( Word Converter - Unregistered )
ĐỀ CƯƠNG TỔNG QUÁT
Đề tài:
NGÔN NGỮ GIỚI THIỆU NHÂN VẬT CỦA
NGUYỄN DU TRONG “TRUYỆN KIỀU”
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
2. Lịch sử vấn đề
3. Mục đích nghiên cứu
4. Phạm vi nghiên cứu
5. Phương pháp nghiên cứu
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TÁC GIẢ, TÁC PHẨM.
1. Tác giả
2. Tác phẩm
Chương 2: NGÔN NGỮ GIỚI THIỆU NHÂN VẬT CỦA NGUYỄN DU TRONG
“TRUYỆN KIỀU”
1. Ngôn ngữ giới thiệu nhân vật
1.1. Nhân vật văn học là gì?
1.2. Ngôn ngữ giới thiệu nhân vật trong tác phẩm văn học.
2. Đôi nét về ngôn ngữ trong Truyện Kiều
3. Ngôn ngữ giới thiệu nhân vật của Nguyễn Du trong “Truyện Kiều”
( Word Converter - Unregistered )
còn”. Điều đó cho ta thấy được vai trò to lớn của Tiếng Việt cũng như ngôn ngữ
Truyện Kiều là rất quan trọng. Nó là niềm tự hào của người Việt Nam qua bao thế hệ.
Ngay từ khi ra đời cho đến mãi về sau Truyện Kiều luôn được độc giả yêu
thích. Bởi lẽ với người Việt Nam, Truyện Kiều đã đi sâu vào lòng họ như một khúc
hát ru với lời thơ êm đềm, giọng thơ da diết. Hàng trăm năm qua, Truyện Kiều đã
sống chan hoà trong đời sống của toàn dân tộc. Không riêng gì Văn học Việt Nam, mà
trong Văn học thế giới cũng hiếm có tác phẩm nào chinh phục được rộng rãi tình cảm
của đông đảo người đọc như Truyện Kiều . Từ người già đến trẻ, từ người có học đến
quần chúng bình dân trước đây phần lớn bị thất học đều thuộc và yêu thích Truyện
Kiều . Dương Quảng Hàm nhận định: "trên từ các bậc văn nhân thi sĩ, dưới đến các
kẻ thường dân phụ nhụ, ai cũng thích đọc, thích ngâm và thuộc được ít nhiều...”
Truyện Kiều khẳng định sức ảnh hưởng của mình ngay trong ca dao, dân ca: “Đàn
ông chớ kể Phan Trần/ Đàn bà trớ kể Thúy Vân Thúy Kiều…”. Sở dĩ Truyện Kiều
có sự ảnh hưởng sâu rộng như thế là vì ngoài nội dung phong phú và sâu sắc của nó,
Truyện Kiều còn là một tác phẩm chứa đựng tinh hoa của ngôn ngữ dân tộc.
Bên cạnh đó Truyện Kiều còn là một tác phẩm có giá trị như một thông điệp
cho con người giao cảm với thế giới vô hình, dạt dào cảm xúc mơ mà như thực, lung
linh huyền ảo mà minh bạch lạ lùng. Nói đến Truyện Kiều có lẽ không ai không thừa
nhận sự thành công vô cùng rực rỡ về cả hai mặt nội dung và hình thức. Từ sau khi
Truyện Kiều ra đời cho đến nay, có rất nhiều công trình nghiên cứu đi sâu vào khai
thác giá trị nội dung cũng như hình thức của tác phẩm. Trên bình diện nghệ thuật, các
tác giả cố gắng khơi nên cái hay, cái đẹp cho những dòng thơ lục bát và đã nâng nội
dung Truyện Kiều nên đến độ thăng hoa. Tuy nhiên có vài khía cạnh chỉ mới được
( Word Converter - Unregistered )
xem xét trên bình diện tổng quát, chưa kịp đi vào tìm hiểu cụ thể, đó là giá trị ngôn
ngữ giới thiệu nhân vật trong Truyện Kiều .
bàn về nội dung tác phẩm và dựa trên nền tảng đạo đức với các ý kiến khác nhau.
Nhưng từ năm 1952 trở đi, khi đi vào nghiên cứu Truyện Kiều , các nhà nghiên cứu
đã đi vào phân tích, đánh giá toàn vẹn hơn cả về nội dung lẫn nghệ thuật của tác phẩm.
Các tác giả giai đoạn này thể hiện tư tưởng mới mẻ hơn so với các tác giả trước đây,
đó là họ không đặt tác phẩm trong mối quan hệ với đạo đức để đánh giá phẩm chất
nhân vật, hay tư tưởng của Nguyễn Du trong tác phẩm mà xoáy sâu vào từng câu chữ
để tìm cái hay trong nội dung và cái độc đáo trong nghệ thuật. Và từ giai đoạn này trở
đi nội dung và nghệ thuật của Truyện Kiều được nhìn nhận trong sự nhất trí của hầu
hết tác giả.
Cả về nội dung lẫn nghệ thuật, hầu hết các công trình nghiên cứu đều khẳng định
những đóng góp to lớn của Nguyễn Du trong Truyện Kiều . Về nội dung đó là giá trị
nhân đạo và giá tri hiện thực của tác phẩm, còn về nghệ thuật luôn thu hút được sự chú
ý của rất nhiều nhà nghiên cứu. Trong công trình nghiên cứu Truyện Kiều của mỗi
người, bao giờ tác giả cũng dành những trang viết về những thành công trong nghệ
thuật của Nguyễn Du như: nghệ thuật xây dựng nhân vật, tả cảnh ngụ tình, diễn biến
tâm lí nhân vật, phương pháp sáng tác,… và đặc biệt là việc sử dụng ngôn ngữ Truyện
Kiều . Nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ trong Truyện Kiều là một thành công tiêu biểu
và đặc sắc, góp phần nâng tác phẩm lên hàng kiệt tác. Đồng thời còn là sự khẳng định
tài năng của Nguyễn Du. Các bài nghiên cứu của rất nhiều tác giả đều chứng minh cho
ngôn ngữ Truyện Kiều ở các khía cạnh “sự phong phú về từ vựng, đa dạng về lớp
từ; ngôn ngữ trong sáng giàu hình ảnh, giàu sức gợi, truyền cảm; ngôn ngữ được
sử dụng một cách cân nhắc có chọn lựa; cú pháp câu thơ cũng mang tính chất thơ
ca rõ rệt” [15; tr. 85-86]. Chính sự đặc sắc ở nhiều khía cạnh của ngôn ngữ Truyện
Kiều đã góp phần làm lên sự thành công của tác phẩm, mà nghệ thuật giới thiệu nhân
vật của Nguyễn Du trong tác phẩm là một minh chứng cụ thể.
Trong bài viết “Về ngôn ngữ giới thiệu nhân vật trong Truyện Kiều ” Lý
Toàn Thắng khẳng định “Đối với ngôn ngữ của toàn bộ một tác phẩm. Cái phần
ngôn ngữ giới thiệu nhân vật mới vào chuyện này cũng thể hiện không phải là ít
ỏi tài năng của người cầm bút: và cũng không phải là không có vấn đề để các nhà
giá nội dung tác phẩm, tác phẩm được đánh giá bình luận và nhìn nhận trên nhiều
phương diện cũng như nhiều góc độ khác nhau. Bài viết khẳng định tài năng của
Nguyễn Du trong cách diễn đạt từ, ngữ, câu và nghệ thuật thể hiện tâm lí nhân vật. Hay
ý kiến của Lê Xuân Lít trong 200 năm nghiên cứu bàn luận Truyện Kiều . Tác giả
( Word Converter - Unregistered )
đã bỏ công tổng hợp toàn bộ những bài viết, những bài phê bình, bình luận trong
khoảng 200 năm nghiên cứu về Truyện Kiều . Đó là những bài viết tiêu biểu nhất,
nghiên cứu Truyện Kiều một cách gần như toàn diện nhất ở rất nhiều quan điểm khác
nhau. Các bài viết chủ yếu tập trung thể hiện những phát hiện mới, những nội dung cụ
thể giúp người đọc hiểu sâu hơn về Truyện Kiều ở những phương diện cụ thể như:
ngôn ngữ, vấn đề dị bản, nghệ thuật phân tích tâm lí nhân vật…, nhưng cũng chưa có
bài viết nào đi vào nghiên cứu một cách cụ thể và sâu sắc ngôn ngữ giới thiệu nhân vật
trong Truyện Kiều .
Nhìn chung, viết về ngôn ngữ Truyện Kiều đã có rất nhiều công trình nghiên
cứu và hầu hết đều ca ngợi Truyện Kiều . Tài năng của Nguyễn Du được khẳng định là
ông đã rất khéo léo khi vận dụng ngôn ngữ một cách tài tình trong tác phẩm của mình,
đặc biệt là Truyện Kiều . Chính điều đó đã góp một phần lớn tạo lên sự thành công
của tác phẩm. Việc vận dụng ngôn ngữ trong việc diễn biến tâm lí nhân vật, trong việc
xây dựng hình tượng nhân vật hay trong cách giới thiệu nhân vật,… tất cả đều rất tài
tình. Truyện Kiều đã đánh dấu một giai đoạn quan trọng trong lịch sử Tiếng Việt, nó
góp phần làm cho Tiếng Việt thêm giàu đẹp, thêm uyển chuyển và trở nên chính xác
và xúc tích lạ thường. Tuy nhiên, việc đi vào tìm hiểu ngôn ngữ giới thiệu nhân vật
trong Truyện Kiều hầu như chưa có một công trình thật sự chuyên sâu, có chăng
cũng chỉ là một số nhận xét lẻ tẻ để góp phần nghiên cứu ngôn ngữ Truyện Kiều .
3. MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU.
5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
( Word Converter - Unregistered )
Để đi vào nghiên cứu đề tài “Ngôn ngữ giới thiệu nhân vật của Nguyễn Du
trong Truyện Kiều ” người viết phải sử dung rất nhiều phương pháp như: phương
pháp lịch sử, thống kê, hệ thống, đối chiếu so sánh, tổng hợp,…
Phương pháp lịch sử:
Để đi vào nghiên cứu ngôn ngữ văn chương cũng như ngôn ngữ giới
thiệu nhân vật trong Truyện Kiều . Theo người viết trước hết chúng ta phải tìm hiểu
đôi nét về ngôn ngữ văn chương, về nguồn gốc lịch sử- xã hội để hình thành nên ngôn
ngữ văn chương cũng như ngôn ngữ giới thiệu nhân vật trong một tác phẩm, các
phương thức được sử dụng để giới thiệu nhân vật, vị trí của ngôn ngữ văn chương
trong kho ngôn ngữ của Tiếng Việt,… Phương pháp lịch sử giúp người viết nắm bắt
được nội dung cơ bản của yếu tố này.
Phương pháp phân tích:
Phương pháp phân tích được người viết sử dụng để đi vào phân tích các
phương thức ngôn ngữ được Nguyễn Du sử dụng để giới thiệu nhân vật trong Truyện
Kiều . Qua đó làm nổi bật giá trị nghệ thuật cũng như giá trị nội dung của tác phẩm,
đồng thời khẳng định tài năng sử dụng ngôn ngữ của Nguyễn Du.
Phương pháp đối chiếu so sánh:
Trong quá trình nghiên cứu người viết sử dụng phương pháp này để đối
chiếu so sánh nhiều ý kiến của các tác giả để có được những đánh giá chính xác nhất
về ngôn ngữ văn chương cũng như ngôn ngữ giới thiệu nhân vật. Bên cạnh đó người
viết còn đối chiếu so sánh việc sử dụng ngôn ngữ để giới thiệu nhân vật của Nguyễn
Du so với các tác gia cùng thời.
Phương pháp thống kê:
( Word Converter - Unregistered )
cũng tỏ lòng xót thương, tiếc nối cho con người tài năng không còn trên dương thế
ấy:
“Tiếng thơ ai động đất trời
Nghe như non nước vọng lời nghìn thu
Nghìn năm sau nhớ Nguyễn Du
Tiếng thương như tiếng mẹ ru những ngày
Hỡi người xưa của ta nay
Khúc vui xin lại so dây cùng người!”
Quả thật chỉ ở một đoạn thơ ngắn ngủi mà Tố Hữu đã cho ta thấy hết được cái
tâm cái tài của đại thi hào dân tộc Nguyễn Du. Là con người Việt Nam không ai
không biết đến và mến mộ tài năng của ông. Cũng trong bài thơ “Nhớ Nguyễn Du”
của mình, Chế Lan Viên đã để Nguyễn Du trở thành người “anh” của mọi người, của
cả dân tộc. Người “anh” đấy đã trở thành thi nhân, và “anh” đã dốc lòng cống hiến,
cống hiến tất cả cho đời hơn những gì đời dành tặng cho “anh”. Và người “anh” thi
nhân ấy đã trở thành đại thi hào của dân tộc, một danh nhân văn hóa của thế giới. Và
tài sản mà người cống hiến đó là cả một sự nghiệp sáng tác phong phú, sâu sắc cả về
nội dung và độc đáo cả về nghệ thuật. Những lời thơ của Nguyễn Du thể hiện một trái
tim nhân đạo cao cả và một tài năng nghệ thuật sáng ngời, và đến tận bây giờ lời thơ ấy
vẫn âm vang “động đất trời”, vẫn rất gần gũi gắn bó thân thương như “tiếng mẹ ru
những ngày”. Những tác phẩm của Nguyễn Du đã trở thành kiệt tác văn chương mà
người đời sau còn nhắc mãi, và chắc chắn rằng dù nghìn năm sau nữa cũng vẫn còn rất
nhiều những con người “nhớ đến Tố như”. Tài năng của Nguyễn Du với những kiệt tác
văn chương như ngững viên ngọc lấp lánh đã làm rực sáng một giai đoạn văn học trung
đại Việt Nam, để rồi sáng mãi trong lòng dân tộc và nhân loại.
Bối cảnh lịch sử xã hội Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII nửa đầu thế Kỷ XIX xảy
ra nhiều biến động. Sinh ra và lớn lên trong thời điểm ấy Nguyễn Du đã chứng kiến
biết bao thay đổi cũng như nếm trải biết bao dâu bể của cuộc đời. Cùng với sự rối ren
trong trái tim mình. Đấy là tình cảm sâu sắc của ông đối với một kiếp người lầm lũi
cơ hàn, là thái độ bất bình rõ ràng của ông đối với số phận những con người khốn khổ.
Xuất thân từ gia đình quý tộc, sống trong không khí văn chương bác học mang đậm
chất nho gia, nhưng ông có cách nói riêng, bình dân, giản dị, dễ hiểu, thấm đượm chất
dân ca xứ Nghệ. Mười năm lưu lạc đã giúp ông thêm nguồn cảm hứng để sáng tác.
Nhờ đó mà những sáng tác của Ngyễn Du trở nên đa dạng về đề tài, phong phú về nội
( Word Converter - Unregistered )
dung và sâu sắc về tư tưởng. Ở từng tác phẩm, tấm lòng nhân ái của Nguyễn Du luôn
rộng mở để đón lấy số phận của những con người bất hạnh, nhất là người phụ nữ.
Cùng với tiếng nói yêu thương, đồng cảm là tiếng nói đấu tranh cho quyền sống của
con người, là tiếng nói phê phán đả kích vào mọi thế lực đen tối nhẫn tâm trà đạp lên
con người, nhất là những con người thấp cổ bé họng. Hai tiếng nói ấy đã trở thành nội
dung chủ đạo trong các sáng tác của Nguyễn Du. Từ những sáng tác bằng chữ Hán đến
những tác phẩm bằng chữ Nôm, từ “Thác lời trai phường nón” đến “Đoạn trường
tân thanh”, tất cả đều thấm đượm một tinh thần nhân đạo cao cả và một giá trị hiện
thực sâu sắc. Cho dù ở thể loại nào, tác phẩm nào ông cũng để lại dấu ấn sâu sắc trong
lòng người đọc.
Ở các tập thơ chữ Hán của Nguyễn Du, ta luôn cảm nhận được tấm lòng nhân ái
bao la của nhà thơ, tấm lòng ấy đã vượt cả biên giới sang đất nước Trung Hoa để chia
sẻ nỗi thống khổ với nhân dân lao động thì qua những tác phẩm chữ Nôm, ta không
chỉ thấy được tư tưởng nhân đạo sâu sắc mà còn thán phục cái tài của thi nhân qua
việc sử dụng ngôn ngữ dân tộc. Ngôn ngữ mà Nguyễn Du sử dụng không hoàn toàn
thuần Nôm như thơ của nữ sĩ Hồ Xuân Hương, cũng không hoàn toàn quý phái sang
trọng như thơ của bà huyện Thanh Quan mà là sự kết hợp của cả hai yếu tố bình dân và
bác học, vừa cổ kính, trang nghiêm vừa giản dị, gần gũi. Việc sử dụng những điển cố,
điển tích bên cạnh những từ Hán Việt với bút pháp ước lệ tượng trưng được Nguyễn
dâu bể. Tác phẩm cũng cho ta thấy một trình độ nghệ thuật bậc thầy.
Truyện Kiều đóng một vai trò quan trọng trong sinh hoạt văn hoá Việt Nam.
Nhiều nhân vật trong Truyện Kiều trở thành điển hình cho những mẫu người trong xã
hội cũ, mang những tính cách tiêu biểu Sở Khanh, Hoạn Thư, Từ Hải, và đều đi vào
thành ngữ Việt Nam. Khả năng khái quát của nhiều cảnh tình, ngôn ngữ, trong tác
phẩm khiến cho quần chúng tìm đến Truyện Kiều , như tìm một điều dự báo. Bói
Kiều rất phổ biến trong quần chúng ngày xưa. Ca nhạc dân gian có dạng Lẩy Kiều. Sân
khấu dân gian có trò Kiều. Hội họa có nhiều tranh Kiều. Thơ vịnh Kiều nhiều không
kể xiết. Giai thoại xung quanh Truyện Kiều cũng rất phong phú. Tuồng Kiều, cải
lương Kiều, phim Kiều cũng ra đời. Nhiều câu, nhiều ngữ trong Truyện Kiều đã lẫn
vào kho tàng ca dao, tục ngữ. Từ xưa đến nay, Truyện Kiều đã là đầu đề cho nhiều
công trình nghiên cứu, bình luận và những cuộc bút chiến. Ngay khi Truyện Kiều
được công bố (đầu thế kỷ XIX) ở nhiều trường học của các nho sĩ, nhiều văn đàn, thi
xã đã có trao đổi về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm. Đầu thế kỷ XX, cuộc tranh
( Word Converter - Unregistered )
luận về Truyện Kiều càng sôi nổi, quan trọng nhất là cuộc phê phán của các nhà chí
sĩ Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng phản đối phong trào cổ xuý Truyện Kiều do
Phạm Quỳnh đề xướng (1924).
Ngôn ngữ trong tác phẩm của Nguyễn Du vừa là sự dày công trau chuốt vốn là
cái tự nhiên vốn có ở Tố Như. Cái tài của nhà thơ là biết dùng đúng lúc, đúng chỗ. Khi
miêu tả nhân vật chính diện ông sử dụng bút phát ước lệ tượng trưng với những từ Hán
Việt trân trọng. Còn khi miêu tả nhân vật phản diện ông sử dụng bút pháp tả thực sử
dụng từ Thuần Việt. Chỗ nào Nguyễn Du sử dụng cũng hay, thể hiện cái tài năng nổi
bật của ông.
Nguyễn Du là nhà thơ sống hết mình, tư tưởng, tình cảm, tài năng nghệ thuật của
ông xuyên suốt các tác phẩm của ông, xuyên suốt cuộc đời ông và thể hiện rõ nhất
bao thế hệ. Trên cơ sở “những điều trông thấy” cùng những suy nghĩ, cảm xúc nóng
bỏng trước hiện thực xã hội Việt Nam đương thời, Nguyễn Du đã cảm nhận “Kim
Vân Kiều truyện” và sắp xếp lại theo thể nghiệm của mình bằng ngòi bút tràn đầy ưu
niệm. Kết hợp với thể thơ lục bát ngọt ngào như ca dao, với ngôn ngữ trong sáng và
tinh luyện, Truyện Kiều xứng đáng là viên ngọc toàn bích, lấp lánh nơi đáy lòng
không biết bao con người từng yêu tha thiết tiếng mẹ đẻ, từng khát khao kì vọng về
tình yêu hạnh phúc ở trên đời…Với Truyện Kiều , tên tuổi Nguyễn Du đã trở thành
bất tử trên thi đàn dân tộc.
Giá trị nội dung của Truyện Kiều bao gồm giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo.
Giá trị hiện thực phản ánh sâu sắc hiện thực xã hội đương thời cuối thế kỷ XVIII đầu
thế kỉ XIX (xã hội đồng tiền, xấu xa đồi bại và những bất công). Phản ánh thân phận
thấp hèn của người phụ nữ trong xã hội, đặc biệt là nỗi khổ của nhiều phụ nữ có nhan
sắc: "Hồng nhan bạc mệnh". Giá trị nhân đạo ca ngợi phẩm chất đẹp đẽ và tài sắc
của người phụ nữ, thông cảm và đồng cảm sâu sắc trước nỗi khổ của con người, đặc
biệt là với nỗi khổ của người phụ nữ dưới xã hội phong kiến, thể hiện khao khát trong
tình yêu, hạnh phúc lứa đôi, ước mơ tự do công bằng trong cuộc sống. Khi đi vào
nhận xét về nội dung Truyện Kiều Tiên Phong Mộng Liên Đường Chủ Nhân đã phải
( Word Converter - Unregistered )
thốt lên: "... Xem chỗ giấc mộng đoạn trường tỉnh dậy mà căn duyên vẫn gỡ chưa
rồi; khúc đàn bạc mệnh gảy xong mà oán hận vẫn còn chưa hả, thì dẫu đời xa
người khuất, không được mục kích tận nơi, nhưng lời văn tả ra hình như máu chảy
ở đầu ngọn bút, nước mắt thắm ở trên tờ giấy, khiến ai đọc đến cũng phải thấm
thía ngậm ngùi, đau đớn như đứt ruột. Thế thì gọi tên là Đoạn Trường Tân Thanh
cũng phải." Như thế ta mới thấy được giá trị nội dung của Truyện Kiều to lớn đến
dường nào.
Truyện Kiều được đánh giá cao trước hết ở giá trị hiện thực sâu sắc. Ai đó cho
những người tài hoa, hiếu nghĩa nhưng phải gặp cảnh đời bất hạnh, rằng:”Những
người hiếu nghĩa xưa nay, trời làm chi đến lâu ngày càng thương; người sao hiếu
nghĩa đủ đàng, kiếp sao chọn những đoạn tràng thế thôi; thương vì hạnh trọng vì
tài, Thúc ông thôi cũng dẹp lời phong ba; tiểu thư nghĩ cũng thương tài, khuôn uy
dường cũng bớt vài bốn phân; liền tay trao lại Thúc Sinh, rằng tài nên trọng mà
tình nên thương; bể trần chìm nổi thuyền quyên, hữu tài thương kẻ vô duyên lạ
đời; thiện căn ở tại lòng ta, chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài. . .”. Trước đây, và có
rất nhiều người coi “Tài mệnh tương đố” là phần hạn chế của Truyện Kiều , nhưng ta
nên xem đây là phần tích cực mới đúng . Là con người, dù ở thời đại nào, người
ta luôn có phần tâm linh để an ủi, động viên mình trong cơn sóng gió của đời. Trong
ngục tù, Bác Hồ của chúng ta, từ trong thâm sâu của tâm linh và rất tự nhiên theo bản
năng đã thốt lên:”Trời xanh cố ý hãm anh hùng, cùm xích tiêu ma tám tháng
ròng”. Đó là bản năng giải toả những ám ảnh của người tài.
Với Truyện Kiều , Nguyễn Du đã đem đến cho người đọc bức tranh sinh động
về hiện thực đen tối của xã hội đương thời với những đường nét sắc sảo. Điều đáng
nói là hiện thực ấy không tồn tại như một đối tượng khách quan trong tác phẩm mà
gắn liền với tấm lòng nhân đạo cao cả của nhà thơ. Với con mắt và trái tim của người
nghệ sĩ chân chính, Nguyễn Du không chỉ day dứt, dằn vặt lương tri trước những bất
công ngang trái của cuộc đời, nhà thơ còn chia sẻ nỗi đau truyền kiếp và cảm thông
với những khát vọng thiết tha tự ngàn đời của con người, bức xúc trước những vấn đề
nóng bỏng của thời đại. Đúng như thi hào đã nói:
“Trải qua một cuộc bể dâu
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng.”
2.2. Giá trị nghệ thuật.
( Word Converter - Unregistered )
Về nội dung Truyện Kiều đã có nhiều ý kiến gây tranh cãi nhưng nghệ thuật
có những cảm giác này . Truyện Kiều vì thế đã sống mãi với thời gian và không gian ,
từ thế hệ này qua thế hệ khác, lúc nào cũng được mọi người trân trọng và yêu mến .
Chương II: NGÔN NGỮ GIỚI THIỆU NHÂN VẬT CỦA
NGUYẾN DU TRONG TRUYỆN KIỀU.
1. Ngôn ngữ giới thiệu nhân vật trong tác phẩm văn học.
1.1. Nhân vật văn học là gì?
Nhân vật văn học là con người được nhà văn miêu tả trong tác phẩm bằng
phương tiện văn học. Những con người này có thể được miêu tả kỹ hay sơ lược, sinh
động hay không rõ nét, xuất hiện một hay nhiều lần, thường xuyên hay từng lúc, giữ
vai trò quan trọng nhiều, ít hoặc không ảnh hưởng nhiều lắm đối với tác phẩm.
Nhân vật văn học có thể là con người có tên (như Tấm Cám, Thúy Vân, Thúy
Kiều, Từ Hải, Kim Trọng...), có thể là những người không có tên (như thằng bán tơ,
viên quan, mụ quản gia...) hay có thể là một đại từ nhân xưng nào đó (như một số nhân
vật xưng tôi trong các truyện ngắn, tiểu thuyết hiện đại, như mình- ta trong ca dao...).
Khái niệm con người này cũng cần được hiểu một cách rộng rãi trên 2 phương diện:
( Word Converter - Unregistered )
số lượng: hầu hết các tác phẩm từ văn học dân gian đến văn học hiện đại đều tập trung
miêu tả số phận của con người. Về chất lượng: dù nhà văn miêu tả thần linh, ma qủy,
đồ vật...nhưng lại gán cho nó những phẩm chất của con người.
Trong nhiều trường hợp, khái niệm nhân vật được sử dụng một cách ẩn dụ
nhằm chỉ một hiện tượng nổi bật nào đó trong tác phẩm. Chẳng hạn, người ta thường
nói đến nhân dân như là một nhân vật trung tâm trong Chiến tranh và hòa bình của
L. Tônxtôi, ca cao là nhân vật chính trong Ðất dữ của G. Amađô, chiếc quan tài là
Nhân vật văn học không giống với các nhân vật thuộc các loại hình nghệ thuật
khác. Ở đây, nhân vật văn học được thể hiện bằng chất liệu riêng là ngôn từ. Vì vậy,
nhân vật văn học đòi hỏi người đọc phải vận dụng trí tưởng tượng, liên tưởng để dựng
lại một con người hoàn chỉnh trong tất cả các mối quan hệ của nó.
1.2. Ngôn ngữ giới thiệu nhân vật trong tác phẩm văn học
Trong đời sống thực tại, sự xuất hiện của một số nhân vật mới có thể được ta
cảm nhận đồng thời bằng các giác quan: mắt nhìn, tai nghe, mũi ngửi vv…Nhưng từ
đời sống thực và các loại hình nghệ thuật, sự cảm nhận đó đã thu hẹp đi nhiều. Trong
phim, kịch ta vẫn có thể nhìn và nghe thấy sự xuất hiện của một nhân vật mới nào đó (
trên màn hình hay trên sân khấu). Đến hội họa và âm nhạc thì đã khác- ta chỉ còn hoặc
nhìn thấy hoặc nghe thấy mà thôi. Bước vào địa hạt văn học lại càng đặc biệt: Ở đây
mọi cái đều phải gián tiếp hình dung qua ngôn từ của người dẫn dắt, người đưa nhân
vật mới vào truyện (người đó có thể là chính tác giả, có thể là một nhân vật khác của
chuyện). Đối với ngôn ngữ của toàn bộ một tác phẩm, cái phần giới thiệu nhân vật mới
vào chuyện này không phải là không có vấn đề , để các nhà văn học và các nhà nghiên
cứu.
Giới thiệu nhân vật là một công việc quan trọng hàng đầu đối với bất cứ tác
phẩm nào. Nếu giới thiệu nhân vật không được thực hiện rất khéo léo, giá trị của tác
phẩm không được khẳng định vì ngay từ đầu người đọc khó có thể chấp nhận một tác
phẩm không hấp dẫn họ. Để đạt được điều này không phải nhà văn, nhà thơ nào cũng
làm được. Phải rất khéo léo mới được người đọc tiếp nhận và làm nên thành công ban
đầu của tác phẩm.
( Word Converter - Unregistered )
Cách giới thiệu nhân vật tốt nhất phải đảm bảo thu hút được cả hướng nhìn lẫn
tình cảm của người đọc. Phải làm sao để qua việc giới thiệu nhân vật mới tác giả