BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
NGUYỄN THỊ HƯƠNG SA
NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN
CẤU TRÚC VỐN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP
TRONG NHÓM NGÀNH SẢN XUẤT THỰC PHẨM,
ĐỒ UỐNG NIÊM YẾT TRÊN SÀN HSX
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 60.34.20
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Người hướng dẫn khoa học: TS. ĐOÀN GIA DŨNG
Đà Nẵng - Năm 2015
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu, kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực và
chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Hương Sa
MỤC LỤC
1.4.4. Đặc điểm riêng tài sản doanh nghiệp. (UNIQ)............................26
1.4.5. Lá chắn thuế (DTS)......................................................................27
1.4.6. Khả năng thanh toán ....................................................................27
1.4.7. Một số nhân tố vĩ mô ...................................................................27
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1.................................................................................28
CHƯƠNG 2. THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG
ĐẾN CẤU TRÚC VỐN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP THUỘC NHÓM
NGÀNH SẢN XUẤT THỰC PHẨM- ĐỒ UỐNG......................................29
2.1. TỔNG QUAN VỀ QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN NGÀNH SẢN XUẤT
THỰC PHẨM – ĐỒ UỐNG TẠI VIỆT NAM ...............................................29
2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN
CẤU TRÚC VỐN DOANH NGHIỆP.............................................................31
2.2.1. Cơ sở xây dựng mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến
cấu trúc vốn ......................................................................................................31
2.2.2. Đo lường các biến........................................................................35
2.2.3. Mô hình nghiên cứu.....................................................................35
2.2.4. Quy trình nghiên cứu ...................................................................38
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2.................................................................................41
CHƯƠNG 3. ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC VỐN CÁC DOANH NGHIỆP
SẢN XUẤT THỰC PHẨM – ĐỒ UỐNG TRÊN SÀN HSX......................42
3.1. ĐẶC ĐIỂM RIÊNG CỦA NGÀNH SẢN XUẤT THỰC PHẨM – ĐỒ
UỐNG ..............................................................................................................42
3.2. TIỀM NĂNG, THẾ MẠNH CỦA DOANH NGHIỆP NGÀNH SẢN
XUẤT THỰC PHẨM – ĐỒ UỐNG................................................................46
3.3. THỰC TRẠNG CẤU TRÚC VỐN DOANH NGHIỆP NGÀNH SẢN
XUẤT THỰC PHẨM – ĐỒ UỐNG................................................................48
3.3.1. Tình hình chung về kết quả hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp ...............................................................................................................48
Trang
Tóm tắt một số kết quả nghiên cứu về các nhân tố ảnh
22
bảng
2.1.
hưởng đến cấu trúc vốn doanh nghiệp
2.1.
Đo lường các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn
35
2.2.
Bảng mã hóa các biến
39
3.1.
Phân tích SWOT ngành sản xuất thực phẩm – đồ uống
46
3.2.
4.5.
Mô hình hồi quy theo phương pháp FEM
61
4.6.
Kết quả hồi quy theo mô hình FEM sau khi bớt biến
63
4.7.
Kết quả hồi quy theo phương pháp REM
64
4.8.
Kết quả hồi quy theo phương pháp REM sau khi bớt biến
65
4.9.
Kết quả kiểm định Hausman test
66
thực phẩm – đồ uống
3.3.
Tỷ lệ nợ bình quân các doanh nghiệpngành sản xuất thực
51
phẩm – đồ uống
3.4.
Cơ cấu nợ phải trả của doanh nghiệp sản xuất thực phẩm
– đồ uống
52
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế tạo ra những thay đổi nhanh chóng
trong nền kinh tế Việt Nam và ở bản thân trong các doanh nghiệp trong nước.
Sức ảnh hưởng của công ty nước ngoài, các công ty đa quốc gia ngày càng rõ
nét hơn và sâu rộng hơn. Các doanh nghiệp Việt Nam đòi hỏi cần có sự thích
nghi tương ứng với những thay đổi đang dần lớn để có được kết quả hoạt
động tốt và khả năng tăng trưởng bền vững.
Mặc khác, ở bất kỳ một doanh nghiệp nào khi hoạt động sản xuất kinh
doanh đều hướng đến mục tiêu cuối cùng là tối đa hóa giá trị doanh nghiệp.
Để đạt được mục tiêu này, các doanh nghiệp phải thực hiện nhiều biện pháp,
trong đó việc lựa chọn một cấu trúc vốn hợp lý là một trong những biện pháp
được niêm yết tại sở giao dịch chứng khoán tp. Hồ Chí Minh để xem xét các
nhân tố nào tác động và tác động như thế nào tới cấu trúc vốn của các công ty
này. Cùng với hy vọng có thể giúp các doanh nghiệp này xây dựng chính sách
tài trợ hợp lý, đảm bảo khả năng thanh toán và tận dụng hiệu quả tích cực của
đòn bẩy nợ nâng cao giá trị doanh nghiệp. Chính vì vậy, tôi chọn đề tài
"Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp
trong nhóm ngành sản xuất thực phẩm – đồ uống niêm yết trên sàn HSX" để
làm đề tài nghiên cứu.
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận cơ bản về cấu trúc vốn và các nhân tố
ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp
- Phân tích và đánh giá thực trạng cấu trúc vốn của các doanh nghiệp
ngành sản xuất thực phẩm – đồ uống niêm yết trên sàn chứng khoán Thành
phố Hồ Chí Minh HSX.
- Trên cơ sở kế thừa những kết quả nghiên cứu về lý thuyết và thực tiễn
trước đây, đề tài nêu lên được đặc trưng của cấu trúc vốn, qua đó lựa chọn và
3
phân tích các nhân tố tác động đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp sản
xuất thực phẩm – đồ uống niêm yết trên sàn chứng khoán Thành phố Hồ Chí
Minh HSX.
- Kiểm định sự tác động của các nhân tố đến cấu trúc vốn của các doanh
nghiệp và rút ra các kết luận có cơ sở khoa học để ứng dụng vào việc điều
chỉnh cấu trúc vốn giúp các nhà quản trị doanh nghiệp dễ dàng hơn trong quá
trình hoạch định chính sách tài trợ hợp lý nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh
của doanh nghiệp
3. Câu hỏi nghiên cứu
Để đạt được các mục tiêu trên, đề tài đặt ra các câu hỏi nghiên cứu sau:
chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh (HSX)
+ Phương pháp định lượng: Từ bộ dữ liệu thu thập được của các doanh
nghiệp ngành sản xuất thực phẩm - đồ uống niêm yết trên sàn chứng khoán
thành phố Hồ Chí Minh (HSX), tác giả sử dụng phần mềm eview để xác định
hệ số hồi quy, trên cơ sở đó xây dựng phương trình các nhân tố tác động cấu
trúc vốn. Từ đó, kiểm định sự tác động của các nhân tố đến cấu trúc vốn của
các doanh nghiệp. Khi quá trình kiểm định hoàn tất, đề tài tiến hành phân tích
kết quả và đưa ra một số kiến nghị phù hợp với hiện trạng của ngành sản xuất
thực phẩm - đồ uống niêm yết trên sàn chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh
(HSX)
+ Tài liệu sử dụng trong luận văn gồm tài liệu thu thập từ báo cáo tài
chính của 19 doanh nghiệp ngành sản xuất thực phẩm - đồ uống niêm yết trên
sàn chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh (HSX); các nguồn khác được thu
thập từ giáo trình và các nghiên cứu đã được công bố trên các phương tiện
thông tin đại chúng.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Hệ thống hóa các lý thuyết về cấu trúc vốn, kết quả nghiên cứu đặc trưng
cấu trúc vốn và các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp.
5
- Phân tích đặc điểm cấu trúc vốn và xác định các nhân tố ảnh hưởng đến
cấu trúc vốn của các doanh nghiệp ngành sản xuất thực phẩm - đồ uống niêm
yết trên sàn chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh (HSX). Từ đó, đề xuất một
số khuyến nghị hoàn thiện chính sách tài trợ nhằm xác định cấu trúc vốn hợp
lý cho các doanh nghiệp ngành sản xuất thực phẩm – đồ uống Việt Nam.
7. Kết cấu luận văn
Chương 1: Cơ sở lý thuyết cấu trúc vốn doanh nghiệp
Chương 2: Thiết kế nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn
tổng nguồn vốn dài hạn được dùng để tài trợ cho quyết định đầu tư của một
doanh nghiệp.
1.1.2. Thành phần cấu trúc vốn
a. Nợ phải trả
Nợ phải trả là nguồn vốn tài trợ từ bên ngoài doanh nghiệp và doanh
nghiệp phải thanh toán các khoản vay theo thời hạn cam kết và đồng thời trả
7
tiền lãi vay theo lãi suất thỏa thuận. Bao gồm các khoản vay (ngắn hạn, dài
hạn), phát hành trái phiếu, các khoản thanh toán cho cán bộ công nhân viên,
phải trả nộp ngân sách nhà nước, phải trả nhà cung cấp và một số khoản phải
trả khác
Nợ phải trả của doanh nghiệp bao gồm: Nợ dài hạn và nợ ngắn hạn.
Như đã trình bày ở trên thì cấu trúc vốn là sự kết hợp giữa nợ và vốn cổ
phần trong tổng nguồn vốn dài hạn được dùng để tài trợ cho quyết định đầu tư
của một doanh nghiệp. Do đó, ở đây tác giả chỉ đề cập đến nợ dài hạn của
doanh nghiệp.
Nợ dài hạn: Là các khoản nợ mà thời gian trả nợ trên 1 năm. Nợ dài hạn
bao gồm các khoản như vay dài hạn cho đầu tư phát triển, nợ dài hạn phải trả
- các khoản vốn vay từ các tổ chức tín dụng bên ngoài, từ phát hành trái phiếu
vay nợ của dân chúng…Vốn vay dài hạn có chi phí sử dụng vốn cao hơn vốn
vay ngắn hạn nhưng doanh nghiệp không phải chịu áp lực thanh toán trong
ngắn hạn.
b. Vốn chủ sở hữu
Vốn chủ sở hữu là số tiền do các nhà đầu tư, các sáng lập viên đóng góp
hoặc được hình thành từ kết quả hoạt động. Đây không phải là một khoản nợ
và do đó công ty không có trách nhiệm phải thanh toán. Với những loại hình
công ty khác nhau, vốn chủ sở hữu được hình thành khác nhau và gồm 3 loại
phải lo trả nợ, bao gồm nguồn vốn do các bên đóng góp khi thành lập doanh
nghiệp, nguồn vốn bổ sung được trích từ kết quả hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp và vốn do phát hành cổ phiếu. Người chủ sở hữu
không được đòi lại vốn của mình đã đầu tư vào doanh nghiệp, khi cần thiết
hoặc muốn chuyển đổi đầu tư họ có thể bán lại cổ phiếu trên thị trường chứng
khoán. Người chủ sở hữu vốn kỳ vọng vào lợi ích từ kết quả hoạt động của
doanh nghiệp dưới hình thức cổ tức và sự gia tăng giá trị của cổ phiếu.
Sự khác nhau cơ bản giữa nợ phải trả và vốn chủ sở hữu chính là trách
9
nhiệm pháp lý của doanh nghiệp khi sử dụng. Đối với vốn vay thì doanh
nghiệp phải thực hiện cam kết trả nợ bao gồm nợ gốc và lãi cho việc sử dụng
vốn trong một khoản thời gian nhất định và việc thanh toán này không phụ
thuộc vào kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Tính chất này tạo ra áp lực
thanh toán cũng như rủi ro nhất định cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, việc sử
dụng vốn vay sẽ mang lại lợi ích cho doanh nghiệp vì chi phí sử dụng vốn vay
thấp hơn so với vốn chủ sở hữu và doanh nghiệp có thể tận dụng hiệu ứng của
đòn bẩy nợ. Đối với nguồn vốn chủ sở hữu thì doanh nghiệp không phải lo trả
nợ nhưng theo tính toán của nhiều nhà tài chính thì chi phí sủ dụng vốn là cao
và ảnh hưởng đến việc điều hành của doanh nghiệp.
1.1.3. Các chỉ tiêu phản ánh cấu trúc vốn
Cấu trúc vốn thể hiện chính sách tài trợ trong dài hạn của doanh nghiệp
nên khi phân tích cấu trúc vốn cần xem xét khả năng sử dụng nguồn vốn tự có
của doanh nghiệp hay phải sử dụng nguồn vốn từ bên ngoài doanh nghiệp.
Việc lựa chọn chỉ tiêu cấu trúc vốn tùy thuộc vào ý nghĩa mà chỉ tiêu đó mang
lại cho người sử dụng và phù hợp với mục tiêu cần xem xét. Một số chỉ tiêu
sử dụng phổ biến :
Tỷ suất nợ dài hạn
100%
Tỷ suất nợ dài hạn trên vốn chủ sở hữu thể hiện mức độ đảm bảo nợ dài
hạn bởi vốn chủ sở hữu.
1.2. CÁC LÝ THUYẾT VỀ CẤU TRÚC VỐN DOANH NGHIỆP
1.2.1. Lý thuyết cấu trúc vốn tối ưu
Lý thuyết này cho rằng có một cấu trúc vốn tối ưu mà ở đó ban quản trị
doanh nghiệp có thể gia tăng giá trị của doanh nghiệp bằng cách sử dụng tỷ số
đòn bẩy phù hợp. Theo cách tiếp cận này, doanh nghiệp trước tiên có thể hạ
thấp chi phí sử dụng vốn thông qua việc gia tăng sử dụng nợ bởi vì chi phí sử
dụng nợ thấp hơn do các khoản tiết kiệm thuế. Tuy nhiên, khi tỷ số nợ tăng
thì rủi ro cũng gia tăng, do đó, nhà đầu tư sẽ gia tăng lợi nhuận đòi hỏi. Mặc
dù vậy, sự gia tăng lợi nhuận đòi hỏi này lúc đầu vẫn không hoàn toàn xóa
sạch lợi ích của việc sử dụng nợ như là một nguồn vốn rẻ hơn cho đến khi nào
nhà đầu tư tiếp tục gia tăng lợi nhuận đòi hỏi khiến cho lợi ích của việc sử
dụng nợ không còn nữa. Do đó, lý thuyết cấu trúc vốn tối ưu, còn gọi là cách
tiếp cận truyền thống ngầm hiểu rằng: chí phí sử dụng vốn phụ thuộc vào cấu
trúc vốn của doanh nghiệp và có một cấu trúc vốn tối ưu. Do cấu trúc vốn có
ảnh hưởng đến lợi nhuận dành cho cổ đông nên doanh nghiệp cần thiết hoạch
định cấu trúc vốn mục tiêu – là sự kết hợp giữa nợ, cổ phiếu ưu đãi và cổ
phiếu thường trong tổng nguồn vốn của doanh nghiệp theo mục tiêu đề ra.
Hoạch định chính sách cấu trúc vốn có liên quan đến việc đánh đổi giữa
lợi nhuận và rủi ro, vì sử dụng nhiều nợ làm gia tăng rủi ro doanh nghiệp,
nhưng tỷ lệ nợ cao nói chung đưa đến lợi nhuận kỳ vọng cao. Rủi ro gia tăng
có khuynh hướng làm hạ thấp giá cổ phiếu, trong khi lợi nhuận cao lại có
khuynh hướng gia tăng giá cổ phiếu doanh nghiệp. Do đó, quyết định cấu trúc
vốn tối ưu là quyết định cấu trúc vốn sao cho cân đối được giữa rủi ro và lợi
D : tổng dư nợ.
VCSH : Vốn chủ sở hữu.
rd : Lãi suất tiền vay hay tỷ suất sinh lợi của nợ.
re : Chi phí sử dụng vốn của chủ sở hữu.
Như vậy ta thấy rằng khi doanh nghiệp gia tăng sử dụng nợ hay tăng tỷ
số đòn bẩy tài chính thì tỷ suất lợi nhuận dành cho chủ sở hữu tăng lên trong
khi tỷ suất lợi nhuận nói chung và tỷ suất lợi nhuận giành cho chủ nợ không
thay đổi. Vì tỷ suất lợi nhuận nói chung không đổi nên giá trị của doanh
nghiệp có thể xem như không bị ảnh hưởng bởi sự thay đổi cấu trúc
12
Nhược điểm của lý thuyết này ngoài những giả định thiếu thực tế (thị
trường hoàn hảo, không có thuế…) ngoài ra còn có một nhược điểm quan
trọng khác là giả định lãi suất tiền vay không đổi khi cấu trúc vốn thay đổi.
Trong thực tế, khi nợ tăng cả chủ nợ lẫn chủ sở hữu đều cảm thấy mức độ rủi
ro gia tăng nên họ sẽ yêu cầu giá phải trả cho khoản tiền vay tăng dần theo
mức độ rủi ro gia tăng.
1.2.3. Lý thuyết M&M
Trái với quan điểm truyền thống, Modiligani và Miler (1958) đã tìm hiểu
xem chi phí vốn tăng hay giảm khi một doanh nghiệp tăng hay giảm vay
mượn.
Để chứng minh một lý thuyết khả thi, Modiligani và Miler (M&M) đã
đưa ra một số giả định đơn giản hóa rất phổ biến trong lý thuyết tài chính: họ
giả định là thị tường vốn hoàn hảo, vì vậy sẽ không có các chi phí giao dịch
và tỷ lệ vay giống như tỷ lệ cho vay bằng với tỷ lệ vay miễn phí; việc đánh
thuế được bỏ qua và nguy cơ được tính hoàn toàn bằng tính không ổn định
của các luồng tiền.
Nếu thị trường vốn là hoàn hảo, M&M tranh luận rằng thế thì các doanh
Năm 1963, M&M đưa ra một nghiên cứu tiếp theo với việc loại bỏ giả
thiết về thuế thu nhập doanh nghiệp. Theo M&M, với thuế thu nhập doanh
nghiệp, việc sử dụng nợ sẽ làm tăng giá trị của doanh nghiệp. Vì chi phí lãi
vay là chi phí hợp lý được khấu trừ khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp, do
đó mà một phần thu nhập của doanh nghiệp có sử dụng nợ được chuyển cho
các nhà đầu tư theo phương trình: Vg = Vn + T.D: giá trị của doanh nghiệp sử
dụng nợ bằng giá trị của doanh nghiệp không sử dụng nợ cộng với khoản lợi
nhuận từ việc sử dụng nợ. Trong đó, D là tổng nợ sử dụng, T là thuế suất thuế
thu nhập doanh nghiệp, T.D là khoản lợi từ việc sử dụng nợ.
Như vậy, theo mô hình thuế M&M (1963) cấu trúc vốn có liên quan đến
giá trị của doanh nghiệp. Giá trị doanh nghiệp sử dụng nợ sẽ cao hơn giá trị
14
của doanh nghiệp không sử dụng nợ một giá trị là T.D. Như vậy việc sử dụng
nợ hay đòn bẩy tài chính làm gia tăng giá trị của doanh nghiệp.
1.2.4. Lý thuyết trật tự phân hạng (Pecking order theory)
Thuyết trật tự phân hạng thị trường được nghiên cứu khởi đầu bởi Myers
và Majluf (1984), dự đoán không có cơ cấu nợ trên vốn cổ phần mục tiêu rõ
ràng. Theo lý thuyết này, doanh nghiệp nên phát hành nợ trước khi phát hành
cổ phiếu nếu nguồn lực tài chính bên trong không đủ để tài trợ cho dự án.
Điều này có nghĩa là:
- Về lâu dài, các doanh nghiệp nên sử dụng nguồn tài chính bên trong vì
nguồn vốn này sẽ được tăng lên mà không phải mang đến dấu hiệu xấu nào
cho doanh nghiệp là giá cổ phiếu có thể giảm.
- Nếu cần thiết phải có nguồn lực tài chính từ bên ngoài, doanh nghiệp
nên phát hành nợ trước và phát hành vốn cổ phần là phương án cuối cùng.
Thuyết trật tự phân hạng trên giải thích lý do tại sao các doanh nghiệp có
lợi nhuận nhiều thường lại vay nợ ít, điều đó không phải vì mục tiêu tỉ lệ vay
có chi phí trong thực tế nên có sự trì hoãn trong việc điều chỉnh cấu trúc vốn
về điều kiện tối ưu. Điều này dẫn đến sự khác biệt ngẫu nhiên giữa tỷ lệ nợ
thực tế của các doanh nghiệp có cùng cấu trúc vốn mục tiêu.
Lý thuyết đánh đổi đã giải thích thành công nhiều sự khác biệt trong cấu
trúc vốn của các lĩnh vực công nghiệp. Ví dụ như các doanh nghiệp có công
nghệ kỹ thuật phát triển cao, có tài sản nhiều rủi ro và hầu hết là tài sản vô
hình thì bình thường sử dụng ít nợ. Ngược lại, doanh nghiệp thuộc ngành
hàng không nói chung vay nợ nhiều hơn vì tài sản của nó đa số là tài sản hữu
hình có mức độ an toàn cao hơn. Theo lý thuyết này, những doanh nghiệp
không vay nợ sẽ phát hành cổ phiếu, giữ lại cổ tức không chia, bán tài sản để
nâng nguồn tiền mặt để tái cân bằng cấu trúc vốn.
Ngoài ra, cũng có vài điều mà cấu trúc vốn không giải thích được:
- Thứ nhất là không giải thích tại sao một số doanh nghiệp thành công
16
nhất lại sử dụng ít nợ, chủ yếu sử dụng vốn chủ sở hữu. Trong khi lợi nhuận
các doanh nghiệp này rất lớn, mà theo lý thuyết này, lợi nhuận cao nghĩa là
doanh nghiệp có khả năng vay mượn cao hơn - vì nợ được xem là con số nhỏ
trong giá trị sổ sách tổng tài sản và doanh nghiệp không vay mượn hơn giá trị
thị trường của doanh nghiệp, lợi nhuận cao nghĩa là giá trị thị trường cao do
đó khuyến khích vay mượn - và có nhiều khoản thu từ lá chắn thuế hơn, do
đó doanh nghiệp sẽ quyết định vay nhiều hơn.
- Thứ hai là, các doanh nghiệp hiếm khi thay đổi trong cấu trúc vốn vì
thuế. Mackie-Mason tìm ra rằng những doanh nghiệp chi trả thuế thì sử dụng
nợ nhiều hơn các doanh nghiệp không chi trả thuế, chứng tỏ thuế là yếu tố
ảnh hưởng lựa chọn cách huy động tài chính.
1.2.6. Lý thuyết tín hiệu
Stephen Ross (1977) trình bày một lý thuyết cấu trúc vốn dựa trên nền
tiền thu nhập của doanh nghiệp, không phải luôn luôn nhất trí với nhau trong
đường lối hoạt động của doanh nghiệp.
1.3. TÓM TẮT MỘT SỐ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM VỀ CẤU
TRÚC VỐN
Bên cạnh những khái niệm và lý thuyết về cấu trúc vốn, nhiều nghiên
cứu thực nghiệm liên quan đã được tiến hành, từ đó chỉ ra những nhân tố ảnh
huởng đến cấu trúc vốn của của doanh nghiệp như: rủi ro kinh doanh, tỷ trọng
tài sản cố định hữu hình, tốc độ tăng trưởng, khả năng thanh toán, lợi nhuận,
quy mô doanh nghiệp …
Một trong những nghiên cứu đầu tiên ở Anh về cấu trúc vốn là của
Marsh (1982). Theo nghiên cứu của ông thì một số nhân tố chính quyết định
cấu trúc vốn của doanh nghiệp bao gồm rủi ro kinh doanh, quy mô doanh
nghiệp, cơ cấu tài sản. Một nghiên cứu khác ở Anh được nghiên cứu bởi
Bennett và Donnelly (1993) thực hiện theo cách thức được đề xuất bởi lý
thuyết cấu trúc vốn tối ưu của Modilligani va Miler (1958). Trong nghiên cứu
18
của Bennett và Donnelly (1993) sử dụng cả tỷ suất nợ ngắn hạn và tỷ suất nợ
dài hạn để phân tích mối quan hệ của cấu trúc vốn với quy mô doanh nghiệp,
khả năng sinh lời và cấu trúc tài sản và đặc trưng ngành. Kết quả nghiên cứu
của họ cho thấy rằng quy mô doanh nghiệp và khả năng sinh lời có ý nghĩa
đáng kể với tỷ suất nợ dài hạn nhưng lại không có ý nghĩa với tỷ suất nợ ngắn
hạn. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng nhân tố đặc trưng ngành cũng ảnh hưởng
đáng kể đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp ở Anh.
Mở rộng phạm vi nghiên cứu, Rajan và Zingales (1995) đã nghiên cứu
các nhân tố quyết định cấu trúc vốn ở các nước G-7. Dữ liệu thu thập từ hơn
8000 doanh nghiệp phi tài chính ở các nước G-7 trong khoảng thời gian từ
năm 1987 đến 1991. Trong nghiên cứu này, họ cho rằng triển vọng tăng