ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
HOÀNG ANH NHƯ NGỌC
NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG
ĐẾN TÍNH THANH KHOẢN CỦA CÁC CÔNG TY
NIÊM YẾT THUỘC NHÓM NGÀNH SẢN XUẤT
THỰC PHẨM, ĐỒ UỐNG VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN
Đà Nẵng – Năm 2017
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
HOÀNG ANH NHƯ NGỌC
NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG
ĐẾN TÍNH THANH KHOẢN CỦA CÁC CÔNG TY
NIÊM YẾT THUỘC NHÓM NGÀNH SẢN XUẤT
THỰC PHẨM, ĐỒ UỐNG VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN
Mã số: 60.34.03.01
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. ĐƯỜNG NGUYỄN HƯNG
Đà Nẵng - Năm 2017
Cash Conversion Cycle – Chu kỳ chuyển đổi tiền mặt
DN
Doanh nghiệp
DT
Doanh thu
FEM
Fixed Effect Model – Mô hình ảnh hưởng cố định
GVHB
Giá vốn hàng bán
HTK
Hàng tồn kho
Khh
Tỷ số khả năng thanh toán hiện hành
Knhanh
Tỷ số khả năng thanh toán nhanh
Random Effect Model – Mô hình ành hưởng ngẫu nhiên
TS
Tài sản
TSCĐ
Tài sản cố định
TSNH
Tài sản ngắn hạn
TSLĐ
Tài sản lưu động
TCTD
Tổ chức tín dụng
VIF
Hệ số phóng đại phương sai
VLĐ
Vốn lưu động
Bảng 3.4.1a
Bảng 3.4.2a
Bảng 3.4.1b
Bảng 3.4.2b
Bảng 3.4.3b
Bảng 3.5.1
Bảng 3.5.2
Tên bảng
Ví dụ về tính thanh khoản
Tăng trưởng tiêu dùng thực phẩm – đồ uống theo
giá so sánh năm 2005
Đo lường các biến độc lập
Thống kê mô tả các biến nghiên cứu
Ma trận tương quan giữa các biến mô hình 1 (CR)
Ma trận tương quan giữa các biến mô hình 2
(VQLD)
Model Summary (Mô hình CR)
Hệ số VIF (Mô hình CR)
Kết quả mô hình Pooled Regression (Mô hình CR)
Kết quả mô hình ảnh hưởng cố định (Mô hình CR)
Kiểm định Hausman (Mô hình CR)
Kết quả mô hình ảnh hưởng ngẫu nhiên (Mô hình
CR)
Model Summary (Mô hình VQLD)
Hệ số VIF (Mô hình VQLD)
Kết quả mô hình Pooled Regression (Mô hình
VQLD)
Kết quả mô hình ảnh hưởng cố định (Mô hình
VQLD)
61
62
63
64
68
70
(Mô hình Vòng quay vốn lưu động)
DANH MỤC HÌNH VẼ
Số hiệu
hình vẽ
Tên hình vẽ
Trang
Hình 3.4.1
Biểu đồ phân phối chuẩn phần dư (Biến phụ thuộc
CR)
61
Hình 3.4.2
Biểu đồ P-P Plot (Biến phụ thuộc CR)
sống thay đổi đặc biệt là tại các trung tâm thành phố, mang lại nhu cầu về tiêu
thụ nhiều đồ ăn nhẹ, thực phẩm tiện dùng và đắt tiền. Thị trường trong nước
lớn với chi phí lao động thấp và quá trình tư nhân hóa các công ty thực phẩm
khiến thị trường này có sức sống mãnh liệt. Bên cạnh đó, áp lực cạnh tranh
ngày càng gay gắt trong ngành này là động lực cho một thị trường năng động
và kích thích phát triển. Với Việt Nam, ngành chế biến thực phẩm, đồ uống là
ngành có nhiều tiềm năng.
Để các công ty sản xuất thực phẩm, đồ uống Việt Nam hoạt động hiệu
quả nhằm góp phần ổn định và phát triển kinh tế, bên cạnh các chính sách hỗ
trợ từ các cơ quan quản lý Nhà nước thì bản thân công ty phải có những chiến
lược và chính sách đúng đắn. Một trong những vấn đề cần được quan tâm
nhất là nâng cao tính thanh khoản của công ty. Muốn vậy, nhà quản lý cần
phải biết được những nhân tố nào ảnh hưởng đến tính thanh khoản để từ đó đề
ra các chính sách hợp lý giúp cho hoạt động kinh doanh của công ty an toàn
và hiệu quả.
2
Tuy nhiên, hiện nay công tác nghiên cứu về tính thanh khoản và những
nhân tố ảnh hưởng đến tính thanh khoản của các công ty Việt Nam còn một số
hạn chế do các nhà quản lý công ty chưa tìm hiểu sâu về các nhân tố ảnh
hưởng đến tính thanh khoản.
Từ những lý do trên, sau một thời gian tìm hiểu về ngành sản xuất thực
phẩm, đồ uống, tôi cho rằng việc nghiên cứu những nhân tố ảnh hưởng đến
tính thanh khoản của các công ty thuộc nhóm ngành này là một vấn đề có ý
nghĩa khoa học và thực tiễn. Do đó, tôi đã chọn đề tài: “Nghiên cứu các nhân
tố ảnh hưởng đến tính thanh khoản của các công ty niêm yết thuộc nhóm
ngành sản xuất thực phẩm, đồ uống Việt Nam”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
phẩm, đồ uống tại Việt Nam.
Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở để các công ty ngành sản xuất thực
phẩm, đồ uống niêm yết trên thị trường chứng khoán nói riêng và các công ty
ngành thực phẩm, đồ uống nói chung đề ra phương hướng, chiến lược, giải
pháp để nâng cao khả năng thanh khoản thông qua kế hoạch cải thiện các
nhân tố ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản của công ty.
6. Bố cục đề tài
Luận văn gồm 3 chương:
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÍNH THANH KHOẢN VÀ CÁC
NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TÍNH THANH KHOẢN CỦA CÁC DOANH
NGHIỆP
CHƯƠNG 2: THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG
ĐẾN TÍNH THANH KHOẢN CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT THUỘC
NHÓM NGÀNH SẢN XUẤT THỰC PHẨM, ĐỒ UỐNG VIỆT NAM
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ HÀM Ý TỪ KẾT QUẢ
NGHIÊN CỨU
4
7. Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Trên Thế giới đã có nhiều nghiên cứu về tính thanh khoản và các nhân tố
ảnh hưởng đến tính thanh khoản của các công ty, các tác giả đã dùng nhiều
phương pháp khác nhau, nghiên cứu thực nghiệm ở những công ty thuộc
nhiều lĩnh vực ngành nghề khác nhau trong những điều kiện kinh tế xã hội
khác nhau. Cụ thể như một số nghiên cứu sau đây:
Trước tiên phải kể đến một trong những lý thuyết nổi bật nhất của tính
thanh khoản là “lý thuyết ưu chuộng tính thanh khoản” trong nghiên cứu mang
tên “The General Theory of Employment, Interest and Money” (Lý thuyết tổng
quát về việc làm, lãi suất và tiền tệ) của Keynes (1936). Ông đưa ra ba động cơ
Mỹ trong giai đoạn 1975-1994. Kim, Mauer và Sherman dự đoán rằng có mối
quan hệ tích cực giữa chi phí tài chính bên ngoài và đầu tư vào tài sản lưu
động. Họ cũng dự đoán rằng các công ty có biến động dòng tiền lớn có xu
hướng đầu tư vào tài sản lưu động nhiều hơn. Ngoài ra, nghiên cứu này cũng
chỉ ra tính thanh khoản của công ty có mối quan hệ tích cực với tỷ suất sinh
lời của tài sản. [18]
Với mẫu nghiên cứu trong 3 năm 2008–2010, Gill và Mathur (2011) đã
chọn 164 công ty trên thị trường chứng khoán Toronto, Canada nhằm tìm ra
các yếu tố tác động đến thanh khoản của công ty. Quy mô, vốn lưu động ròng,
tỷ lệ nợ, nợ ngắn hạn, tỷ lệ đầu tư và yếu tố ngành có tác động đến thanh
khoản của công ty. Các biến có tác động ngược chiều đến thanh khoản là tỷ lệ
nợ, vốn lưu động ròng và tỷ lệ đầu tư. [15]
Muhammad Usama (2012) phân tích quản lý vốn lưu động và nghiên
cứu ảnh hưởng của vốn lưu động đến lợi nhuận và thanh khoản của công ty.
Usama lấy mẫu gồm 18 công ty thuộc ngành thực phẩm được niêm yết trên
thị trường chứng khoán Karachi trong thời gian từ 2006-2010. Usama kiểm
tra tác động của quy mô, kỳ thu tiền bình quân, kỳ trả nợ bình quân, vòng
6
quay hàng tồn kho, tỷ lệ nợ đến lợi nhuận và thanh khoản của các công ty.
Qua phân tích hồi quy, kết quả cho thấy có tác động tích cực của quy mô đến
lợi nhuận và thanh khoản, trong khi kỳ thu tiền bình quân có tác động tiêu cực
đến lợi nhuận của công ty. [19]
Niaz Ahmed Bhutto và các cộng sự (2011) nghiên cứu mối quan hệ giữa
chu kỳ chuyển đổi tiền mặt với quy mô công ty, vốn lưu động và lợi nhuận
của các công ty ngành công nghiệp ở Pakistan. Dữ liệu thu thập được từ các
báo cáo tài chính năm 2009 của 157 công ty đại chúng được niêm yết trên sàn
chứng khoán Karachi. Nghiên cứu cho thấy có mối quan hệ tiêu cực giữa
tự có trên nguồn vốn mà còn chịu sự tác động của các biến kinh tế vĩ mô như
tăng trưởng kinh tế, lạm phát. [8]
Nguyễn Đình Thiên, Nguyễn Thị Mai Trâm, Nguyễn Hồng Thu (2014)
đã nghiên cứu định lượng các yếu tố tác động đến khả năng thanh khoản của
các công ty đang niêm yết (trừ các tổ chức tài chính) tại thị trường chứng
khoán Việt Nam (HOSE, HNX). Dữ liệu nghiên cứu được trích từ báo cáo
tài chính từ năm 2007 – 2013. Nghiên cứu đã cho thấy khả năng thanh khoản
của các DN niêm yết giai đoạn 2007 – 2013 bị ảnh hưởng nhiều nhất từ tỷ lệ
vốn lưu động thuần và tỷ số P/B. Các yếu tố trên cũng có tương tác cùng
chiều với khả năng thanh khoản bên cạnh tỷ số P/E và tỷ lệ lưu chuyển tiền
thuần. Bên cạnh đó, tỷ lệ nợ và tỷ lệ lợi nhuận trên tổng tài sản có tương quan
âm đến khả năng thanh khoản. [6]
Tuy nhiên, mỗi một DN đều có một đặc điểm riêng, và mỗi quốc gia
khác nhau có các chính sách kinh tế và tốc độ tăng trưởng khác nhau. Tất cả
những yếu tố này đều ảnh hưởng đến tính thanh khoản. Chính vì vậy, đối với
nền kinh tế của Việt Nam nói chung và ngành sản xuất thực phẩm, đồ uống
nói riêng, tác giả có thể vận dụng và đưa ra thêm các nhân tố ảnh hưởng đối
với tính thanh khoản sao cho phù hợp nhất đối với đặc điểm kinh tế cũng như
đặc điểm điểm ngành của bài nghiên cứu. Vì vậy, khác với các nghiên cứu
8
trước đây, với không gian và thời gian nghiên cứu hoàn toàn mới tác giả sẽ
lựa chọn, sử dụng và kiểm định mô hình phù hợp với ngành công nghiệp thực
phẩm từ đó cho cái nhìn khách quan và cụ thể nhất về mối quan hệ giữa các
biến phụ thuộc và biến độc lập. Hai mô hình được lựa chọn để đo lường tính
thanh khoản trong bài nghiên cứu này là: Tỷ số thanh toán hiện hành và Vòng
quay vốn lưu động.
thành tiền là ngắn. Ví dụ, chứng khoán hay các khoản nợ, khoản phải thu,…
10
có khả năng đổi thành tiền mặt dễ dàng, thuận tiện cho việc thanh toán hay
chi tiêu. Các cách gọi thay thế cho tính thanh khoản là: tính lỏng, tính lưu
động.
Một tài sản gọi là thanh khoản khi mà thị trường của tài sản đó có nhiều
người mua và người bán. Tài sản có tính thanh khoản càng cao thì mức độ rủi
ro càng thấp. Như vậy, tiền mặt có tính thanh khoản cao nhất, luôn luôn dùng
được trực tiếp để thanh toán, lưu động, tích trữ. Do vậy, tính thanh
khoản cũng là một trong những chức năng của tiền tệ. Còn hàng tồn kho có
tính thanh khoản thấp nhất vì phải trải qua giai đoạn phân phối và tiêu thụ
chuyển thành khoản phải thu, rồi từ khoản phải thu sau một thời gian mới
chuyển thành tiền mặt.
Chứng khoán có tính thanh khoản là những chứng khoán có sẵn thị
trường cho việc bán lại dễ dàng, giá cả tương đối ổn định theo thời gian và
khả năng cao để phục hồi nguồn vốn đã đầu tư nguyên thủy. Nhờ có thị
trường chứng khoán các nhà đầu tư có thể chuyển đổi chứng khoán họ sở hữu
thành tiền mặt khi họ muốn và khả năng thanh khoản chính là một trong
những đặc tính hấp dẫn của chứng khoán với các nhà đầu tư. Tính lỏng cho
thấy sự linh hoạt và an toàn của vốn đầu tư, thị trường hoạt động càng năng
động và có hiệu quả thì tính lỏng của chứng khoán giao dịch càng cao.
Khi lựa chọn chứng khoán để đầu tư, các nhà đầu tư nên xem xét đến
khả năng bán lại trước khi chúng đáo hạn để tái tạo nguồn vốn đầu tư ban đầu.
Nếu khả năng tái tạo kém, nghĩa là khó tìm được người mua hoặc phải bán
mất giá, nhà đầu tư sẽ gánh chịu những tổn thất tài chính lớn. Điều này gọi là
rủi ro thanh khoản trong đầu tư chứng khoán.
Nhà kinh tế học Keynes (1936) [17] đã chỉ ra rằng tính năng kinh tế đặc
Với giả thiết chỉ có hai loại tài sản nên tổng của cải trong nền kinh tế
bằng tổng khối lượng trái phiếu và tiền mặt cộng lại và bằng tổng lượng cung
trái phiếu (Bs) cộng với tổng lượng tiền cung ứng (Ms). Tổng lượng trái phiếu
12
mà mọi người muốn mua (Bd) và số tiền mà mọi người muốn giữ (Md) phải
bằng với tổng lượng cung trái phiếu và cung tiền do mọi người không thể mua
nhiều tài sản hơn số nguồn lực mà họ nắm giữ. Như vậy lượng cung trái phiếu
và tiền phải bằng với lượng cầu trái phiếu và tiền:
Bs + Ms = Bd + Md
Biến đổi Phương trình này ta có: Bs – Bd = Md – Ms
Từ phương trình trên chúng ta nhận thấy rằng nếu thị trường của tiền tệ
cân bằng, tức là Md = Ms, thì thị trường trái phiếu cũng phải cân bằng, tức là
Bs = Bd
Như vậy, việc phân tích khuôn mẫu ưa thích tính thanh khoản (Cung –
cầu tiền tệ) cũng tương đương với việc phân tích khuôn mẫu tiền vay (Cung –
cầu trái phiếu).
•Giả thiết thứ hai: Tiền mặt không mang lại lợi nhuận và trái phiếu có tỷ
suất lợi nhuận dự tính bằng với lãi suất thực. Như vậy, khi lãi suất tăng, tỷ
suất lợi nhuận dự tính của tiền giảm một cách đáng kể so với trái phiếu và
theo Lý thuyết lượng cầu tài sản – Lượng cầu của một tài sản tỷ lệ thuận với
tỷ suất sinh lời dự kiến của loại tài sản đó so với các tài sản khác, cầu về tiền
sẽ giảm xuống, cầu trái phiếu tăng lên.
Có thể giải thích giả thiết trên dựa vào khái niệm “Chi phí cơ hội”. Chi
phí cơ hội của một loại tài sản (trong trường hợp này là tiền) là khoản lợi
nhuận bị mất đi do không nắm giữ loại tài sản thay thế khác. Khi lãi suất tăng,
chi phí cơ hội của việc giữ tiền cũng tăng lên (khoản lợi nhuận bị mất đi do
không nắm giữ trái phiếu) và tiền trở nên kém hấp dẫn hơn, nhu cầu về tiền sẽ
kinh tế thường thay đổi đan xen => Lãi suất chịu sự tác động đồng thời của
nhiều yếu tố.
- Cung tiền và lãi suất không phải lúc nào cũng tỷ lệ nghịch với nhau
bởi sự gia tăng cung tiền ngoài việc tác động trực tiếp lên lãi suất còn có
14
những tác động trực tiếp lên các yếu tố khác như: thu nhập, mức giá và tỷ lệ
lạm phát dự tính. Các yếu tố này thay đổi do cung tiền tăng cũng có thể làm
lãi suất tăng lên.
Sau Keynes cũng có nhiều tác giả nghiên cứu về thuyết ưa chuộng tính
thanh khoản. Thuyết ưa chuộng thanh khoản đưa ra những lựa chọn xác định
bao nhiêu của cải được đầu tư vào các tài sản tài chính và quan tâm đến sự
phân bổ số của cải này vào tiền mặt và các tài sản tài chính thay thế khác. Hay
nói cách khác, ưa thích tính thanh khoản là một lý thuyết về việc mong muốn
giữ tài sản ngắn hạn hơn so với các tài sản dài hạn làm ảnh hưởng đến khả
năng thanh khoản của một DN.
1.1.3. Ý nghĩa của tính thanh khoản trong công ty
Một công ty không thể trả nợ đúng hạn và không thể tiếp tục giữ đúng
nghĩa vụ thanh toán của mình đối với các nhà cung cấp tín dụng, dịch vụ và
hàng hóa thì công ty đó có thể đang rơi vào tình trạng yếu kém hoặc bị phá
sản. Không có khả năng đáp ứng các khoản nợ ngắn hạn có thể ảnh hưởng
đến hoạt động của công ty và trong nhiều trường hợp có thể ảnh hưởng nhiều
đến uy tín của công ty.
Thiếu tiền mặt hoặc tài sản lưu động sẽ làm cho công ty bỏ lỡ những ưu
đãi được đưa ra bởi các nhà cung cấp. Mất ưu đãi như vậy có thể dẫn đến chi
phí cao hơn, do đó ảnh hưởng đến lợi nhuận của công ty.
Tất cả các bên liên quan đều quan tâm đến khả năng thanh toán của một
công ty. Các nhà cung cấp sẽ kiểm tra tính thanh khoản của công ty trước khi
•Thứ nhất, tỷ số thanh toán hiện hành thể hiện mối quan hệ giữa toàn bộ
tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn của DN và được tính như sau:
Khh = Tài sản ngắn hạn/Nợ ngắn hạn
Về mặt lý thuyết, nếu tỷ số thanh toán hiện hành càng cao thì khả năng
thanh toán của DN càng tốt. Tuy nhiên, trên thực tế, đôi lúc hàng tồn kho của
DN lớn, tỷ số thanh toán hiện thời cao nhưng chưa chắc tính thanh khoản của
16
DN tốt. Nếu như, trong điều kiện thị trường có những biến động xấu, hàng tồn
kho bị ứ đọng, kém phẩm chất làm cho hàng tồn kho khó hoán chuyển thành
tiền. Lúc này, DN khó có thể thanh toán được các khoản nợ đến hạn mặc dù tỷ
số thanh toán hiện thời cao. Vì thế, trong nhiều trường hợp, tỷ số thanh toán
hiện thời không phản ánh chính xác khả năng thanh toán của DN.
•Thứ hai, tỷ số khả năng thanh toán nhanh, tương tự như khả năng thanh
toán hiện hành nhưng tỷ số này loại bỏ phần tài sản tồn kho trên tử số. Vì đó
là bộ phận phải dự trữ thường xuyên cho kinh doanh mà giá trị của nó và thời
gian hoán chuyển thành tiền không chắc chắn. Cụ thể, tỷ số này được tính như
sau:
Knhanh = (TSNH – Hàng tồn kho)/Nợ ngắn hạn = (Tiền + ĐTNH + Nợ
phải thu)/Nợ ngắn hạn
Theo công thức trên, ta thấy trong tài sản ngắn hạn được dùng để thanh
toán nợ ngắn hạn của tỷ số thanh toán nhanh bao gồm các khoản nợ phải thu
nhưng không phải lúc nào DN cũng có thể thu hồi được và thu hồi đúng hạn
các khoản phải thu này. Khi đó, tỷ số khả năng thanh toán hiện hành sẽ không
phản ánh chính xác khả năng thanh toán của DN.
Hạn chế của hai chỉ tiêu này là dựa trên khái niệm thanh lý toàn bộ tài sản
ngắn hạn của công ty kể cả những tài sản khó hoán chuyển thành tiền để đáp
ứng tất cả các khoản nợ ngắn hạn. Trong một số trường hợp, chính hạn chế này
2,00
1,71
7. Kỳ chuyển đổi hàng tồn kho: (7) = (a)/(3)
160 ngày
80 ngày
8. Kỳ thu tiền khách hàng: (8) =(b)/(4)
86 ngày
50 ngày
9. Kỳ thanh toán cho nhà cung cấp:
70 ngày
70 ngày
(9) = (2)/(3)
Nguồn: Tác giả tổng hợp
Dựa vào số liệu trên cho thấy, DN A có tỷ số thanh toán hiện hành là
4,29 và tỷ số thanh toán nhanh là 2,00. Trong khi đó, DN B có tỷ số thanh
toán hiện hành là 2,86 và tỷ số thanh toán nhanh là 1,71. Như vậy, nếu chỉ dựa
vào khả năng thanh toán hiện hành và khả năng thanh toán nhanh thì khả năng
thanh toán của DN A là tốt hơn DN B. Nhưng đi sâu phân tích chúng, ta thấy:
DN A cần 86 ngày để thu hồi các khoản phải thu và mất 160 ngày để hàng tồn
kho quay hết 1 vòng. DN B cần 50 ngày để thu hồi các khoản phải thu và mất
80 ngày để hàng tồn kho quay hết 1 vòng.
Như vậy, trong ví dụ trên DN A là rất kém thanh khoản. Mặc dù, DN A
có tỷ số thanh toán hiện hành và tỷ số thanh toán nhanh rất cao. Vì các khoản
nợ phải trả của DN A đến nhanh hơn so với tốc độ chuyển đổi hàng tồn kho
và các khoản phải thu sang tiền mặt. Trong khi đó, DN A không thể thanh
toán các khoản nợ phải trả đến hạn mà không phải bằng tiền mặt. Lúc này,
DN B có thanh khoản tốt hơn DN A vì quá trình chuyển đổi của hàng tồn kho
và nợ phải thu nhanh hơn.