BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
NGUYỄN TRẦN BẢO UYÊN
NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG
ĐẾN TÍNH THANH KHOẢN CỦA CÁC DOANH
NGHIỆP KINH DOANH KHOÁNG SẢN NIÊM YẾT
TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Đà Nẵng - Năm 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
NGUYỄN TRẦN BẢO UYÊN
NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG
ĐẾN TÍNH THANH KHOẢN CỦA CÁC DOANH
NGHIỆP KINH DOANH KHOÁNG SẢN NIÊM YẾT
TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
Chuyên ngành: Kế toán
Mã số: 60.34.30
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Người hướng dẫn khoa học: GS. TS. TRƯƠNG BÁ THANH
nhân tố ảnh hưởng đến tính thanh khoản của các doanh nghiệp ở Việt Nam nói
chung và các doanh nghiệp kinh doanh khoáng sản nói riêng còn một số hạn chế
do các nhà quản lý doanh nghiệp chưa tìm hiểu kỹ cũng như nắm bắt được các
nhân tố ảnh hưởng đến tính thanh khoản của doanh nghiệp, bên cạnh đó, hiện
5
nay ở Việt Nam chưa có công trình khoa học nào về nghiên cứu các nhân tố ảnh
hưởng đến tính thanh khoản của doanh nghiệp kinh doanh khoáng sản.
Từ những lý do trên, sau một thời gian tìm hiểu về ngành kinh doanh
khoáng sản, tôi cho rằng việc nghiên cứu những nhân tố ảnh hưởng đến tính
thanh khoản của các doanh nghiệp thuộc ngành này là một vấn đề có ý nghĩa
khoa học và thực tiễn. Do đó, tôi đã chọn đề tài:
“Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến tính thanh khoản của các
doanh nghiệp kinh doanh khoáng sản niêm yết trên thị trường chứng
khoán Việt Nam”
2. Mục tiêu nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu hướng đến ba mục tiêu chính:
- Thứ nhất, hệ thống hóa những lý luận cơ bản nhất về tính thanh
khoản và những nhân tố ảnh hưởng đến tính thanh khoản của doanh nghiệp
nói chung.
- Thứ hai, nghiên cứu, phân tích và đánh giá những nhân tố ảnh hưởng
đến tính thanh khoản của các doanh nghiệp kinh doanh khoáng sản niêm yết
trên thị trường chứng khoán Việt Nam nói riêng.
- Thứ ba, dựa trên kết quả nghiên cứu đưa ra một số chính sách và kiến
nghị nhằm nâng cao tính thanh khoản của các doanh nghiệp kinh doanh
khoáng sản.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là những nhân tố có ảnh hưởng đến tính thanh
đến tính thanh khoản của doanh nghiệp.
Chương 2: Thiết kế nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến tính thanh
khoản.
Chương 3: Phân tích kết quả nghiên cứu.
Chương 4: Hàm ý chính sách và kiến nghị.
7
6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Tính thanh khoản của doanh nghiệp đang là một trong những vấn đề
chưa được giải quyết quan trọng nhất trong lĩnh vực tài chính doanh nghiệp.
Mục tiêu chính đằng sau việc nghiên cứu các khả năng thanh toán của doanh
nghiệp thì điều quan trọng nhất với các công ty hiện nay là hoặc đầu tư vào tài
sản lưu động nhiều hơn hoặc đầu tư vào các tài sản kém thanh khoản hơn.
Ngoài ra, nhiều nghiên cứu cũng cho thấy việc quản lý thanh khoản là điểm
mấu chốt trong việc xác định các cơ hội đầu tư và khả năng vay mượn bên
ngoài trong tương lai. Mặc khác, nghiên cứu về tính thanh khoản giúp các nhà
quản trị hiểu rõ được tình hình thanh khoản thực tế của doanh nghiệp, từ đó
có những quyết định, chính sách phù hợp nhằm tăng tính thanh khoản của
công ty, giúp công ty tránh được rủi ro phá sản.
Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về tính thanh khoản và các nhân
tố ảnh hưởng đến tính thanh khoản của doanh nghiệp, các tác giả đã dùng
nhiều phương pháp khác nhau, nghiên cứu thực nghiệm ở những công ty
thuộc nhiều ngành nghề khác nhau trong những điều kiện kinh tế xã hội ở các
nước. Cụ thể như một số nghiên cứu sau đây:
- Trước tiên phải kể đến một trong những lý thuyết nổi bật nhất của tính
thanh khoản là “lý thuyết ưa chuộng tính thanh khoản” trong nghiên cứu
mang tên “The General Theory of Employment, Interest and Money” (Lý
thuyết tổng quát về Việc làm, Lãi suất và Tiền tệ) của Keynes. Ông đưa ra ba
1998-2005. Nghiên cứu của họ cho thấy rằng các công ty có biến động dòng
tiền lớn hơn có xu hướng nắm giữ tiền mặt nhiều hơn để tạo một điểm tựa an
toàn cho các hoạt động của công ty được trôi chảy. Kết quả nghiên cứu của
Afza và Adnan cũng cho thấy rằng các công ty lớn nắm giữ tiền mặt nhiều
hơn để tài trợ cho việc đầu tư và tránh tình trạng thiếu tính thanh khoản trong
trường hợp dòng tiền biến động, phù hợp với lý thuyết trật tự phân hạng của
Myers.
9
- Kim, Mauer và Sherman (1998) nghiên cứu những yếu tố quyết định
tính thanh khoản của công ty. Họ thu thập mẫu gồm 915 công ty công nghiệp
ở Mỹ trong giai đoạn 1975-1994. Kim, Mauer và Sherman dự đoán rằng có
mối quan hệ tích cực giữa chi phí tài chính bên ngoài và đầu tư vào tài sản lưu
động. Họ cũng dự đoán rằng các công ty có biến động dòng tiền lớn hơn có
xu hướng đầu tư vào tài sản lưu động nhiều hơn. Ngoài ra, nghiên cứu này
cũng chỉ ra rằng tính thanh khoản của công ty có mối quan hệ tích cực với tỷ
suất sinh lời của tài sản.
- Gill và Mathur (2011) nghiên cứu những nhân tố ảnh hưởng đến việc
nắm giữ các tài sản thanh khoản của các công ty ở Canada. Họ đã thu thập
một mẫu gồm 164 công ty thuộc ngành công nghiệp sản xuất và dịch vụ ở
Canada được niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán Toronto trong thời gian
ba năm (2008 – 2010). Trong nghiên cứu của mình, Gill và Mathur sử dụng
phương pháp nghiên cứu tương quan, nghiên cứu phi thực nghiệm và nghiên
cứu định lượng. Gill và Mathur xem xét việc quản lý thanh khoản của các
công ty với mục đích xác định các nhân tố ảnh hưởng đến cổ phiếu và thanh
khoản của công ty. Qua phân tích hồi quy, kết quả cho thấy việc công ty nắm
giữ thanh khoản có quan hệ tích cực với quy mô doanh nghiệp, tỷ lệ tài sản
lưu động trên tổng tài sản; có quan hệ tiêu cực với nợ ngắn hạn, vốn lưu động
thanh toán, hầu hết các doanh nghiệp (DN) đều có xu hướng thực hiện việc tài
trợ vốn thông qua vay nợ ngắn hạn. Vấn đề đặt ra là liệu DN có khả năng
thanh toán và thanh toán đúng hạn các khoản nợ? Do đó phải đo lường tính
thanh khoản của DN. Các DN chủ yếu sử dụng tỷ số thanh toán để đo lường
tính thanh khoản. Tuy nhiên, mỗi tỷ số đều có những ưu và nhược điểm riêng
trong việc đo lường tính thanh khoản nên tác giả đã tập trung phân tích những
nhược điểm, hạn chế của các tỷ số thanh toán hiện hành.
11
CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÍNH THANH KHOẢN VÀ CÁC
NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TÍNH THANH KHOẢN CỦA
DOANH NGHIỆP
1.1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÍNH THANH KHOẢN CỦA DOANH
NGHIỆP
1.1.1. Tổng quan về tính thanh khoản
Tính thanh khoản, một khái niệm trong tài chính, chỉ mức độ mà một
tài sản bất kỳ có thể được mua hoặc bán trên thị trường mà không làm ảnh
hưởng đến giá trị thị trường của tài sản đó. Ví dụ, chứng khoán hay các khoản
nợ, khoản phải thu... có khả năng chuyển đổi thành tiền mặt dễ dàng, thuận
tiện cho việc thanh toán hay chi tiêu. Các cách gọi khác của tính thanh khoản
là: tính lỏng, tính lưu động.
Một tài sản gọi là thanh khoản khi mà thị trường của tài sản đó có
nhiều người mua và người bán. Một tài sản có tính thanh khoản cao thường
được đặc trưng bởi số lượng giao dịch lớn. Tài sản có tính thanh khoản càng
cao thì mức độ rủi ro càng thấp.
Trong kế toán, tài sản lưu động được chia thành nhiều loại khác nhau
đông thông qua việc chi tách cổ phiếu hay phát hành cổ phiếu mới.
Nhìn chung, các công ty đầu tư vào tài sản lưu động, hay nói cách khác
là các tài sản có tính thanh khoản cao. Tài sản lưu động tạo thành một bộ phận
đáng kể trong tổng tài sản và có ý nghĩa quan trọng hơn đối với các rủi ro và
hiệu quả của công ty. Ví dụ, theo Kim, David và Ann (1998) [22], tỷ lệ trung
bình của tiền mặt cộng với chứng khoán thị trường trên tổng tài sản trong giai
đoạn năm 1975 - 1994 của 915 công ty ngành công nhiệp ở Mỹ là 8,1%. Kim
và các cộng sự đã phân tích các chi phí và lợi ích của việc nắm giữ các loại tài
sản lưu động và kết luận rằng việc đầu tư vào tài sản lưu động (chẳng hạn như
13
đầu tư vào chứng khoán) là tốn kém hơn, vì đầu tư vào tài sản lưu động nghĩa
là các công ty chấp nhận chi phí cơ hội cho việc đầu tư vào tài sản dài hạn; hơn
nữa, các công ty cũng phải chịu chi phí giao dịch cho việc kinh doanh chứng
khoán tài chính. Tuy nhiên các công ty này nắm giữ một lượng đáng kể tài sản
lưu động và được dự đoán là dư thừa quá mức bởi vì sự không hoàn hảo của thị
trường vốn dẫn đến việc phải duy trì một lượng tài sản lưu động dư thừa để giải
quyết một số trường hợp khẩn cấp (Kim, David và Ann, 1998) [22].
Cụ thể, khi và chỉ khi các nguồn tài chính bên ngoài là tốn kém thì việc
đầu tư vào tài sản lưu động là câu trả lời thuận lợi nhất để tài trợ cho nhu cầu
sản xuất trong tương lai hoặc cơ hội đầu tư. Các chi phí tài chính bên ngoài
bao gồm các chi phí trực tiếp phát hành chứng khoán, các chi phí phát sinh từ
mâu thuẫn nội bộ tiềm ẩn, chi phí phát sinh từ những vấn đề lựa chọn bất lợi
do thông tin bất đối xứng (Smith, 1986) [29]. Myers và Majluf (1984) [27]
cũng cho rằng vì thông tin tài chính hạn chế do bất đối xứng thông tin gây ra,
các công ty nên tăng dự trữ vào tài sản lưu động để tài trợ cho các cơ hội đầu
tư trong tương lai với các quỹ nội bộ. Do đó, đầu tư vào thanh khoản dư thừa
có thể được xem như là một chi phí có hiệu quả và hợp lý để giảm sự phụ
• Tài trợ tài sản dài hạn bằng các nguồn ngắn hạn.
• Tài trợ tài sản dài hạn bằng các nguồn dài hạn.
Nhà đầu tư có thể nhận ra các chính sách trên bằng cách xem xét các
chỉ tiêu trên bảng cân đối hoặc xác định vốn lưu động của công ty.
Ngoài ra, thông qua việc xác định vốn lưu động ròng nhà đầu tư có thể
tìm hiểu khả năng thanh toán của công ty, cũng như cho thấy các quyết định
tài chính và đầu tư của công ty.
Vốn lưu động ròng là phần dư của tài sản ngắn hạn so với nợ ngắn hạn
(Tài sản ngắn hạn – Nợ ngắn hạn). Vốn lưu động ròng của một công ty có thể
xảy ra với một trong những trường hợp sau:
15
Vốn lưu động ròng > 0: Tài sản ngắn hạn lớn hơn Nợ ngắn hạn;
Vốn lưu động ròng < 0: Nợ ngắn hạn lớn hơn Tài sản ngắn hạn;
Vốn lưu động ròng = 0: Tài sản ngắn hạn bằng Nợ ngắn hạn.
Thông thường, thanh khoản của một công ty được đánh giá là tốt khi có
vốn lưu động ròng dương. Điều này là hợp lý, vì khi vốn lưu động ròng
dương thì có thể dễ dàng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn bằng các tài sản
ngắn hạn hiện có của công ty.
Xem xét mối quan hệ giữa vốn lưu động với các thành phần khác trên
bảng cân đối kế toán:
Nguồn vốn = Tài sản; hoặc
Vốn chủ sở hữu + Vay và nợ dài hạn + Nợ ngắn hạn = Tài sản ngắn hạn
+ Tài sản dài hạn; hoặc
Nguồn vốn thường xuyên + Nợ ngắn hạn = Tài sản ngắn hạn + Tài sản
dài hạn; hoặc
Nguồn vốn thường xuyên – Tài sản dài hạn = Tài sản ngắn hạn – Nợ
ngắn hạn; hoặc
đến cung tiền, chứ không phải đi từ cung tiền đến chi tiêu. Do đó, lượng cầu
tiền mặt này là hàm số thuận của thu nhập.
Hai là, động cơ dự phòng. Keynes thừa nhận rằng ngoài việc giữ tiền
để giao dịch hàng ngày, người ta còn giữ thêm tiền để dùng cho những nhu
cầu bất ngờ trong tương lai. Tiền dự phòng được sử dụng trong các cơ hội
mua thuận tiện hoặc cho nhu cầu chi tiêu bất thường. Keynes tin rằng số
tiền dự phòng mà người ta muốn nắm giữ được xác định trước tiên bởi mức
độ các giao dịch mà người ta dự tính sẽ thực hiện trong tương lai và những
giao dịch đó tỷ lệ thuận với thu nhập, do đó, lượng cầu tiền dự phòng tỷ lệ
thuận với thu nhập.
Từ hai nhân tố trên, theo quan điểm của Keynes, có hai nguyên nhân
làm cho thu nhập ảnh hưởng đến cầu tiền, đó là:
17
- Thứ nhất, khi nền kinh tế tăng trưởng, tức là hoạt động sản xuất kinh
doanh phát triển, đầu tư gia tăng, thì thu nhập và của cải tăng lên làm cho mọi
người có mong muốn giữ tiền nhiều hơn như là tài sản lưu trữ. Việc lưu giữ
tiền mặt nhằm nắm bắt được cơ hội đầu tư kinh doanh như đầu tư vào trái
phiếu, cổ phiếu, bất động sản...
- Thứ hai, trong giai đoạn tăng trưởng của nền kinh tế, con người sẽ
thực hiện nhiều giao dịch cần đến tiền hơn. Chính vì vậy lượng cầu tiền sẽ
tăng lên.
Ba là, động cơ đầu cơ. Keynes đồng ý rằng tiền là phương tiện cất giữ
của cải và gọi động cơ giữ tiền là động cơ đầu cơ. Keynes đồng ý với các nhà
kinh tế Cambridge rằng của cải gắn chặt với thu nhập nên bộ phận cấu thành
manh tính đầu cơ của cầu tiền tệ có liên quan đến thu nhập, nhưng Keynes
cũng cho rằng lãi suất đóng một vai trò rất quan trọng. Keynes chia các tài sản
có thể được dùng cất giữ của cải làm hai loại: tiền và trái khoán. Keynes giả
nghiệp.
Theo Reilly và Brown (2003) [32], lý thuyết về ưa chuộng thanh khoản
nói rằng lợi nhuận cao hơn phải được đưa ra trên các khoản đầu tư dài hạn
hơn là những khoản đầu tư ngắn hạn, bởi vì một số nhà đầu tư đầu tư vào
chứng khoán ngắn hạn nhằm tránh sự biến động giá lớn của các chứng khoán
có kỳ hạn dài hơn, hay nói cách khác, các chứng khoán ngắn hạn là ít biến
động và có thể dễ dàng được chuyển đổi thành một lượng tiền mặt hơn khi
gặp các sự kiện bất ngờ.
Boudoukh và các cộng sự [30] cho rằng trực giác cơ bản đằng sau
thuyết ưa chuộng thanh khoản là các trái phiếu dài hạn hơn thì rủi ro cao hơn,
tức là, chúng nhạy cảm hơn với các biến động hoặc lãi suất không ổn định
hơn so với trái phiếu ngắn hạn và các cá nhân đã yêu cầu được bồi thường cho
rủi ro của việc nắm giữ các trái phiếu này, do đó, lợi tức dự tính của trái phiếu
dài hạn sẽ cao hơn trái phiếu ngắn hạn.
19
1.1.3. Ý nghĩa của tính thanh khoản trong doanh nghiệp
Một công ty không thể trả nợ đúng hạn và không thể tiếp tục giữ đúng
nghĩa vụ thanh toán của mình đối với các nhà cung cấp tín dụng, dịch vụ và
hàng hóa thì công ty đó có thể đang rơi vào tình trạng yếu kém hoặc bị phá
sản. Không có khả năng đáp ứng các khoản nợ ngắn hạn có thể ảnh hưởng
đến hoạt động của công ty và trong nhiều trường hợp có thể ảnh hưởng nhiều
đến uy tín của công ty.
Thiếu tiền mặt hoặc tài sản lưu động sẽ làm cho doanh nghiệp bỏ lỡ
những ưu đãi được đưa ra bởi các nhà cung cấp tín dụng, dịch vụ và hàng hóa.
Mất ưu đãi như vậy có thể dẫn đến chi phí cao hơn do đó ảnh hưởng đến lợi
nhuận của doanh nghiệp.
Tất cả các bên liên quan đều quan tâm đến khả năng thanh toán của một
phân tích tài chính, đặc biệt là trong định giá tín dụng, và các tỷ số thanh
khoản thường được sử dụng để đo lường khả năng thanh toán nợ ngắn hạn
của công ty. Điều này được thực hiện bằng cách so sánh tài sản thanh khoản
nhất của công ty (hoặc các loại tài sản có thể dễ dàng chuyển đổi thành tiền
mặt) với các khoản nợ ngắn hạn của công ty đó. Nói chung, tỷ số thanh khoản
càng cao sẽ càng tốt vì nó chứng tỏ rằng công ty có thể thanh toán được các
khoản nợ đến hạn mà vẫn có thể tài trợ cho các hoạt động liên tục của mình.
Mặt khác, tỷ số thanh khoản thấp sẽ đem đến một dấu hiệu tiêu cực cho các
nhà đầu tư vì nó cho thấy công ty gặp khó khăn trong việc đáp ứng các nghĩa
vụ nợ cũng như tài trợ cho các hoạt động kinh doanh của công ty.
Có ba tỷ số thông thường để đo lường thanh khoản của một công ty,
bao gồm: tỷ số thanh toán hiện hành, tỷ số thanh toán nhanh và tỷ số thanh
toán tức thời. Khác biệt lớn nhất giữa ba tỷ số này là loại tài sản được sử dụng
để tính toán. Trong khi các tỷ số thanh toán sử dụng các tài sản lưu động thì
21
với mỗi tỷ số thận trọng hơn sẽ loại trừ một số tài sản lưu động có tính thanh
khoản giảm dần.
Ngoài ba tỷ số này, hiện nay chỉ tiêu chu kỳ chuyển đổi tiền mặt cũng
được nhiều nhà phân tích ưa chuộng sử dụng để phân tích, đánh giá tính thanh
khoản của một công ty.
a. Tỷ số thanh toán hiện hành
Tỷ số thanh toán hiện hành có lẽ là tỷ số thanh toán phổ biến nhất được
sử dụng để đo lường thanh khoản của một công ty, được xác định bằng cách
lấy thương số giữa tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn.
Tỷ số thanh toán
=
sản ngắn hạn của công ty, kể cả những tài sản khó hoán chuyển thành tiền để
đáp ứng tất cả các khoản nợ ngắn hạn. Trong thực tế, điều này là không thể
xảy ra. Nhà đầu tư phải nhìn một công ty như là một hoạt động liên tục. Thời
gian để chuyển đổi tài sản vốn lưu động của công ty thành tiền mặt để thanh
toán các nghĩa vụ hiện tại mới chính là chìa khóa cho thanh khoản của công
ty. Do đó, trong nhiều trường hợp, tỷ số thanh toán hiện hành không phản ánh
chính xác khả năng thanh toán của công ty. Nói một cách khác, đôi khi tỷ số
này sẽ “gây hiểu nhầm”.
Một so sánh đơn giản, nhưng chính xác, về vị trí hiện tại của hai công
ty sẽ minh họa cho sự yếu kém của việc dựa vào tỷ số thanh toán hiện hành
hoặc vốn lưu động là một chỉ số duy nhất để đánh giá tính thanh khoản.
Chỉ tiêu
Tài sản ngắn hạn
Nợ ngắn hạn
Vốn lưu động
Tỷ số thanh toán hiện hành
Công ty ABC
600$
300$
300$
2,0
Công ty XYZ
300$
300$
0$
1,0
Thoạt nhìn vào kết quả tính toán tỷ số thanh toán hiện hành, công ty
hàng tồn kho và tài sản ngắn hạn khác ra khỏi tử số vì hai bộ phận này có giá
trị và thời gian hoán chuyển thành tiền không chắc chắn nhất. Do đó, tỷ số
thanh toán nhanh cho phép đánh giá tốt hơn tính thanh khoản của doanh
nghiệp so với tỷ số thanh toán hiện hành.
Tiền và các khoản tương đương tiền + Đầu tư
Tỷ số thanh
toán nhanh
=
ngắn hạn + Nợ phải thu
Nợ ngắn hạn
24
Tỷ số này nói lên tình trạng tài chính ngắn hạn của một công ty có lành
mạnh hay không. Về nguyên tắc, hệ số này càng cao thì khả năng thanh toán
công nợ càng cao. Hệ số này bằng 1 hoặc lớn hơn cho thấy khả năng đáp ứng
thanh toán ngay các khoản nợ ngắn hạn cao, hay nói cách khác, doanh nghiệp
không gặp khó khăn nếu cần phải thanh toán ngay các khoản nợ ngắn hạn.
Trái lại, nếu một công ty có tỷ số thanh toán nhanh nhỏ hơn 1, nó sẽ không đủ
khả năng thanh toán ngay lập tức toàn bộ các khoản nợ ngắn hạn. Phân tích
sâu hơn, khi tiến hành so sánh giữa tỷ số thanh toán hiện hành và tỷ số thanh
toán nhanh của một công ty, nếu tỷ số thanh toán hiện hành cao hơn đáng kể,
điều này chứng tỏ rằng tài sản ngắn hạn của công ty phụ thuộc nhiều vào hàng
tồn kho. Trong trường hợp này, tính thanh khoản của tài sản ngắn hạn là
tương đối thấp. Ngoài ra, cần phải so sánh tỷ số thanh toán nhanh của năm
nay so với những năm trước để nhận diện xu hướng biến động, và so sánh với
thanh toán tức thời đòi hỏi khắt khe hơn về tính thanh khoản. Nó chỉ nhìn vào
các tài sản ngắn hạn thanh khoản nhất của công ty, đó là những tài sản có thể
dễ dàng được sử dụng để thanh toán các nghĩa vụ hiện tại một cách nhanh
chóng nhất. Tỷ số này bỏ qua hàng tồn kho và các khoản phải thu vì không có
sự đảm bảo rằng hai khoản mục này có thể được chuyển đổi nhanh thành tiền
mặt để kịp thời đáp ứng các khoản nợ ngắn hạn.
Tuy nhiên rất ít công ty sẽ có đủ tiền mặt và các khoản tương đương
tiền để trang trải đầy đủ nợ ngắn hạn, do đó tỷ số thanh toán tức thời rất ít khi
lớn hơn hay bằng 1. Đây không nhất thiết là một vấn đề xấu. Một doanh
nghiệp giữ tiền mặt và các khoản tương đương tiền ở một mức cao để đảm
bảo chi trả các khoản nợ ngắn hạn là một việc không thực tế vì như vậy cũng
đồng nghĩa với việc doanh nghiệp không biết sử dụng loại tài sản có tính
thanh khoản cao này một cách có hiệu quả. Doanh nghiệp hoàn toàn có thể sử
dụng số tiền và các khoản tương đương tiền này để tạo ra doanh thu cao hơn
(ví dụ như cho vay ngắn hạn).
Mặc dù chỉ tiêu này phản ánh được mức thanh khoản cao nhất của tài
sản doanh nghiệp, nhưng tính khả dụng của nó lại tương đối hạn chế. Vì vậy,
tỷ số thanh toán tức thời ít khi được sử dụng trong báo cáo tài chính và các
nhà phân tích cũng ít khi dùng chỉ số này trong phân tích cơ bản một công ty.
d. Chu kỳ chuyển đổi tiền mặt