường, sự suy thoái các hệ sinh thái đồng nghĩa
với sự đi xuống của hoạt động Du lịch sinh thái.
Với nguyên tắc này mọi hoạt động sẽ phải được quản lý chặt chẽ để giảm thiểu
tác động đối với môi trường, đồng thời góp phần thu thập từ hoạt động Du lịch sinh
thái sẽ được đầu tư để thực hiện các giải pháp bảo vệ môi trường và duy trì sự phát
triển của hệ sinh thái.
Bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa cộng đồng
Đây được xem là một trong những nguyên tắc quan trọng đối với hoạt động Du
lịch sinh thái, bởi vì các giá trị văn hóa bản địa là một bộ phận hữu cơ không thể tách
rời các giá trị môi trường của hệ sinh thái ở một khu vực cụ thể. Sự xuống cấp hoặc
thay đổi tập tục, sinh hoạt văn hóa truyền thống của cộng đồng địa phương dưới tác
động nào đó sẽ làm mất đi sự cân bằng vốn có. Hậu quả của quá trình này tác động
trực tiếp đến Du lịch sinh thái.
Chính vì vậy, việc bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa cộng đồng địa phương
có ý nghĩa quan trọng và là nguyên tắc hoạt động của Du lịch sinh thái.
Tạo cơ hội việc làm và mang lại lợi ích cho cộng đồng địa phương
Đây vừa là nguyên tắc, vừa là mục tiêu hướng tới của Du lịch sinh thái. Nếu
Sinh thái tự nhiên được hiểu là sự cộng sinh của các điều kiện địa lý, khí hậu tự
nhiên và động thực vật, bao gồm: sinh thái tự nhiên (natural ecology), sinh thái động
vật (animal ecology), sinh thái thực vật (plant ecology), sinh thái nông nghiệp
(agricultural ecology), sinh thái khí hậu (ecolimate), và sinh thái nhân văn (human
ecology).
Đa dạng sinh thái là một bộ phận và một dạng thứ cấp của đa dạng sinh học;
ngoài thứ cấp của đa dạng di truyền và đa dạng loài. Đa dạng sinh thái thể hiện ở sự
khác nhau của các kiểu cộng sinh tạo nên các cơ thể sống, mối liên hệ giữa chúng với
nhau và với các yếu tố vô sinh có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến sự sống như:
đất, nước, khí hậu, địa hình, v.v, đó là các hệ sinh thái (eco-system) là nơi trú ngụ, sinh
sống của một hoặc nhiều loài sinh vật (habitats) (Theo công ước đa dạng sinh học
được thông qua tại Hội nghị thượng đỉnh Rio de Janeiro về môi trường).
Như vậy có thể nói Du lịch sinh thái là một loại hình du lịch dựa vào thiên
nhiên (gọi tắt là du lịch thiên nhiên), chỉ có thể tồn tại và phát triển ở những nơi có các
hệ sinh thái điển hình với đa dạng sinh thái cao nói riêng và tính đa dạng sinh học nói
chung. Điều này giải thích tại sao hoạt động Du lịch sinh thái thường chỉ phát triển ở
các khu bảo tồn thiên nhiên (natural resevre), đặc biệt là các Vườn quốc gia (natural
park), nơi còn tồn tại những khu rừng với tính năng đa dạng sinh học cao và cuộc sống
hoang dã. Tuy nhiên, điều này không phủ nhận sự tồn tại của một số loại hình Du lịch
sinh thái phát triển ở vùng nông thôn (rural tourism) hoặc các trang trại (farm tourism)
điển hình.
HỮU HUYỀN VŨ THOẠI (6076602)
14
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
http://www.foxitsoftware.com For evaluation only.
tiếp nhận. Điều này có liên quan đến những tiêu chuẩn tối thiểu về không gian đối với
mỗi du khách cũng như đối với nhu cầu sinh hoạt của họ.
Các công thức chung để tính sức chứa như sau:
Tính sức chứa thường xuyên:
CPI =
AR
a
Trong đó:
CPI: sức chứa thường xuyên (Instantaneous carrying capacity)
AR: diện tích của khu vực (size of area)
HỮU HUYỀN VŨ THOẠI (6076602)
15
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
http://www.foxitsoftware.com For evaluation only.
NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI VƯỜN QUỐC GIA MŨI CÀ
MAU
a: tiêu chuẩn không gian (diện tích cho một người)
Tính sức chứa hàng ngày:
CPD = CPI * TR =
AR
*
TD: nhu cầu du lịch (Tourism demand)
Đứng ở góc độ sinh học:
Sức chứa được biểu hiện là lượng khách tối đa, nếu lớn hơn sẽ vượt quá khả
năng tiếp nhận của môi trường, làm xuất hiện các tác động sinh thái do hoạt động của
du khách và tiện nghi mà họ sử dụng gây ra. Sức chứa này đạt tới giới hạn khi số
lượng du khách và các tiện nghi mà họ sử dụng bắt đầu có ảnh hưởng đến tập tục sinh
hoạt của các loài thú hoang dã và làm cho hệ sinh thái bị xuống cấp. chẳng hạn như:
làm phá vỡ tập quán kết bầy, làm đất bị xói mòn, v.v.
Đứng ở góc độ tâm lý:
Sức chứa được hiểu là giới hạn lượng khách mà nếu vượt quá thì bản thân du
khách bắt đầu thấy khó chịu vì sự “đông đúc” (khó quan sát được các loài thú hoang
HỮU HUYỀN VŨ THOẠI (6076602)
16
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
http://www.foxitsoftware.com For evaluation only.
NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI VƯỜN QUỐC GIA MŨI CÀ
MAU
dã, đi lại khó khăn hơn, sự khó chịu nảy sinh do rác thải, v.v.). Những tác động này
làm giảm đáng kể sự hài lòng của du khách.
Đứng ở góc độ xã hội: sức chứa là giới hạn về lượng du khách mà tại đó bắt
đầu xuất hiện những tác động tiêu cực của hoạt động du lịch đến đời sống văn hóa – xã
hội, kinh tế - xã hội của khu vực. Cuộc sống bình thường của cộng đồng địa phương có
cảm giác bị xâm nhập và phá vỡ.
:200 – 400m2/người
Hoạt động cắm trại ngoài trời*
:100 – 200m2/người
(*Bao gồm cả không gian hoạt động cần thiết: cảnh quan, tắm biển, v.v.)
HỮU HUYỀN VŨ THOẠI (6076602)
17
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
http://www.foxitsoftware.com For evaluation only.
NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI VƯỜN QUỐC GIA MŨI CÀ
MAU
Và do đó tổng số khách có thể tham quan mỗi ngày được tính:
Số lượng khách tham quan hàng ngày = Sức chứa*Hệ số luân chuyển
Hệ số luân chuyển (c – capacity) được xác định bằng:
c=
OVT
ATS
Trong đó:
OVT: Thời gian mở cửa cho khách tham quan (Visiting Time)
ATS: Thời gian trung bình cho một cuộc tham quan (Average Time of a
sightseeing)
1.1.6.8. Yêu cầu thứ tư
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP