ĐẶC điểm TRUYỆN THƠ “NGƯ TIỀU y THUẬT vấn đáp” của NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU - Pdf 48

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA
KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN BỘ

MÔN NGỮ VĂN

HUỲNH NGỌC PHỦY

ĐẶC ĐIỂM TRUYỆN THƠ “NGƯ TIỀU Y THUẬT VẤN ĐÁP” CỦA
NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU

Luận văn tốt nghiệp đại học
Ngành Ngữ văn

Cán bộ hướng dẫn: ThS. GV PHAN THỊ MỸ HẰNG

Cầ n Thơ, năm 2011


LỜI CẢM ƠN


Một công trình nghiên cứu ra đời là kết quả của cả một quá trình ấp ủ, tìm tòi
và khám phá nó đòi hỏi người viết phải có sự cần mẫn, nghiêm túc ở từng khía cạnh cụ thể. Vì
thế, từ lúc nhận đề tài người viết đã có thời gian tìm hiểu, tham khảo nhiều nguồn tài liệu.
Trên cơ sở thừa hưởng nhiều ý kiến quý báu và có giá trị mà các công trình đi trước đã gợi ra
hoặc khẳng định và cùng với sự nỗ lực của bản thân để đi đến hoàn thiện bài viết này.

Bên cạnh những điều kiện thuận lợi nêu trên thì một nhân tố quan trọng góp
phần tạo nên sự thành công chính là sự tiếp nhận nhiều ý kiến đóng góp của quý thầy cô, bạn
bè và những người thân gần xa. Đặc biệt, người viết xin gửi lời tri ân sâu sắc, lời cảm ơn
chân thành đến cán bộ hướng dẫn Phan Thị Mỹ Hằng người đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ và

Phương pháp nghiên cứu

PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1.
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG
1.1. Khái quát truyện thơ
1.1.1. Khái niệm
1.1.2. Quá trình hình thành và phát triển của truyện thơ
1.1.3. Phân loại truyện thơ
1.2. Khái quát truyện thơ “Ngư tiều y thuật vấn đáp”
1.2.1. Hoàn cảnh sáng tác
1.2.2. Tóm tắt cốt truyện
1.2.3. Ý nghĩa truyện thơ “Ngư tiều y thuật vấn đáp”

CHƯƠNG 2.
ĐẶC ĐIỂM NỘI DUNG TRUYỆN THƠ “NGƯ TIỀU Y THUẬT VẤN ĐÁP”
2.1. Tâm trạng yêu nước nhưng bất lực trước cuộc đời
2.1.1. Lòng yêu nước thiết tha sâu nặng
2.1.2. Thái độ bất hợp tác đối với kẻ thù
2.2. Y đức của người thầy thuốc
2.2.1. Phổ biến những kiến thức về y học
3


2.2.2. Coi trọng việc cứu dân như cứu nước
2.3. Niềm tin tưởng lạc quan vào tương lai của dân tộc
2.3.1. Tin tưởng vào sự thắng lợi của đạo lý
2.3.2. Tin tưởng vào sự thắng lợi của dân tộc

CHƯƠNG 3.

Thơ văn của ông giúp ta thấy rõ thêm quá trình đấu tranh anh dũng của dân tộc trong
những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp. Nó nung nấu chí căm thù giặc và tay
sai lên cao độ. Nó kích thích và động viên tinh thần chiến đấu tiêu diệt quân thù.
Dù cuộc đời riêng gặp nhiều bất hạnh nhưng không vì thế mà ông buông xuôi,
Nguyễn Đình Chiểu đã khiến cho mọi người phải khâm phục cả về tài năng và ý chí vươn
lên của bản thân ông. Với ba truyện thơ, hàng chục bài văn tế là một số lượng không nhỏ
nhưng đáng quý hơn nữa nếu biết rằng sự nghiệp văn học của nhà thơ chỉ bắt đầu khi ông
không còn nhìn thấy ánh sáng của cuộc đời. Đường đời và sự nghiệp văn chương của Đồ
Chiểu ngay từ lúc sinh thời đã được nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam và nước ngoài chú ý,
để tâm tìm hiểu. Trong chiến tranh ác liệt gian khổ, thỉnh thoảng người ta vẫn nghe ngâm
nga vài câu Lục Vân Tiên. Ngày nay, thơ Đồ Chiểu được đưa vào trương trình phổ thông,
chương trình đại học của ngành Ngữ Văn,… nói như vậy để thấy rằng Nguyễn Đình
Chiểu cùng với các tác phẩm của ông đã, đang và sẽ mãi là đề tài cho thế hệ nhân dân, các
tầng lớp trí thức tìm hiểu.
Trong các sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu, đáng kể đến là mảng truyện thơ với ba
tác phẩm: Lục Vân Tiên, Dương Từ - Hà Mậu và Ngư tiều y thuật vấn đáp. Tác phẩm Lục
Vân Tiên có lẽ được mọi người biết đến nhiều nhất vì đã được chuyển thể thành nhiều loại
hình sân khấu và lĩnh vực điển ảnh từ lâu đã được quần chúng nhân dân ngâm vịnh trong
cuộc sống. Nhưng truyện thơ Ngư tiều y thuật vấn đáp, tác phẩm cuối cùng của Đồ Chiểu
thì ít được phổ biến vì một số người cho rằng tác phẩm ấy chỉ thiên về y học mà không
mang một giá trị văn học nào.

5


Hiểu về vùng đất, con người và văn hóa của Nam Bộ, hơn ai hết những người nơi
đây phải là những con người tường tận nhất. Bản thân người viết là đứa con của vùng
đồng bằng sông Cửu Long nên cũng muốn góp phần tìm hiểu, giới thiệu một phần nào đó
những giá trị tinh thần ở mảnh đất thân yêu và cùng nhằm giới thiệu phần nào giá trị sâu
sắc của tác phẩm Ngư tiều y thuật vấn đáp đến với mọi người. Chính vì thế người viết đã

rộng rãi. Nguyễn Đình Chiểu về tác gia và tác phẩm có thể chia thành năm phần: phần
một “Tiểu sử Nguyễn Đình Chiểu”; phần hai “Về con người và sự nghiệp”; phần ba “Về
tác phẩm văn chương của Nguyễn Đình Chiểu”; phần bốn “ Ý kiến của người nước ngoài
về tác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu”; phần năm “Phụ lục và thư mục”.
Đặc biệt ở phần thứ ba của quyển sách, tác giả đã đề cập đến các truyện thơ Lục
Vân Tiên, Dương Từ - Hà Mậu và Ngư tiều y thuật vấn đáp. Nhưng về truyện thơ Ngư
tiều y thuật vấn đáp chỉ được đề cập đến qua hai bài viết là “Lệ ngôn” (cho Ngư tiều y
thuật vấn đáp) của Phan Văn Hùm [19; 488] - đi vào tìm hiểu và so sánh các bản dịch,
nêu lên những khó khăn trong việc tiếp nhận tác phẩm do tồn tại nhiều dị bản và những
vấn đề ngoài lề khác chứ chưa đi sâu khai thác nội dung và nghệ thuật của tác phẩm và
một bài khác là “Qua Ngư tiều y thuật vấn đáp, tìm hiểu thế giới quan Nguyễn Đình
Chiểu” [19; 498] – với nhan đề nêu trên cũng phần nào đã giúp cho người đọc hiểu được
nội dung mà tác giả Bùi Thanh Ba muốn nói đến. Bài này đi tìm hiểu quan điểm của
Nguyễn Đình Chiểu về thuyết âm dương, ngũ hành, và tác dụng của thế giới quan tiến bộ
ấy đối với sáng tác của nhà thơ: “viết Ngư tiều y thuật vấn đáp Nguyễn Đình Chiểu đã để
lộ một thế giới quan tiến bộ mà chúng ta không thể tìm thấy ở các nhà thơ khác cùng thời
đại với ông” [19; 500]
Quyển Nguyễn Đình Chiểu tác phẩm và dư luận [20] đã tập hợp những bài viết của
một số tác giả tiêu biểu: Nguyễn Đăng Mạnh, Hà Minh Đức, Phạm Xuân Chi, Lê Trần
Đức,… kể cả những cây bút mới nghiên cứu lần đầu. Nhưng nhìn chung họ đều có đóng
góp ý kiến và quan điểm của mình về hầu hết các sáng tác của Đồ Chiểu. Đáng quan tâm
hơn cả là bài “Hiện tượng văn y kết hợp và giá trị văn học của tác phẩm Ngư tiều y thuật
vấn đáp” – tác giả Phạm Xuân Chi [20; 382]. Bài viết này đã phản những đặc điểm nổi
bật trong nghệ thuật của truyện thơ Ngư tiều y thuật vấn đáp như hiện tượng văn y kết
hợp, sự xen kẽ nhiều thể thơ, ngôn ngữ, nhân vật,… nhưng vì dung lượng nhỏ nên mỗi
7


vấn đề chỉ điểm qua khá sơ lược: “Chúng ta thấy sự kết hợp giữa văn và y diễn ra trong
toàn bộ kết cấu cốt truyện và ngay trong từng phần một cách có dụng ý... Tất cả những

Trong thế giới văn chương vốn dĩ là rất muôn màu muôn vẻ thì mỗi một tác giả tác phẩm trong thế giới đó là một đóa hoa mang hương sắc riêng. Đối với nhà thơ yêu
nước Nguyễn Đình Chiểu đã có biết bao công trình lớn, nhỏ khác nhau nghiên cứu về
ông. Nhưng việc khám phá văn chương Đồ Chiểu chắc chắn là chưa thể dừng lại ở đây,
bởi việc đi sâu khám phá vẻ đẹp riêng của văn chương Đồ Chiểu để giúp cho các thế hệ
ngày thêm yêu quý văn chương cụ Đồ hơn vẫn là một việc làm có cơ sở khách quan và rất
mực cần thiết.
Nguyễn Đình Chiểu – không chỉ là nhà thơ tiêu biểu cho nền văn học trung đại ở
chặng đường cuối mà công là tác giả quen thuộc luôn được giảng dạy ở các trường phổ
thông nên trong công trình nghiên cứu này chúng tôi xin được bỏ qua những phần liên
quan đến tác giả như: Cuộc đời, sự nghiệp sáng tác, quan điểm nghệ thuật,… trên cơ sở
đề tài người viết cần làm rõ một số vấn đề về thể loại truyện thơ và tác phẩm Ngư tiều y
thuật vấn đáp. Nhưng phần quan trọng mà bài viết cần nghiên cứu sâu hơn là những đặc
điểm về nội dung như: Tâm trạng yêu nước nhưng bất lực trước cuộc đời, y đức của
người thầy thuốc, niềm tin tưởng lạc quan vào tương lai của dân tộc; và những đặc điểm
về nghệ thuật như: Kết cấu, nhân vật, ngôn ngữ, điển cố.
Qua đó người viết có được cơ hội tìm hiểu sâu hơn, toàn diện hơn về nhà thơ
Nguyễn Đình Chiểu cũng như các tác phẩm của ông. Đặc biệt là những đặc điểm về nội
dung và nghệ thuật của truyện thơ Ngư tiều y thuật vấn đáp, góp phần làm phong phú
nâng cao vốn kiến thức nghiên cứu chuyên sâu, nắm vững vận dụng tri thức đạt được giúp
ích cho việc giảng dạy, nghiên cứu về tác giả và tác phẩm sau này.

4. Phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ của đề tài, đối tượng khảo sát là tìm hiểu “Đặc điểm truyện thơ
Ngư tiều y thuật vấn đáp” ở hai phương diện nội dung và hình thức của tác phẩm và một
số vấn đề về thể loại truyện thơ. Để mở rộng phạm nghiên cứu, luận văn còn tìm hiểu một
số tác phẩm truyện thơ khác có mối quan hệ với Ngư tiều y thuật vấn đáp
Vì phải lưu truyền khá lâu trong nhân dân trước khi được xuất bản nên Ngư tiều y
thuật vấn đáp tồn tại khá nhiều dị bản. Trong bài viết này chúng tôi đã chọn một trong số
9


CHƯƠNG 1.
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG

1.1. Khái quát truyện thơ
1.1.1. Khái niệm
Truyện thơ về tên gọi thể loại, hiện nay phổ biến gọi là truyện Nôm vì do điều kiện
lịch sử văn xuôi Nôm không phát triển, nghĩa là văn Nôm chỉ tồn tại dưới dạng văn vần
và biền ngẫu cho nên gọi truyện thơ hay truyện Nôm đều không sợ nhầm lẫn là truyện văn
xuôi Nôm. Đã có khá nhiều ý kiến, khái niệm khác nhau xung quanh thuật ngữ truyện thơ .
Theo Từ điển thuật ngữ văn học cho rằng: “Truyện Nôm là thể loại tự sự bằng thơ dài rất
tiêu biểu cho văn học cổ điển Việt Nam, nở rộ vào cuối thế kỉ XVIII - đầu thế kỉ XIX, do
viết bằng tiếng Việt, ghi bằng chữ Nôm nên được gọi là truyện Nôm”.

1


Truyện Nôm có tác phẩm được viết bằng thơ Đường luật như Vương Tường, Tô
Công Phụng Sứ,... nhưng phổ biến nhất là loại viết bằng thể thơ lục bát. Có hai loại truyện
Nôm: Truyện Nôm bình dân viết trên cơ sở truyện dân gian như Phạm Tải Ngọc Hoa,
Tống Trân Cúc Hoa, Thạch Sanh,... Truyện Nôm bác học có loại viết trên cơ sở cốt truyện
có sẵn của văn học Trung Quốc như Phan Trần, Hoa Tiên, Nhị Độ Mai, Truyện Kiều,... có
loại xây dựng theo cốt truyện sáng tạo bằng hư cấu như Hoàng Trừu, Trê Cóc, Sơ Kính
Tân Trang, Lục Vân Tiên,...
Truyện Nôm bình dân hầu hết không có tên tác giả, được lưu truyền trong dân
gian, ngôn ngữ bình dị, mộc mạc. Truyện Nôm bác học có ngôn ngữ trau chuốt, điêu
luyện, dùng nhiều từ Hán Việt, điển tích tiêu biểu cho trình độ diễn đạt của văn học viết
của dân tộc, trong đó có những tác phẩm đạt tới mức độ cổ điển, mẫu mực, bất hủ như
Truyện Kiều của thi hào Nguyễn Du.
Đây là một thể loại sáng tác tiếng Việt (chữ Nôm) thời trung đại, phát triển mạnh
từ nửa sau thế kỷ XVIII và suốt thế kỷ XIX. Số lượng tác phẩm còn tìm được khoảng trên

sáng tác mới trên cơ sở một cốt truyện vay mượn): Phan Trần, Nhị độ mai, Hoa tiên,…
Cuối cùng là loại sáng tác mới cốt truyện được tạo ra như là kết quả sự hư cấu nghệ thuật
của chính tác giả (dựa trên kinh nghiệm sống riêng của mình) như: Mai Đình mộng ký của
Nguyễn Huy Hổ, Sơ kính tân trang của Phạm Thái…
Khi phong trào truyện Nôm được truyền khẩu rộng rãi, một số người đã sử dụng
loại hình này để sáng tác. Trên cơ sở của những thành tựu truyện Nôm, các nhà nho nâng
cao nghệ thuật viết truyện Nôm lên một mức. Họ xây dựng hình tượng, miêu tả tính cách
nhân vật, miêu tả hành động của nhân vật cho đến kết cấu, ngôn ngữ,... rõ nét, mượt mà
và kỹ xảo hơn so với hình thức ban đầu. Kho tàng truyện Nôm còn lại hiện nay có loại
viết bằng thể thơ lục bát, có loại viết bằng thể thơ Đường luật, có những truyện có tên tác
giả và có những truyện khuyết danh.
Ở thế kỉ XVI, Phùng Khắc Khoan có Lâm Tuyền Vãn, Đào Duy Từ có Tư Dung
Vãn, Song Tinh Bất Dạ của Nguyễn Hữu Hào, Sứ Trình Tân Truyện của Nguyễn Tống
Khuê,... yếu tố tự sự đã bắt đầu hình thành và phát triển. Sang thế kỉ XVII có Thiên Nam

1


Ngữ Lục. Đặc biệt ở thế kỉ XVIII kiệt tác Truyện Kiều của Nguyễn Du xuất hiện là một
bước đột phá về nội dung và hình thức truyện thơ Nôm Việt Nam.
Cũng cần nói thêm, phần lớn các truyện Nôm dựa vào cốt truyện của Trung Quốc
hoặc kể lại các truyện cổ tích Việt Nam bằng chữ Nôm. Dĩ nhiên là các tác phẩm có sự
sáng tạo nghệ thuật chứ không đơn thuần chỉ là ghi lại các cốt truyện.
Như vậy, có thể nói đến thế kỉ XVI truyện Nôm được hình thành. Từ thế kỉ XVII
bắt đầu phát triển và đạt đến mức thịnh nhất vào thế kỉ XVIII và nửa đầu thế kỉ XIX. Sang
đầu thế kỉ XX việc sáng tác chữ Nôm dần dần chấm dứt. Truyện thơ Nôm là một thành
tựu lớn của nghệ thuật ngôn từ tiếng Việt thời trung đại. Sự xuất hiện của bộ phận tác
phẩm này có ý nghĩa điều chỉnh lại diện mạo chung của văn học thành văn Việt Nam
trước đó, vốn là nền văn học phát triển theo mô hình văn học trung đại Trung Hoa.


khi vụng về. “Truyện Nôm bình dân” như Thạch Sanh, Tống Trân Cúc Hoa, Phạm Tải
Ngọc Hoa, Phương Hoa… đều là khuyết danh, thường là loại diễn ca truyện cổ tích,… lời
thơ mộc mạc nôm na, gần với lời kể vè; sự tích trong truyện thường được phiếm chỉ hóa
(làm mất tính xác định lịch sử của không gian, thời gian), nhân vật không phải là những
cá tính mà là những “loại tính” (tính cách chung nhất của một hạng người). Các câu
chuyện được kể ra đều như là nhằm khuyến khích điều thiện, cảnh báo việc ác; cốt truyện
được phát triển như là để minh chứng cho quan niệm mang tính ảo tưởng của dân gian “ở
hiền gặp lành”, các nhân vật chính đều là những người tốt, lương thiện, dù có gặp tai
ương chướng họa trên đời, cuối cùng cũng đều vượt qua, đều chiến thắng, được làm
vua… Giới nghiên cứu nêu lên sự liên hệ chặt chẽ về nguồn gốc và về loại hình của
“truyện Nôm bình dân” với sáng tác dân gian. Có những đề xuất theo đó nên xem “truyện
Nôm bình dân” là thuộc loại hình văn nghệ dân gian (tức là truyện kể dân gian bằng văn
vần).
Truyện Nôm bác học phần lớn có tên tác giả, chỉ một số ít là khuyết danh. Nói
chung, tác giả của truyện Nôm bác học là những người thuộc tầng lớp phong kiến quí tộc,
có trình độ học vấn uyên bác, có quá trình tu dưỡng nghệ thuật. Hầu hết loại truyện này
được viết dựa theo những cốt truyện trong văn học cổ Trung Quốc, cá biệt mới có truyện
được nhà thơ hư cấu, sáng tác. Về nội dung của nó có nhiều mặt phong phú, tiến bộ, đồng
11


thời cũng ghi lại dấu vết đậm nét những mâu thuẫn và hạn chế trong thế giới quan và nhân
sinh quan của tác giả, vốn là những người thuộc tầng lớp trên. Về nghệ thuật, một mặt thì
những tác phẩm này được gia công trau chuốt nhiều, nhà thơ tỏ ra có trình độ nghề nghiệp
khá điêu luyện. Mặt khác, ở những mức độ khác nhau trong từng tác phẩm, nó lại có tính
chất cầu kỳ, kiểu cách, như nhà thơ sử dụng nhiều chất liệu lấy trong thơ ca Trung Quốc,
nhiều từ ngữ Hán Việt, nhiều điển cố,… Truyện Nôm bác học được sáng tác theo phương
thức của văn học thành văn, là những tác phẩm chủ yếu để xem, để đọc, chứ không phải
để kể. Điều đó chi phối cách xây dựng cốt truyện, cách miêu tả nhân vật, miêu tả các biến
cố, các sự kiện của nó. Theo phân loại ước lệ nêu trên, thường có tên tác giả (trừ một vài

khi ông về Ba Tri, có lẽ là vào năm 1867 khi cả một miền đất đai rộng lớn, màu mỡ của
Tổ quốc rơi vào tay giặc Pháp. Tác phẩm này được viết bằng thể lục bát: gồm 3642 câu
lục bát, 21 bài thơ Đường luật và một số bài thuốc Đông y. Bản in trong Nguyễn Đình
Chiểu toàn tập (tập II) của nhà xuất bản Văn Học xuất bản năm 1997.
Tác phẩm được lưu truyền trong hai tỉnh Bến Tre và Mỹ Tho cho mãi đến năm 1952
mới được nhà xuất bản Tân Việt Sài Gòn xuất bản, tác phẩm còn có rất nhiều dị bản. Đây
là một tác phẩm hết sức độc đáo cả về nội dung lẫn hình thức nghệ thuật.

1.2.2. Tóm tắt cốt truyện
Vào đời Hậu Tấn khoảng năm 936 đất U Yên ở Trung Quốc, Thạch Kính Đường vì
muốn chiếm ngôi báu của nhà Hậu Đường nên đã thông mưu với quân Khiết Đan (nước
Liêu), cắt đất nhượng cho Khiết Đan, để được Khiết Đan phong cho làm vua xứ này. Dân
trong chốn nhượng địa phải sống khổ sở lầm than, dưới ách đô hộ của nước ngoài và dưới
sự áp bức của bè lũ gian nịnh bù nhìn trong nước. Những người có tâm huyết không khuất
phục chế độ ấy. Một số xiêu bạt đi nơi khác để sinh sống, không ít kẻ phải lánh đi, kẻ lên
núi hái củi (tiều) hoặc kẻ xuống biển đánh cá (ngư) để kiếm sống.
Trong truyện, nhân vật Ngư tên là Bào Tử Phược, nhân vật Tiều tên là Mộng Thê Triền.
Họ vốn là hai người bạn, vì nạn “nước mất”, hoàn cảnh loạn ly mà xa cách nhau từ lâu, cả
hai cùng bỏ con đường khoa cử để sống ẩn dật. Hai nhân vật Ngư và Tiều đều có hoàn
cảnh gia đình khó khăn người thì vợ chết, vợ bệnh liên miên, kẻ thì con đông nhưng đau
không dứt. Sau khi kể cho nhau nghe hoàn cảnh gia đình, Ngư và Tiều rủ nhau đi tìm Kỳ
Nhân Sư là một vị thầy thuốc có “tài cao đức trọng” ở đất U Yên, lúc này cũng đang đi ở
13


ẩn, thương dân nên ra làm thuốc cứu dân độ thế. Dọc đường họ gặp được Châu Đạo Dẫn
(nghĩa là kẻ dẫn đường vào nhà Châu (Chu)) vốn là đồ đệ của Kỳ Nhân Sư, liền nhờ Châu
Đạo Dẫn dẫn lối cho.
Biết Kỳ Nhân Sư đi vắng, Châu Đạo Dẫn liền mời Ngư và Tiều vào am Bảo Dưỡng
nghỉ tạm vài ngày. Ba người từ đó kết thân với nhau và Châu Đạo Dẫn đã dạy cho Ngư và

biệt Đạo Dẫn và nhập Môn, Ngư - Tiều dự định sẽ bỏ nghề cũ để đi làm nghề y. Đêm đi
lạc đường trong rừng, vào ngủ ở một cái miếu trong hang, nằm mê thấy mộng xử án các
thầy thuốc, thầy châm cứu chữa xằng, và thầy phép, thầy chùa gieo mê tín dị đoan. Tỉnh
ra, Ngư, Tiều mới biết đó là những lời răn, nên khi về nhà, cả hai người đều ra công học
thuốc cho thật giỏi, thấu đáo, rồi chuyên mỗi người một khoa. Ngư chữa bệnh nhi khoa,
Tiều chữa bệnh phụ khoa. Họ đều trở nên những thầy thuốc lành nghề và chân chính. Họ
thường qua lại với nhau và thỉnh thoảng lại đến Đan Kỳ để học thêm những bí quyết trong
nghề thuốc của Kỳ Nhân Sư.

1.2.3. Ý nghĩa truyện thơ “Ngư tiều y thuật vấn đáp”
Đến khi cuộc chiến đấu bằng gươm súng đã buộc phải tạm ngưng, Nguyễn Đình Chiểu
cũng như nhân dân miền Nam lúc bấy giờ vô cùng căm phẫn. Ông rất đau xót về tình
cảnh đất nước bị chia cắt, nhân dân khổ cực nhiều bề, vì bị mù không có điều kiện cầm vũ
khí giết giặc, nên ông đã dùng bút thay gươm, viết văn làm thơ để nói lên lòng yêu nước thương dân, căm thù sâu sắc đối với quân cướp nước và bè lũ vua quan nhà Nguyễn bán
nước, hại dân.
Ngư Tiều y thuật vấn đáp là tác phẩm tiêu biểu cuối cùng của Nguyễn Đình Chiểu.
Đây là một truyện thơ mang nhiều ý nghĩa, nhằm mục đích phổ biến Đông y tác giả đã
mượn bối cảnh đất nước U Yên ở Trung Quốc đời xưa bị giặc nước ngoài xâm chiếm,
dựng lên câu chuyện người dân xứ này đi lánh nạn , tìm thầy học thuốc cứu người, cứu
dân trong cảnh lầm than nheo nhóc. Dưới hình thức câu chuyện về y học để nói lên sự
quan tâm của mình đối với tính mạng của bệnh nhân trước tình cảnh các dung y vụ lợi,
nhằm bổ cứu tình hình y học đương thời vì nhiệm vụ của người thầy thuốc là bảo vệ sức
khỏe cho nhân dân. Song song với nhiệm vụ cứu người, tác giả còn nêu cao vấn đề cứu

15


nước nhằm động viên tinh thần đấu tranh chống ngoại xâm của nhân dân, nói lên tấm lòng
yêu nước thiết tha sâu nặng của mình.
Tình thế không còn cho phép kêu gọi đánh Tây, tác giả lại chủ trương không cộng

ngoại xâm thắng lợi đã đem đến cho thơ văn những trang viết hết sức hào hùng, sôi nổi.
Thơ của Lý Thường Kiệt, Trần Quang Khải, hịch của Trần Hưng Đạo, cáo của Nguyễn
Trãi, phú của Trương Hán Siêu,… là những tác phẩm mẫu mực của văn học yêu nước các
giai đoạn trước, đồng thời cũng là những tác phẩm mẫu mực của văn học dân tộc nói
chung. Văn học yêu nước chống Pháp giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX đã kế thừa một cách
tốt đẹp truyền thống yêu nước trong lịch sử và có những bước phát triển mới của nó.
17


Nguyễn Đình Chiểu là người mở đầu cho giai đoạn văn học nửa cuối thế kỷ XIX,
là nhà thơ tiêu biểu nhất cho dòng văn học yêu nước chống Pháp. Tên tuổi của ông tượng
trưng cho lòng yêu nước Việt Nam giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX, đặc biệt là tượng trưng
cho lòng yêu nước của nhân dân miền Nam, và thơ văn của ông như cố thủ tướng Phạm
Văn Đồng đã viết là: “những trang bất hủ ca ngợi cuộc chiến đấu oanh liệt của nhân dân
ta chống bọn xâm lược phương Tây ngay buổi đầu chúng đặt chân lên đất nước ta”(…).
Nói đến thầy Đồ Chiểu – cái tên trìu mến mà nhân dân miền Nam dùng để gọi cho
nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu, người ta không thể không nhắc tới tình yêu đất
nước thiết tha trong tâm hồn ông và trong thơ văn của ông. Bản thân cuộc đời của Nguyễn
Đình Chiểu có những đặc điểm hết sức đặc biệt. Ông sống trong giai đoạn nước nhà đang
có những cơn nguy biến và gay go nhất của lịch sử. Nhân dân đã tiến hành một cuộc
chiến đấu quyết liệt chống kẻ thù, nhưng giai cấp phong kiến mục nát nhà Nguyễn từng
bước đầu hàng thực dân Pháp. Tự Đức năm 1862 cắt ba tỉnh miền Đông Nam Bộ, và năm
1867 cắt luôn ba tỉnh miền Tây Nam Bộ cho giặc Pháp, mở đầu cho một thời kì đen tối
của đất nước ta dưới ách đô hộ của quân xâm lược trong gần một thế kỉ. Nguyễn Đình
Chiể - người Gia Định, bị mù lòa, không có điều kiện cầm gươm, cầm súng giết giặc, ông
vẫn theo dõi rất sát phong trào chống giặc của nhân dân và ngay từ đầu đã dùng ngòi bút
của mình làm vũ khí chiến đấu:
Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm
Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà
Với ngòi bút chiến đấu nhà thơ đã trực tiếp đánh giặc suốt đời. Có thể nói bao

Kể từ Thạch Tấn lên ngôi,
U Yên mấy quận cắt bồi Khiết Đan.

(5-6)

Một phần đất nước bị cắt cho giặc, nhân dân khôn xiết lầm than “Sinh dân nào xiết
bùn than”. Có thể thấy dưới lớp vỏ đàm đạo y thuật, tác phẩm này là một ẩn dụ lớn, gói
trọn tấm lòng yêu nước thiết tha mà sâu nặng, kín đáo. Mượn câu chuyện là Thạch Kính
Đường vì muốn chiếm ngôi báu nên đã cam lòng cắt đất U Yên cho giặc. Dân trong chốn
nhượng địa phải sống khổ sở, chật vật, đói kém “sinh dân đồ thán”, trước cơn nguy biến
của Tổ quốc “cuộc cờ thúc quý đua bơi” một cuộc đời loạn lạc, đua nhau giành dật, thắng
bại, loại trừ lẫn nhau:
Đời vương đời đế xa rồi
Nay Di mai Hạ biết hồi nào an.
19

(17-18)


Với lòng yêu nước thiết tha sâu nặng đau buồn về thời cuộc, về lòng người với đạo
trời, hai nhân vật Ngư - Tiều gặp nhau, sau câu hàn huyên rồi cùng nhau hoài cổ về một
thời đã qua, từ thời Tam hoàng Ngũ đế. Họ bàn luận, khen chê, họ thương xót thở than
cho những gì đã qua từ thuở “Đông Chu, Hạ Thương, Thất hùng, Ngũ bá”:
Uống thêm vài chén rượu giao,
Ngâm thi hoài cổ để rao tiếng đời.

(55-56)

Tất cả toàn là những câu chuyện xa xưa, chuyện của một thời đã qua nay lúa đã
“trổ đầy, bò lấp” những dấu rêu xanh. Thế nhưng qua ngòi bút tài hoa của Nguyễn Đình

đã có những xót xa, nhiều cảnh “bờ cõi qua phân”. Nhưng không đâu nỗi đau tập trung
bằng ở tác phẩm này, chen vào giữa những đoạn thuần túy chuyên môn, những câu những
chữ nói lên tinh thần bất khuất, tâm tư đau xót của nhà thơ, có một sức xúc cảm lạ
thường. Cho nên cây cỏ cũng điêu đứng vì Tây trên con đường Ngư – Tiều đi tìm thầy
học thuốc:
Trăm hoa nửa khóc nửa cười,
Cỏ cây đưa nhánh đón đường

(239-241)

Mắt nhìn “đất cũ cảnh tình trêu ngươi”, tất cả nỗi kinh ngạc, đau thương, căm thù
như hòa vào chim muông, cây cỏ, đá núi, nước khe, cảnh vật thiên nhiên vô tri vô giác mà
cũng buồn đau da diết, u uất như người vì đất nước bị chia cắt, vì linh hồn đất nước đang
quằn quại rên xiết dưới gót sắt của giặc ngoại xâm. Ngòi bút của nhà thơ lại được lôi
cuốn trong một dòng trữ tình mãnh liệt như một cơn nước lũ giữa:
Ngày xuân mà cảnh chẳng xuân
Mây sâu gió thảm biết chừng nào thanh.

(253-254)

Thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu khi thì hùng hồn, cảm khái, khi thì tha
thiết lâm ly, nhiều đoạn uyển chuyển du dương, có lúc lại sôi nổi mạnh mẽ. Trong thơ văn
yêu nước của ông còn có những đóa hoa, những hòn ngọc rất đẹp như bài Xúc cảnh một
bài thơ do nhân vật Đường Nhập Môn ngâm. Đây là một bài thơ tiêu biểu cho nỗi đau xót
của chính các nhân vật hay cũng chính là của tác giả. Trong chiều sâu tư tưởng của tác giả
đó là một nỗi đau buồn trước cảnh đất nước bị chia cắt, quê hương trở thành đất giặc:
Bờ cõi xưa đà chia đất khác
Nắng sương nay há đội trời chung.

(VI)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status